HT Tri Hai 2

Thích Trí Hải: Hồi ký thành lập Hội Phật Giáo Việt Nam | Thời Kỳ Thứ Nhất: Lục Hòa Tịnh Lữ

HỒI KÝ THÀNH LẬP
HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HT. Thích Trí Hải
___________________________

“Vượt qua những trở ngại khó khăn để đạt tới kết quả như ý nếu không có chí kiên trì và lòng dũng cảm sẽ không thể nào đưa tới thành công được.” | Hòa Thượng Thích Trí Hải

THAY LỜI TỰA

Phật giáo và dân tộc như hình với bóng, cùng nhau trải qua bao nỗi thăng trầm của lịch sử. Nếu như dân tộc phải chịu bao nhiêu tang thương thì trang sử Phật cũng đọng lại bấy nhiêu nước mắt. Phật giáo đồng cam cộng khổ, cùng chung vận mệnh với dân tộc Việt.

Thập niên ba mươi của thế kỷ XX, đất nước bắt đầu quyết tử cho một nước Việt Nam độc lập, thì Phật giáo cũng chuyển mình để phục quang giáo hội. Phong trào chấn hưng Phật giáo ra đời.

Nói đến phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc không thể không kể đến cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Hải, người đã nuôi hoài bão chấn hưng Phật giáo từ năm mới bước chân vào cửa Thiền ở tuổi 19. Rồi từ đó cho đến khi nhẹ nhàng xả báo thân ở tuổi 74, ngài đã tận tâm, tận lực trong việc hưng long Tam bảo, phụng sự chúng sanh. Dù phải trải qua bao nhiêu gian nan, cay đắng ngài vẫn luôn lạc quan hy vọng một tương lai xán lạn của Phật giáo, với tấm lòng kiên trinh như tằm kéo tơ lòng để dệt nên trang sử Phật cũng là trang sử Việt.

Thế hệ trẻ hôm nay hầu như không còn cơ duyên để diện kiến những bậc cao tăng trong phong trào chấn hưng Phật giáo nói chung, cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Hải nói riêng, nên chưa thể cảm nhận được phong cách đĩnh đạc, kỳ vĩ, xuất trần thượng sĩ của quý ngài, lại càng chưa thể hiểu được giá trị to lớn mà quý ngài đã cống hiến cho Đạo pháp, cho dân tộc. Phải tái hiện lại hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế… của Việt Nam cách đây gần 100 năm, vào thời kỳ Việt Nam còn rên xiết dưới gót giày của thực dân xâm lược, thời kỳ mà con người phải di chuyển bằng đôi chân trần của chính mình chứ không phải nhờ vào động cơ của khoa học, và phải thở bằng hơi thở của cha ông thời đó chứ không phải thời hiện đại với đầy đủ tiện nghi vật chất thì mới cảm nhận được “hào khí lăng vân” của tiền nhân và mới thấy được bao gian lao, khó nhọc mà quý ngài phải chịu đựng trong công cuộc phục hưng Phật giáo.

Hình như từ trước đến nay chưa từng có vị cao tăng nào viết hồi ký cả. Các ngài đến với cuộc đời này rồi ra đi với tâm niệm: “Pháp còn bỏ huống hồ phi pháp”. Nhưng trong cuộc đời biến hóa khôn lường Sắc Sắc Không Không này, “Có thì có tự mảy may”. Phải có cái Có mới hiểu được cái Không, phải có Giả mới hiểu được Chân nên Hồi ký của cố Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Hải là ngón tay đưa ta tìm về ánh trăng huyền diệu của Phật sử. Lại nữa, Hồi ký của cố Đại lão Hòa Thượng được viết với tâm chân thành của bậc đại sĩ dấn thân trên con đường tìm sự phục hưng cho Phật pháp, an lạc cho dân tộc, một tư liệu đáng quý biết bao!

