Close Menu
Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest YouTube
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc
    Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    • PHẬT HỌC
      • Đức Phật
        • Thánh đản
        • Thành đạo
      • Phật học phổ thông
      • Nghiên cứu
      • Giảng luận
      • Pháp thoại
      • Ứng dụng
      • Trích dẫn Phật pháp
    • KINH – LUẬT – LUẬN
      • Kinh
        • Giới thiệu kinh
        • Giảng giải
      • Luật
        • Luật học
      • Luận
      • Kim Cang thừa
    • PHẬT GIÁO VIỆT NAM
      • Lịch sử
      • Nhân vật
        • Chư Tôn đức
        • Cư sĩ hữu công
        • Tiểu sử
      • Sự kiện
      • Tưởng niệm
    • CHUYÊN ĐỀ
      • Dân tộc
      • Giáo dục
      • Khoa học
      • Xã hội
      • Triết học
      • Biên khảo
      • Phật giáo thế giới
      • Nhìn ra thế giới
      • Chuyên mục khác
    • TUỔI TRẺ
      • Đời sống
      • Hành trang
      • Gia đình Phật tử
    • VĂN HÓA
      • Xuân Vạn Hạnh
      • Quán Thế Âm
      • Kiết hạ
      • Vu Lan
      • Nghi lễ – Phong tục
      • Mỹ thuật – Kiến trúc
      • Âm nhạc
    • VĂN HỌC
      • Văn
      • Thơ
      • Truyện
      • Tùy bút
      • Phê bình
      • Giới thiệu – Điểm sách
    • PHẬT SỰ
      • Tin tức
    • THƯ VIỆN
      • Báo chí
        • Kỷ yếu
        • Tạp chí
        • Tập san
      • Sách
      • Tham luận
      • Luận văn
      • Tư liệu
      • Media
        • Audio – MP3
        • Video Clips
      • Hình ảnh
    • NGOẠI VĂN
      • General Buddhist Studies
      • Buddhism with Youth
      • Buddhist Education
      • Buddhist History
      • Buddhist Culture
      • Buddhist Literature
      • Buddhist Sociology
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Trang chủ » Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 4: Về xã hội và quan hệ nhân sinh

    Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 4: Về xã hội và quan hệ nhân sinh

    15/07/2021108 Mins Read
    Dan vao tue giac
    Share
    Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

