TRẦN TRUNG ĐẠO: Dịch thơ là một thách thức, nhất là thơ của những thiền sư, triết gia, những người vốn không phải là thi sĩ mà chỉ mượn chiếc thuyền thi ca để chuyển tải tư tưởng sâu xa của mình. Một câu hay thậm chí một chữ trong một bài thơ có thể giải thích bằng một tiểu luận dài. Nhưng dù khó bao nhiêu, giới thiệu thơ Việt Nam sang Anh Ngữ vẫn là một điều cần thiết. Nếu bản dịch đầu tiên chưa hoàn chỉnh sẽ có bản dịch sau hiệu đính, nhưng phải bắt đầu. Bản dịch tiếng Anh dưới đây do anh Terry Lee dịch từ bài thơ Mộng Ngày của Hòa thượng Tuệ Sỹ. Anh Terry Lee cố gắng dịch sát với nội dung tiếng Việt rất cô đọng của bài thơ nhưng đồng thời cố gắng giữ bài thơ mang không khí của thơ. Rất khó làm cả hai công việc trong một lúc. Dù sao đọc lên chúng ta vẫn biết đó là một bài thơ. Hiểu đúng ý sâu xa của bài thơ chỉ có tác giả, trong trường hợp này là Hòa thượng. Nhưng chúng ta vẫn có thể hiểu bài thơ theo cách riêng của mỗi người. Cái “hay” của bài thơ trong hai người đọc có thể không giống nhau và không nhất thiết phải giống nhau, tùy thuộc vào tâm thức và cảm nhận. Ngọn núi cao hay thấp do chỗ mỗi người đứng để nhìn lên núi. Vì facebook tôi bị hạn chế khi ‘share’ cũng như nhiều khi Facebook không tự động gởi những bài viết của tôi đến ‘News Feed’ của các bạn nên tôi ‘copy’ về nhà. Ngoài việc dịch bài thơ này anh Terry Lee viết khá nhiều trên Facebook cá nhân, mong các bạn ghé thăm và đọc những bài còn lại:

Hòa thượng thi sĩ Thích Tuệ Sỹ, những phương trời viễn mộng (phần 3) #tuesy3

Day Dream

(a poem in Vietnamese by Venerable Tuệ Sỹ, and translated to English by Terry Lee)

On the back of an ant, in search of a sanctuary,
Where death does not exist, I find a herd of butterflies fluttering,
And some toads and frogs wandering around, looking for food,
While deep in its cave, a snake is day dreaming.

At the entrance, a swarm of bees are dancing round the forest flowers,
Which proudly show off their beautiful colors and attractive perfume.
Ashamed of their inferior colors and smell, the reeds’ flowers stand up,
Looking like old angels’ white hair, wavering in the wind.

Here are some ants running around, in search of their homelands.
With a heavy debt of love I carry on my back,
I also find myself homeless, sharing the fate with the ants,
And the love for our homelands, which is as fragile as sunlight threads.

I ask my ant where the tranquil world beyond the void is,
Where traces of bird flights can always be seen,
And from the darkness of our suffering Earth,
Rises the light of hope, in lieu of sunlight?

I call the ants, but the silver clouds loosely arrive instead,
And my homeland trembles following my path.
The angels look surprised when I unclothe my country’s past,
And her dream fruit separated when I bite the limitless.

My country has been in stalemate,
Since the day her forests were furiously burnt down.
In searching of her broken heart,
I’ll bite the emptiness when I’m hungry of time.

Dưới đây là nguyên văn bài thơ của thầy mà tôi đã dịch ở trên. Bài thơ này tôi đã có trích đăng trong bài số hai tôi viết về thầy (#tuesy2).

Mộng Ngày

Ta cỡi kiến đi tìm tiên động,
Cõi trường sinh đàn bướm dật dờ,
Cóc và nhái lang thang tìm sống,
Trong hang sâu con rắn nằm mơ.