Hồi ký được ghi lại bởi chính người trong cuộc, chứng nhân của lịch sử. Và không chỉ là chứng nhân mà còn là tác nhân của lịch sử, là người đã góp phần làm nên lịch sử: Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Hồi ký truyền lại cho thế hệ sau kinh nghiệm thực tiễn của tiền nhân trong việc phụng sự Đạo pháp và dân tộc, chỉ cho thế hệ sau biết rằng vẫn còn nhiều điều mà tiền nhân chưa thể thực hiện được vì hoàn cảnh khách quan nào đó; những công việc ấy cần được tiếp tục hoàn thiện bởi lớp người đi sau nếu muốn nói đến việc phát huy Phật giáo, và một trong những sự việc trọng đại đó là việc đào tạo tăng tài.

Trên từng trang hồi ký, người đọc có thể tìm thấy những nỗi trăn trở, day dứt của tác giả; đó là cái Tâm của tiền nhân, cái Tâm mà đại thi hào Nguyễn Du đã nói “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”. Chính thiện Tâm ấy đã giúp tiền nhân phụng sự Đạo pháp một cách quên thân mình, quên cả bao cay đắng, khắt khe của thời cuộc.

Chính cái Tâm – tấm lòng son ấy – sau bao cuộc bể dâu, vẫn mãi mãi tồn tại trong tâm khảm thế hệ con cháu hôm nay và mai sau:
Trăm năm còn lại tấm lòng mà thôi.”.

Vĩnh Nghiêm, ngày 18 tháng 11 năm 2002
Hậu học Giác Dũng
cúi đầu cẩn bút

________________________

LỜI NÓI ĐẦU

Từ trước đến nay trong giới Phật giáo cũng như các bậc trí thức ở ngoài có nhiều vị đọc cuốn “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược” của Thượng Tọa Mật Thể biên soạn, thấy trong chương X ghi: “Ở Bắc có tôi (Trí Hải) cùng các vị Tăng Ni cư sĩ thành lập Hội Phật Giáo Việt Nam”.

Phong trào chấn hưng Phật giáo đã có trên 50 năm nay, bắt nguồn từ Trung Quốc. Do ảnh hưởng đó, nước ta có Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học thành lập ở Sài Gòn năm 1931; Hội An Nam Phật học thành lập ở Huế năm 1932. Mãi cuối năm 1934 ở Hà Nội mới thành lập Hội Bắc Kỳ Phật giáo.

Do đó, nhiều vị muốn tìm hiểu nguyên nhân thành lập Hội Phật giáo Việt Nam đã đề nghị tôi ghi chép lại để người sau biết được nguồn gốc sự việc.

Quá trình thành lập Hội Phật giáo Việt Nam từ khởi thủy đến nay đã trải qua bao diễn biến phức tạp: thuận lợi cũng có mà trở ngại cũng nhiều. Trong khi đó, trí nhớ của tôi hiện nay lại có hạn. Song, không viết thì lại sợ phụ lòng những vị yêu mến. Nên tôi cố gắng sưu tầm trong sách vở của các hội Phật giáo trước và nhớ lại những việc chính tôi đã tham gia thực hiện, cũng như những điều mắt thấy tai nghe trong Phật giáo để viết thành cuốn sách nhỏ này; ước mong đền đáp phần nào sự quan tâm tha thiết và khuyến khích của quý vị. Nhưng cũng không sao tránh khỏi thiếu sót, mong chư vị thấy chỗ nào chưa ổn, thể lòng từ bi hỷ xả mà chỉ chính. Xin chân thành cảm ơn!

Viết tại Hải Phòng,
Ngày 19 tháng 5 năm Ất Tị (1965),
Trí Hải

__________________________

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP
HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (1934)

Quá trình thành lập Hội Phật giáo Việt Nam (1934-1958) mà chính tôi đã tham gia góp phần thực hiện, có thể được chia làm sáu thời kỳ như sau:

I. Thời kỳ thứ nhất: Lục hòa tịnh lữ
II. Thời kỳ thứ hai: Phật học tùng thư
III. Thời kỳ thứ ba: Chùa Quán Sứ – Hội Bắc Kỳ Phật giáo
IV. Thời kỳ thứ tư: Hội Phật giáo Việt Nam
V. Thời kỳ thứ năm: Tổng Hội Phật giáo Việt Nam
VI. Thời kỳ thứ sáu: Giáo Hội Tăng Già Việt Nam

_____________________________

THỜI KỲ THỨ NHẤT: LỤC HÒA TỊNH LỮ

Hai năm sau khi xuất gia tức năm 1924, bước vào tuổi 19, tôi mới được học về phần nghi thức tụng niêm lễ bái thông thường hằng ngày. Song nhờ được học ít chữ Hán từ trước nên cũng hiểu đại khái đôi chút nghĩa lý trong các kinh sách và các bài tụng niệm mà tôi đã học.