    Nội dung

    Toggle
        • PHẦN II: PHÁP
    • CHƯƠNG 4
    • VỀ XÃ HỘI VÀ QUAN HỆ NHÂN SINH
    • THƯỢNG TỌA BỘ
      • Thuật trị nước
        • Th.29 Các nguyên tắc trị quốc an bang
        • Th.30 Lãnh đạo hủ bại–những hậu quả tai hại cho xã hội và thiên nhiên
        • Th.31 Phận sự Hiền Thánh và phẩm tánh đạo đức của Chuyển luân vương
      • Hòa bình, bạo lực, và tội ác
        • Th.32 Nghèo khổ và bất bình đẳng tài sản là nguyên nhân xã hội bất an và suy đồi đạo đức
        • Th.33 Trách nhiệm quốc gia bảo đảm kinh tế thịnh vượng cho quốc dân
        • Th.34 Nguyên nhân mâu thuẫn xã hội và gia đình
        • Th.35 Chiến tranh, hòa bình và hòa giải
        • Th.36 Sức mạnh của an nhẫn và vô sân
      • Tài sản và hoạt động kinh tế
        • Th.37 Tham lam giàu có đem lại tai hại
        • Th.38 Chớ nên mù một mắt
        • Th.39 Sống hạnh phúc do cần mẫn, chân chánh bảo hộ sở hữu, đồng bạn với người tốt, và sử dụng tiền bạc khôn ngoan
        • Th.40 Sống đạo đức – không lãng phí tài nguyên
        • Th.41 Bố thí và kính trọng dẫn đến gia đình và xã hội hạnh phúc
        • Th.42 Bốn khía cạnh đáng tán dương của việc làm ra và sử dụng tài sản
        • Th.43 Sự hài lòng là tài sản
      • Bình đẳng xã hội
        • Th.44 Không có sự cao quý chỉ vì tầng lớp xã hội; đức hạnh mới đáng kể
        • Th.45 Mọi người thuộc mọi tầng lớp đều bình đẳng về khả năng; những phân cách xã hội chỉ là quy ước
      • Bình đẳng nam nữ
        • Th.46 Khéo léo đề cao vị thế người nữ
        • Th.47 Năng lực trí tuệ và giác ngộ bình đẳng của người nữ
        • Th.48 Thị hiện thần thông của người nữ
      • Quan hệ nhân sinh tốt đẹp
        • Th.49 Làm thế nào để có mối quan hệ xã hội hài hòa với sáu hạng người
      • Cha mẹ và con cái
        • Th.50 Đền đáp công ơn cha mẹ
      • Vợ chồng
        • Th.51 Các phẩm tánh đạo đức của vợ chồng
        • Th.52 Cặp vợ chồng đều có giới bằng nhau sẽ sống chung trong đời sau
        • Th.53 Vợ là bạn tối thượng
      • Bằng hữu
        • Th.54 Thiện hữu và ác hữu
    • ĐẠI THỪA
      • Thuật trị nước
        • M.23 Bậc minh quân
        • M.24 Quân vương đại lượng và hữu ích
        • M.25 Đại nguyện của Thắng Man phu nhân
      • Hòa bình, bạo loạn và tội ác
        • M.26 Bồ-tát phụng sự hòa bình
        • M.27 Xử sự khó hành xử
        • L.  28 Chống lại án tử hình
        • M.29 Đôi khi, Bồ-tát phải hối tiếc đã dùng bạo lực cứu người
      • Sung túc và Kinh tế
        • M.30 Tri túc và bố thí
        • M.31 Nguy hiểm tham chấp danh, sắc và tài
      • Bình đẳng nam nữ
        • M.32 Thành kiến giới tính
        • M.33 Nữ nhân được thọ ký thành Phật
      • Thờ kính và báo ơn Cha mẹ
        • M.34 Hiếu dưỡng song thân, đặc biệt mẫu thân
        • M.35 Trợ giúp song thân lúc lâm chung
      • Hồi hướng công đức cho những người thân đã mất
        • M.36 Bố thí tạo phước cho cha mẹ và tổ tiên
        • M.37 Giới Bồ-tát chuyển hóa thiện nghiệp
        • M.38 Bố thí tạo phước cho thân nhân sanh làm ngạ quỷ
    • KIM CANG THỪA
      • Giáo huấn vương đạo nhân ái
        • V.12 Long Thọ (Nāgārjuna) luận về vương pháp
      • Suy tưởng ân đức của mẹ
        • V.13 Tu tập từ bi bằng suy tưởng ân đức của mẹ trong đời này và các đời trước

    Bình đẳng nam nữ

    Trong phần này, chúng tôi chỉ trích các đoạn Kinh cho thấy thái độ ưu ái đối với người nữ. Tuy nhiên, cũng có những đoạn khác cho thấy thái độ phân biệt đối xử thịnh hành của thời đại. Những thái độ dường như mâu thuẫn như vậy được biểu hiện trong một số trường hợp trong văn học có thể là do sự biên tập qua nhiều thế kỷ. Một số thái độ Bà-la-môn giáo đã ngự trị trong xã hội Ấn-độ sơ kỳ có thể đã tìm được cách len lỏi vào văn học Thánh điển Phật giáo, mặc dù trong các đoạn khác, như các trường hợp được nêu ra dưới đây, cho thấy một thái độ cải cách rõ ràng của đức Phật về vấn đề giới tính.

    Th.46 Khéo léo đề cao vị thế người nữ

    Trong đoạn này, đức Phật làm giảm giá trị ý niệm về sự yếu thế của phái nữ trong xã hội đương thời của mình, dù vẫn thiện xảo để thu nhiếp một số giá trị hiện có và tránh một thách thức trực tiếp.

    Bấy giờ, Pasenadi vua nước Kosala đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên.