Đầu cửa động đàn ong luân vũ,
Chị hoa rừng son phấn lẳng lơ.
Thẹn hương sắc lau già vươn dậy,
Làm tiên ông tóc trắng phất phơ.

Kiến bò quanh nhọc nhằn kiếm sống,
Ta trên lưng món nợ ân tình.
Cũng định mệnh lạc loài Tổ quốc,
Cũng tình chung tơ nắng mong manh

Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh,
Ngoài hư không có dấu chim bay.
Từ tiếng gọi màu đen đất khổ,
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời?

Ta gọi kiến, ngập ngừng mây bạc,
Đường ta đi, non nước bồi hồi.
Bóc quá khứ, thiên thần kinh ngạc,
Cắn vô biên trái mộng vỡ đôi.

Non nước ấy trầm ngâm từ độ,
Lửa rừng khuya yêu xác lá khô.
Ta đi tìm trái tim đã vỡ,
Đói thời gian ta gặm hư vô.

Giải thích

Mấy hôm trước, tôi được tin Hòa thượng Tuệ Sỹ đã chính thức đảm nhận chức Chánh Thư ký Văn phòng Viện Tăng thống kiêm Xử lý thường vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Thật là vui mừng khi thấy GHPGVNTN đã chính thức được phục hoạt và người lãnh đạo giáo hội trong những ngày sắp tới là người tôi hết lòng ngưỡng mộ và kính trọng. Thầy Tuệ Sỹ, với trí và huệ của một bồ tát, là viên ngọc sáng chói của cả thế giới, chứ không phải chỉ có Việt Nam.

Dù đang ở trên tàu, Internet lúc có, lúc không, tôi vẫn muốn chia sẻ niềm vui này với các bạn của tôi, nên tôi cố gắng dịch sang tiếng Anh bài thơ ‘Mộng Ngày’ này của thầy. Ai đó, lâu lắm tôi không nhớ rõ, có nói với tôi là không được dùng chữ ‘chia vui’, mà phải dùng chữ ‘chia buồn’ và ‘chung vui’, nhưng theo tôi thì đừng lo, khi ta chia sẻ niềm vui thì niềm vui tăng thêm, chứ không vơi bớt đi.

Bài thơ ‘Mộng Ngày’ này thầy viết năm 1984, tôi không biết là trước hay sau khi thầy bị ngụy quyền Cộng sản Việt Nam bắt giam ngày 2/4/1984. Bốn năm sau, trong một phiên tòa phường tuồng, thầy bị chúng kết án tử hình, rồi sau đó dưới áp lực của quốc tế, chúng đổi thành 15 năm tù. Sau khi đã giam tù thầy 14 năm 4 tháng 20 ngày, ngày 22/8/1998, bọn chúng giả vờ nhân nghĩa kêu thầy làm đơn xin ân xá thì sẽ được thả, nhưng thầy khẳng khái đáp: “Không ai có quyền xét xử tôi, không ai có quyền ân xá tôi”, sau đó thầy tuyệt thực, khiến 10 ngày sau, ngày 1/9/1998, chúng phải thả thầy ra vì sợ thầy sẽ chết trong tù. Khi nói câu đó, ý của thầy là các ông có súng ống thì có thể bắt tôi bỏ tù, nhưng tôi không cho các ông cái quyền được xét xử tôi, và vì thế các ông muốn thả tôi thì thả, chứ các ông không có quyền ân xá tôi, vì tôi không có tội gì hết.

Người xưa có nói “dịch là diệt” (bài dịch giết chết cái hay của bài gốc), nên tôi chỉ hy vọng đã không hiểu sai ý của thầy, chứ không dám gọi bản dịch này của tôi là một bài thơ. Ví dụ như khi thầy viết “ta gọi kiến, ngập ngừng mây bạc”, thì tôi hiểu là khi thầy gọi đám kiến lại gần thì thay vì kiến, đám mây bạc ngập ngừng bay lại gần. Tôi có cảm tưởng như đang đọc thơ của Phó Đại Sĩ, một thiền sư nổi tiếng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ năm. Bài thơ có câu:

Nhân tùng kiều thượng quá
Kiều lưu thủy bất lưu.