Tôi nhận thấy tinh thần Phật giáo rất thiết thực, lợi ích cho tất cả chúng sinh trong đời hiện tại và vị lai như bài phát nguyện trong khóa lễ buổi sáng sớm có câu: “Tật dịch thế nhi hiện vi dược thảo cứu liệu trầm kha, cơ cận thời nhi hóa tác đạo lương tế chư bần nỗi, đãn hữu lợi ích vô bất hưng sùng“. Nghĩa là: “Gặp lúc người đời bị đau ốm nặng, nguyện hóa ra thuốc men để cứu chữa, khi nhân dân đói khổ, nguyện hóa ra lúa gạo để giúp đỡ, bất cứ việc gì đem lại lợi ích cho chúng sinh đều làm cả.”. Nguyện thứ 11 trong Kinh Dược Sư: “Nếu những chúng sinh bị đói khát khổ não, vì tìm kiếm miếng ăn mà phải gây ra tội ác, trước hết ta hãy đem các thứ ăn uống rất ngon lành làm cho thân thể được no đủ rồi sau mới đem những phương pháp mầu nhiệm dạy bảo cho được hoàn toàn sung sướng yên vui”. Kinh Địa Tạng dạy: “Còn có chúng sinh nào ở nơi khổ não (địa ngục) thì ta không thành Phật v.v…”.

Trên đây chỉ trích dẫn vài ba câu chứ chưa nói đến nghĩa lý cao sâu mầu nhiệm trong thiên kinh vạn quyển vốn không thể nào tả xiết cho được. Song rất tiếc là đọc tụng toàn bằng Hán văn nên có nhiều người đọc tụng hằng ngày cho đến thuộc òng mà không hiểu nghĩa lý ra sao, không biết đọc tụng để làm gì. Trừ một số rất ít các vị cao tăng trí thức, còn phần đông tự mình không hiểu thấu nghĩa lý chân chính để tu hành tự lợi và giáo hóa cho người giác ngộ. Như thế thì làm gì mà không đưa nhau vào con đường mê tín dị đoan, làm ảnh hưởng xấu cho toàn thể Phật giáo?

Cứ xem ngay hình thức của Phật giáo hiện nay. Tuy mỗi làng có một ngôi chùa, có làng tới hai, ba, bốn, năm ngôi; trừ những nơi danh lam cổ tự ra, còn hầu hết đã biến tướng rất nhiều, không còn thuần túy là Phật giáo nữa. Từ nơi thờ phụng cho đến nghi thức lễ bái, không đâu giống đâu. Không những thờ Phật, Bồ tát mà còn thờ tất cả Thánh Thần; thậm chí có nơi còn thờ cả hổ, rắn, chó đá, bình vôi v.v…; trong nhà không thờ hết đem ra cả ngoài sân, gốc cây.

Nếu có các bậc trí thức hay người ngoại quốc nào tới tham quan, khảo cứu và hỏi vị trụ trì ở những nơi đấy thì không biết vị trụ trì ấy sẽ trả lời ra sao? Có những cảnh tượng đáng tiếc này chẳng qua cũng chỉ vì đa số Tăng, Ni thất học. Vì thế cần phải nhanh chóng chấn chỉnh lại. Nếu không, tinh thần Phật giáo không bao lâu nữa sẽ đi đến chỗ diệt vong. Muốn duy  trì Phật giáo, muốn bảo tồn tinh thần dân tộc thì trước hết làm thế nào trong giới Tăng Ni phải có nhiều người đủ tài đức để duy trì việc hoằng hóa; phải trừ sạch những điều mê tín dị đoan đã pha trộn vào Phật giáo như tệ hại về vàng mã, đồng bóng chẳng hạn. Phải làm cho tình thần từ bi, trí tuệ, bình đẳng, dũng mãnh, tinh tiến của Phật giáo được phát huy để bồi bổ cho tinh thần Dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn xưa như đời Đinh, Lê, Lý, Trần chẳng hạn. Những thời đại Phật giáo thịnh hành thì khí thế Dân tộc Việt Nam lúc ấy như thế nào? Ai là người hiểu biết đều rõ.