    Khi ấy một người đến gần Pasenadi vua nước Kosala và nói nhỏ với vua rằng hoàng hậu Mallikā vừa sinh hạ một người con gái. Nghe vậy, Pasenadi vua nước Kosala tỏ vẻ không hoan hỷ.

    Thế Tôn, biết vua Pasenadi nước Kosala không hoan hỷ, bèn nói lên bài kệ này:

    Có nữ nhân hơn nam, bởi có trí và giới, biết kính trọng mẹ chồng, và chung thủy với chồng.

    Người nữ ấy sanh con, hoặc dũng mãnh, quốc chủ, con người vợ hiền ấy, được dưỡng dục thành vua.

    Dhītā Sutta: Saṃyutta-nikāya I.86 <194>, dịch Anh P.D.P.

    Th.47 Năng lực trí tuệ và giác ngộ bình đẳng của người nữ

    Trong đoạn này, Māra, một ác thần được dựng lên đại biểu cho quan niệm sai lầm đã chi phối nhận thức xã hội về phụ nữ trong thời đại Phật giáo xuất hiện. Khái niệm ‘trí tuệ hai ngón’ được sử dụng để nói rằng phụ nữ có rất ít trí thông minh. Truyền thống chú giải giải thích cụm từ này theo hai cách khác nhau. Theo chú giải Saṃyutta-nikāya, ý niệm chung là sự hiểu biết của phụ nữ bị giới hạn trong việc sử dụng hai ngón tay trong dệt chỉ bằng bông vải. Theo chú giải của Therīgāthā, thì mặc dù phụ nữ nấu cơm từ bảy đến tám tuổi, để biết cơm đã chín chưa, họ phải múc cơm bằng một cái thìa và ấn nó bằng hai ngón tay để biết xem nó chín chưa. Một thời Thế Tôn đang trú trong vườn của ông Anāthapiṇḍika thành Sāvatthī. Bấy giờ tỳ-kheo-ni Somā, vào buổi sáng, khoác y, cầm bát, đi vào Sāvatthī khất thực. Sau khi khất thực và ăn xong, tỳ-kheo-ni đi đến rừng Andha, và ngồi dưới một gốc cây độc cư tĩnh niệm. Khi ấy, Ác ma muốn khiến tỳ-kheo-ni Somā kinh sợ…, liền đi đến chỗ vị ấy và nói lên bài kệ này:

    Nơi Thánh nhân đi đến, chỗ đến khó đi đến, Người nữ tuệ hai ngón, không thể nào đạt đến.

    Tỳ-kheo-ni Somā nghĩ thầm, ‘Ai đã nói bài kệ này, người hay quỷ thần?’ Rồi tỳ-kheo-ni Somā lại nghĩ: ‘Ðây là Ác ma muốn khiến ta kinh sợ, muốn ta từ bỏ độc cư, nên đã nói bài kệ đó.’

    Và tỳ-kheo-ni Somā biết được đây là Ác ma, liền trả lời bằng bài kệ này:

    Nữ tánh gì chướng ngại, khi tâm khéo định tĩnh, với trí tuệ hiện hành, chân chánh quán sát pháp?

    Ác ma, hợp cho ngươi, với ai hay nghĩ tưởng, ‘ta nam’ hay ‘ta nữ’, hoặc nghĩ tưởng tương tợ.

    Ác ma nghĩ rằng: ‘Tỳ-kheo-ni Somā đã biết ta’, nên ưu sầu, thất vọng, liền biến mất khỏi chỗ ấy.

    Somā Sutta: Saṃyutta-nikāya I.129 <283–284>, dịch Anh P.D.P.

    Th.48 Thị hiện thần thông của người nữ

    Đoạn này liên quan đến Mahā-pajāpatī Gotamī, di mẫu của đức Phật, và là người đã thỉnh cầu Phật hứa khả cho người nữ xuất gia thành tỳ-kheo-ni (xem *Th.220). Sau khi thành tỳ-kheo-ni đầu tiên, bà tiếp tục tu tập và chứng đắc quả A-la- hán. Ở đây, đức Phật khuyên bà, bấy giờ đã 120 tuổi, hiện thần thông để xua tan những nghi ngờ của mọi người về khả năng của nữ giới. Các phần khác của đoạn văn, không được nêu ra ở đây, đề cập đến nhiều thị hiện như ý thần thông khác của bà.