人在桥上过
桥流水不流

Người trên cầu đi lại
Cầu trôi, nước chẳng trôi.

Một ví dụ khác, khi thầy viết “bóc quá khứ, thiên thần kinh ngạc” thì tôi hiểu là thiên thần kinh ngạc khi thấy thầy lột trần quá khứ và đó là quá khứ của đất nước mình. Không biết là thiên thần kinh ngạc về hành động can đảm của thầy khi dám lôt trần quá khứ của đất nước, hay họ kinh ngạc về sự tàn ác của Cộng sản áp đặt lên đất nước Việt Nam trong suốt mấy mươi năm mà hòa thượng lột trần cho họ thấy.

Còn câu thơ “ngoài hư không, có dấu chim bay” của thầy khiến tôi liên tưởng đến câu chuyện khi hai thầy trò Mã Tổ Đạo Nhất và Bách Trượng Hoài Hải đi dạo, thấy một đàn chim bay qua, thì Mã Tổ mới hỏi Bách Trượng là đàn chim đâu rồi, thì Bách Trượng trả lời là chúng bay mất rồi. Ngay lập tức, Mã Tổ vặn mũi của Bách Trượng thật mạnh và hỏi “hà tằng phi xứ?” (đàn chim đó có bao giờ bay mất đâu?), khiến trong cơn đau điếng, Bách Trượng chợt ngộ đạo. Vì thế, tôi dịch câu thơ của thầy là nơi hư không đó, dấu chim bay luôn luôn có ở đó, không bao giờ biến mất đâu.

Nếu có một ngày nào, bản dịch này được lọt vào mắt thầy, thì tôi hạnh phúc biết bao!

Cuối cùng, tôi mong các bạn cùng với tôi chắp tay cầu nguyện cho GHPGVNTN được phát triển như ý nguyện của quý thầy trong ban trị sự của giáo hội.

Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi, svaha!

Câu trên đây là câu thần chú trong kinh Bát Nhã Tâm Kinh mà đọc theo tiếng Phạn là “ga tê, ga tê, pa ra ga tê, pa ra sam ga tê, bô đi, sì va ha”, và các kinh sách tiếng Việt đều phiên âm theo bản tiếng Hoa là “yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha” (Hãy vượt sang, hãy vượt sang, hãy vượt sang bờ bên kia, hãy vượt sang hẳn bờ bên kia, nơi cõi giác ngộ, hãy an trú ở đó).

Viết thêm

Hôm qua anh Trần Trung Đạo có nói trong điều kiện tin học ngày nay chắc chắn bài dịch của tôi sẽ được thầy Tuệ Sỹ đọc. Mừng quá!

Anh cũng nói không chắc thầy có trả lời ngay được. Vì thế, tôi viết thêm mấy chữ này để trình thầy “cái nhìn” của tôi khi đọc thơ thầy, giống như ở các Thiền viện, tu sinh gặp mặt thầy để trình cho thầy sở ngộ (của mình).

Bài thơ ‘Mộng Ngày’ có 6 phân đoạn.

Trong phân đoạn 1, tôi dùng chữ “where death does not exist” để tả cõi trường sinh, thay vì chữ eternal, vì tôi muốn nhấn mạnh ý của thầy là nơi đây bất sinh, bất diệt. Mọi hoạt động ở đây đều được diễn tả bằng thì hiện tại (present time), thay vi quá khứ (past time). Toàn bộ câu chuyện trong bài thơ đều được viết ở thì hiện tại. Tiếng Việt không chia thì như tiếng Anh, nên khi dịch qua tiếng Anh ở thì hiện tại, tôi hy vọng đã đoán đúng ý thầy.