Muốn khôi phục lại những lợi ích chân chính, muốn cải cách, bài trừ những tệ hại dị đoan đã ăn sâu vào trí não của dân chúng, trở thành tập quán lâu đời, nhất là đối với những người chỉ biết tín ngưỡng mà không chịu suy xét là cả một vấn đề nan giải. Thật không phải là việc mà một, hai người trong một thời gian ngăn ngủi có thể làm xong được.

Trải qua bao đời, khắp thành thị đến thôn quê, từ trên rừng xuống dưới biển, ngay đến thâm sơn cùng cóc, không đâu là không có người tin theo Phật giáo. Nay muốn chấn hưng Phật giáo mà không vận động, kết hợp được đại đa số quần chúng đồng tâm hiệp lực, kiên trì chấn chỉnh, tổ chức cho có quy củ, hệ thống hẳn hoi, tất không thể nào thành công được. Cũng có người bảo: Hệ thống tổ chức của Phật giáo xưa nay vẫn có các sơn môn đời đời nối dõi cho tới ngày nay, như thế chả bền vững là gì?

Xem bề ngoài thì có thế thật. Song xét kỹ đến thực chất bên trong thì lại khác hẳn. Tìm hiểu sâu vào vấn đề sơn môn ta sẽ thấy không có gì là vững chắc. Như nhiều người đã thấy: Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, hễ có người đủ tài, đủ đức, được quần chúng tôn sùng ngưỡng mộ thì ở đấy sơn môn được hình thành. Nhưng, nếu ở đấy không có người tài, đức kế tiếp thì sẽ dần dần đi đến chỗ tuyệt tích!

Nay muốn cải tổ cần có phương hướng, mục đích, có tổ chức sâu rộng vững chắc, cần được tất cả các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, ủng hộ mới mong có kết quả thành công. Muốn thế, ban đầu cần phải lập thành một hội công khai có phép tắc hẳn hoi mới dễ bề hoạt động và phát triển.

Với suy nghĩ như vậy, từ đấy, ngoài thời giờ học tập, những lúc có việc đi đâu, nhất là đến các đám hội hè hay giỗ tổ, có đông đủ các vị Tăng Ni, tôi đều đem ý kiến về việc chấn hưng Phật giáo nuớc nhà ra trao đổi. Kiểm điểm lại, trong suốt thời gian sáu năm (1924-1929), ý kiến chấn hưng Phật giáo được rất nhiều vị đồng ý tán thành, cho là nếu làm thành việc này thì không còn gì bằng. Song, các vị cũng nhận định rằng đây là việc rất khó, phải làm thế nào được các cơ quan trên giúp đỡ mới thành tựu được. Chính đức Phật Thích Ca lúc sắp thị tịch cũng còn phó chúc cho quốc vương, đại thần ngoại hộ Phật pháp, huống chi bây giời đương ở vào thời kỳ mạt pháp: Phật cao một thước, ma cao nghìn trượng, người làm thì ít kẻ phá thì nhiều. Nếu không, có thể bị người ta ghép tội hoạt động hội kín, lại càng nguy hiểm cho các sư. Do vậy, có nhiều vị có lòng hưởng ứng nhưng không dám làm theo.

Thế là nhiều vị tỏ vẻ lo sợ. Chính Sư cụ – Thầy nuôi tôi, thấy tôi hay bàn đến việc này, cũng thường nói với các sư: “Chú ấy (tôi) học hành và chí khí xem cũng khá nhưng không khéo sẽ nguy cho chú ấy”.