    (Gotamī:) ‘(Niết-bàn) Trước giờ chưa từng thấy, bởi tôn sư ngoại đạo, đồng nữ mới bảy tuổi, khéo biết đạo lộ này…’ (Phật:) ‘Gotamī, hãy thị hiện thần thông, để đoạn trừ tà kiến, cho những ai hôn trầm, hoài nghi pháp hiện quán.

    Quỳ lạy đấng Đẳng giác, rồi bay lên không trung, nghe theo lời Phật dạy, bà hiện nhiều thần thông.

    Một thân thành nhiều thân, nhiều thân biến thành một, hoặc hiện hoặc ẩn hình, xuyên tường, xuyên vách núi.

    Tự tại đi xuyên suốt, hoặc lặn vào trong đất, hoặc đi trên mặt nước, như trên đất, chẳng chìm.

    Ngồi tư thế kiết-già, bay lên không như chim; tự tại biến hiện thân, cho đến Phạm thiên giới.

    Lấy Tu-di làm cán, đại địa làm tán lọng, lộn ngược dưới lên trên, cầm đi trong hư không.

    Khiến thế giới bốc khói, như sáu mặt trời mọc, trùm thế giới trong lưới, như vào thời kiếp hoại.

    Gotamī Apadāna vv.66 and 79–85: Apadāna 535–536, dịch Anh P.D.P.

    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17
    Dẫn vào tuệ giác Phật Phật điển phổ thông
    Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
    Previous ArticleDaisetz Teitaro Suzuki | Trúc Thiên dịch: Thuật trừng tâm và khai phóng nhân sinh
    Next Article Thích Phước An: Trần Thái Tông và cuộc lên đường tìm kiếm một quê hương vĩnh cửu

    Xem thêm

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Thích Nhuận Châu: Đức Phật đản sanh qua Phật Sở Hành Tán của Mã Minh

    26/05/2026

    Thích Chúc Xuân: Đức Phật ra đời: Thắp sáng An lạc, Bình đẳng và Hòa bình

    21/05/2026
    Add A Comment
    Leave A Reply Cancel Reply

    Bài mới

    Lãng Thanh: Nguyện cầu Phật lực từ bi

    21/06/2026

    Thích Chúc Xuân: Tỉnh thức trước vô thường

    18/06/2026

    GHPGVNTNHK Cáo bạch: Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Thuận viên tịch

    18/06/2026

    Uyên Nguyên: Người đã đi rồi. Núi còn đây…

    15/06/2026

    Đạo Sinh: (LUẬN CÂU-XÁ) Chương 8: Phân biệt định [Phần 27]

    02/06/2026

    Nguyệt san Chánh Pháp số 175 | tháng 6.2026

    02/06/2026

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Paul Dahlke | Đỗ Kim Thêm dịch: Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 

    29/05/2026

    Lãng Thanh: Tháng năm hoa tràn đồng

    28/05/2026

    Vĩnh Hảo: Chọn bạn

    28/05/2026
    Mạng xã hội
    • Facebook
    • Twitter
    • Pinterest
    • Instagram
    • YouTube
    • Soundcloud
    Website Phật giáo

    Hội Đồng Hoằng Pháp | GHPGVNTN

    Phật Giáo Úc Châu

    Viên Giác Pagoda

    Quảng Ðức Homepage

    Thư Viện Hoa Sen

    Làng Mai

    Hoa Vô Ưu

    Hương Tích Phật Việt

    Đạo Hy

    Chung Huong Institute

    GÐPTVN Trên Thế Giới

    GÐPT Việt Nam (Quốc nội)

    Sen Trắng | BHD GĐPTVN tại Hoa Kỳ

    Copyright © 2026 | Phật Việt tùng thư
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc

    Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.