Trong phân đoạn 2, thầy tiếp tục cho chúng ta thấy sự yên bình bề ngoài ở cõi tiên. Thầy muốn nói dù bất sinh bất diệt, nơi đây tham vọng và ganh tỵ vẫn cỏn. Vì thế, tôi dịch 3 chữ “thẹn hương sắc” của thầy bằng một câu dài “ashamed of their inferior colors and smell”. Thầy chỉ muốn mượn cõi tiên để diễn tả cõi lòng của thầy đối với đất nước, nơi tham vọng và ganh tỵ hiện hữu, mà thầy sẽ viết trong những đoạn sau.

Trong phân đoạn 3, thầy cho biết thầy đang mang món nợ trên lưng thầy, chứ không phải lưng con kiến. Đó là nợ Tổ quốc, một trong tứ ân của đạo Phật. “Cũng định mệnh lạc loài Tổ quốc” có nghĩa là thầy cũng lạc loài mất nước, như bầy kiến kia mất tổ. “Cũng tình chung tơ nắng mong manh” có nghĩa là thầy cũng yêu đất nước của thầy như bầy kiến kia yêu tổ. Tình yêu này sao lại mong manh như tơ nắng? Đừng thấy tơ nắng mong manh mà coi thường nó. Có ai mà cắt đứt được tơ nắng không? Đây là tơ nắng, chứ không phải tia nắng. Cái khác biệt rất lớn, vì sợi tơ có thể trói buộc được.

Trong phân đoạn 4, trên đường đi tìm cõi tịnh, nơi chim đã bay qua nhưng dấu vết luôn còn đó để ta có thể theo dấu đó mà tìm tới. Đó là cõi giác mà thiền sư Bách Trượng tìm thấy khi sư thấy được dấu chim bay. Với lòng yêu quê hương tha thiết, cõi tịnh của thầy là nơi quê hương ta đó, ngày nào tâm tư thắp sáng, thay cho ánh mặt trời.

Trong phân đoạn 5, thầy diễn tả lòng yêu nước của thầy nồng nàn tới nỗi cảm động cả mây trời và đất nước. Không thể có gì cản trở được (vô biên) đường thầy đi. Khi thầy lột trần quá khứ tội ác CS đối với đất nước, thiên thần cũng phải kinh ngạc. Như đã viết ở trên, không biết là thiên thần kinh ngạc về hành động can đảm của thầy, hay họ kinh ngạc về sự tàn ác của Cộng sản, hay cả hai.

Trong phân đoạn 6, tôi hiểu chữ “trầm ngâm” của thầy là stalemate, và “lửa rừng khuya yêu xác lá khô” là cháy dữ dội. Đó là biến cố 30/4/75. Từ độ đó, thầy không ngừng đi tìm lại trái tim Việt Nam, dù đói khát cũng không làm thầy nản chí.

Terry Lee

Share.

1 Comment

  1. Ngọc Ho on

    Nam Mô A Di Đà Phật!
    Đồng nhất tâm cầu nguyện mười phương Chư Phật gia hộ cho GHPGVNTN , chân cứng đá mềm phục hoạt được nhiều thuận duyên để chấn chỉnh mọi khiếm khuyết tăng thêm phần Thâm tín Tâm Bảo của Đại chúng. Nhất tâm cầu nguyện cho Hoà Thượng Thượng Tuệ Hạ Sỷ cùng Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni. Pháp Thể Kinh An, Chúng Sanh Dị Độ, Đạo Quả Thập Phần Viên Mãn vượt qua những ác trược trong hiện tại.
    Tất cả hàng Tứ chúng trong và ngoài nước đang chờ giây phút này… Sau sự Viên Tịch của Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN, Trưỡng Lão Hoà Thượng Thượng Quảng Hạ Độ vào năm 2021.
    Nam Mô Đại Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát Tác Đại Chứng Mình.

Leave A Reply

Exit mobile version