Vận động với các vị trên suốt năm, sáu năm rồi vẫn không thấy kết quả: Chưa có vị nào chịu đứng ra xây dựng. Chẳng lẽ việc có lợi ích chung cho toàn thể, việc cần phải làm mà đành phải chịu buông bỏ? Như người khát nước ra tới bờ sông, không lẽ lại chịu đứng nhìn ròi quay trở về? Đương khi nghĩ ngợi, tôi sực nhớ đến câu: “Đương nhân bất nhượng ư sư”. Câu này có nghĩa: Việc phải làm, việc tốt, việc nhân nghĩa, việc lợi ích, việc cần làm thì dù là người đệ tử cũng không nhường thầy.

Từ đấy chúng tôi quyết chí tìm phương cách thành lập Hội Phật giáo. Nhưng nếu không có phép tắc hẳn hoi thì rất dễ bị ghép tội hoạt động bất hợp pháp và sẽ dẫn đến tan vỡ. Bấy giờ chúng tôi phỏng theo lối tổ chức Hội Liên xã ở các sơn môn vẫn có xưa nay. Đại ý: Góp mỗi người một ít tiền làm vốn cho vay, hằng năm trích ra một số lời để làm một tuần lễ siêu tiến tứ ân phụ mẫu, Chỉ có thế thôi.

Có điều khác là chúng tôi không lấy tên hội. Vì từ “hội” có vẻ to tát quá, nên chúng tôi lấy tên là “Lục hòa tịnh lữ”; có nghĩa là những người trong sạch làm bạn cùng nhau, tu theo Sáu phép hòa thuận của đức Phật:

  1. Thân hòa đồng trụ: Thân hòa cùng ở (sống chung tập thể)
  2. Khẩu hòa vô tránh: Nói năng hòa nhã, không tranh cãi nhau.
  3. Ý hòa đồng duyệt: Một lòng một dạ không trái ý nhau.
  4. Kiến hòa đồng giải: Hiểu biết thông cảm nhau.
  5. Giới hòa đồng tu: Giữ chung một kỷ luật.
  6. Lợi hòa đồng quân: Có gì chia đều nhau cùng hưởng.

A) Mục đích:
1. Khuyến khích, giúp đỡ nhau về đường tu học.
2. Giúp đỡ nhau trong các công việc cần thiết như khi có sư trưởng, phụ mẫu mất, cùng giúp nhau trong việc làm chùa, tô tượng, đúc chuông v.v…

Mỗi khi đồng đạo có việc gì, người nào có việc gì thì tất cả mọi người đều coi như là việc của mình, có trách nhiệm trông coi, lo liệu về mọi phương diện, tận tâm, tận lực làm cho thành tựu mà không quản ngại nề hà gì.

B)Tổ chức: Tùy theo địa phương như ở sơn môn hay địa phương nào có từ năm đến mười lăm người thì thành lập riêng một đoàn, nhiều nhất là hai mươi người. Nếu quá hai mươi người lại chia làm đôi để dễ dàng đi lại, liên lạc với nhau. Khi người nào có công việc gì thì tất cả những người trong địa phương ấy trực tiếp lo liệu giúp đỡ mọi việc, còn ở các nơi khác chỉ cử đại biểu đến thôi.

C)Tài chính:
Mỗi người góp 5 đồng một năm, chia ra đóng làm bốn kỳ: Tháng giêng 2 đồng, tháng tư 1 đồng, tháng tám 1 đồng và tháng mười một 1 đồng. Ở đâu giữ riêng ở đấy. Khi người nào có việc như trên thì trích ra 5 đồng để mua lễ vật và làm một đôi câu đối mừng hoặc viếng. Chỉ trong phạm vi 5 đồng này thôi. Lạc khoản câu đối đề là “Lục hòa tịnh lữ kính mừng (hay kính viếng)” để tiêu biểu cho tổ chức của đồng bạn.

Đóng góp mỗi năm có 5 đồng mà phải chia ra làm bốn kỳ là vì thời bấy giờ chúng tôi còn làm tiểu ở với thầy, phải bòn dần từng xu, từng hào do các vị trên mừng tuổi hoặc cho mới có; hay đi cúng được tiền hồi hướng chẳng hạn.

Bấy giờ ở sơn môn Tế Xuyên huyện Lý Nhân, Hà Nam chưa được các vị trên hưởng ứng, chỉ mới có tôi là người nhiều tuổi nhất (25 tuổi). Còn các sư bên dưới, có người mới có 15 hoặc 18 tuổi chẳng hạn. Lúc đầu, thấy chúng tôi làm, các vị trên, có nhiều vị còn chế giễu là “Hội trẻ con, hội chấp tác” (lao động phục vụ). Vì chúng tôi không nề hà gì khi đồng bạn có việc.

Mỗi khi có việc chỉ chi tiêu có 5 đồng. Số tiền còn lại chủ yếu dùng để thỉnh kinh sách và giúp đỡ nhau trong việc học tập như giúp đỡ những người đi học xa mà thiếu thốn.

Dần dần, thấy chúng tôi làm việc tích cực, có kết quả trong vài đám, các vị trên cũng có vị hoan hỷ tán thành, hưởng ứng, tham gia như Thượng Tọa Thái Hòa; Sư cụ Thông Thuận ở chùa Hà Mặc; Sư cụ Thanh Lạc ở chùa Vị Hà, Bình Lục; Sư cụ Thanh Lịch, hiện nay ở chùa Hải Trung, Hải Hậu, Nam Hà. Dần dần lan sang Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định; không những riêng bên Tăng mà có nhiều vị bên Ni giới cũng hưởng ứng, tham gia.

Bấy giờ chúng tôi chuyên theo học Hòa thượng Phổ Hài ở chùa Tế Cát (Hà Nam). Những lúc thư nhàn tôi đem việc này thưa lên Hòa thượng. Lúc đầu, Hòa thượng nghĩ là khó, không thể làm được, cho rằng tôi không đủ sức và Hòa thượng khuyên: “Hãy chịu khó học nhiều đi đã”. Nhưng dần dần Hòa thượng cũng hoan hỷ. Chúng tôi liền thỉnh Hòa thượng làm chứng minh cho công việc, được Hòa thượng chấp thuận.

Từ đấy, tên “Hội trẻ con và chấp tác” dần dần biến mất và càng ngày càng có nhiều vị hưởng ứng. Năm 1931, được tin Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học thành lập ở Sài gòn, xuất bản báo Từ Bi Âm, chúng tôi liền mua đọc. Thấy trong báo nói có mở trường Phật học để đào tạo các sư thanh niên, tôi liền viết thư vào hỏi điều kiện nhập học như thế nào. Được ít lâu, trong ấy trả lời: “Lúc đầu chưa tổ chức được đầy đủ nên chỉ mới nhận những học sinh là đệ tử của những vị hội viên mà thôi”. Chúng tôi liền trích tiền quỹ ra đóng cho Hòa thượng Phổ Hài gia nhập Hội để lấy đường gửi người vào học sau này. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy tin trường mở cửa.

Năm 1932, lại được tin Hội An Nam Phật học thành lập ở Huế và xuất bản báo Viên Âm, tiếng vang khắp trong nước. Lại nữa, các báo chí ở Hà Nội cũng luôn luôn nhắc tới việc chấn hưng Phật giáo. Đọc những tin tức đó, chúng tôi càng hồi hộp, phấn khởi và tin tưởng rằng ước mơ từ lâu của chúng tôi chắc chắn sẽ thành hiện thực. Từ đấy, chúng tôi lại càng tích cực đi cổ động khắp các nơi, đem cả báo chí đọc cho các Hòa thượng cùng Tăng Ni. Các vị ấy rất hoan hỷ. Nhiều vị ước mong ngoài Bắc ta cũng mau chóng thành lập được hội Phật giáo. Chúng tôi lại đem công việc mà Lục hòa tịnh lữ làm được thưa cùng các vị. Nghe xong, ai nấy đều hoan hỷ tán thành và hỏi bản quy tắc để các vị tổ chức ngay tại địa phương của mình.

Khi lên Hà Nội, vào thăm các chùa danh tiếng như Bà Đá, Hòe Nhai, Liên Phái v.v… chúng tôi đều trình bày việc chấn hưng Phật giáo. Nhưng bấy giờ chúng tôi còn nhỏ lại vào các chùa lớn nói những việc mới lạ nên có nhiều vị tỏ ý khinh rẻ,cho là viển vông. Các vị ấy nói: “Phật giáo vẫn hưng thịnh, chùa vẫn làm, tượng vẫn tô, chuông vẫn đúc, khách thập phương vẫn đi lại đông đúc, tấp nập vui vẻ, có gì sứt mẻ đâu mà phải chấn hưng?”. Phía tán thành tuy có nhưng rất ít, không bằng các tỉnh nhỏ. Do đó, chúng tôi quay ra tìm sự hợp tác của phía cư sĩ (tại gia).

Đọc báo trung Bắc Tân Văn thấy có ông Lê Toại thường đăng các bài nói về việc chấn hưng Phật giáo, chúng tôi hỏi thăm về ông ta, được biết ông đang làm việc tại Sở Đốc lý – Hà Nội, là người rất thành tâm mộ đạo Phật. Ông đọc sách Phật bằng Pháp văn và Hán văn, có dịch và xuất bản cuốn Phật học sơ giải. Chúng tôi bèn tìm đến thăm ông. Mới gặp nhau lần đầu, vừa trao đổi ý kiến đã thấy ý hợp tâm đầu. Ông đưa chúng tôi tới thăm ông Trần Văn Giác, người Trà Vinh, Nam Bộ, ra làm việc ở Sở Thương Chính – Hà Nội. Cả hai vợ chồng đều là người rất mộ đạo Phật, có thờ Phật tại nhà, đều ăn chay và cũng là hội viên Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học. Kế đến, chúng tôi được gặp ông Nguyễn Hữu Kha (Thiều Chửu). Ông là con cụ cử ở Đông Tác. Bấy giờ ông đã ngót 30 tuổi mà vẫn không lập gia đình, rất chăm chỉ học Phật và đang dịch bộ Phật học đại từ điển. Mới gặp nhau mà hình như đã quen từ bao nhiêu đời trước. Vừa nói đến việc chấn hưng Phật giáo thì ông liền tán thành. Một hôm, ông cùng chúng tôi đến gặp ông Vũ Đình Chung, nhà ở phổ Ngô Trạm – Hà Nội, hiện dang làm Hội trưởng Hội Đông Dương liên hữu tương tế (Hội Ái hữu công chức). Ông cũng là người giao thiệp rộng và hay làm việc nghĩa. Khi gặp nhau, chúng tôi nói về việc vận động chấn hưng Phật giáo, ông rất vui vẻ, tán thành và hứa sẽ hết sức phục vụ cho công việc được mau đạt kết quả. Ông còn hứa sẽ vận động trong Hội Đông Dương liên hữu tuơng tế của ông vì Hội này cũng có rất nhiều người tin theo đạo Phật, nhất là các bạn ở Miên, Lào.

Sau một thời gian đi lại, trao đổi, chúng tôi soạn thảo điều lệ để chuẩn bị xin phép lập hội. Bấy giờ thường hay hội họp ở nhà ông Chung. Khi thảo thành điều lệ chung, chúng tôi cũng có bạch với tất cả các cụ Hòa thượng, chư Tăng ở Hà Nội. Bấy giờ, có cụ Đinh Quang Lạc trụ trì chùa Vũ thạch ở Hà Nội là người giao thiệp rộng vào bậc nhất. Cụ thân với cả Đốc lý và Hoàng Trọng Phu cùng các quan lại khác nên cụ nói gì tất cả các sư ở Hà Nội đều tin theo hết.

Ngay khi mới tới Hà Nội, tôi đã đến ngay chùa Vũ Thạch, đem việc này bàn với cụ. Cụ rất niềm nở và tiếp đón rất nồng hậu. Tuy nhiên, bề ngoài thì cụ hết sức tán thành nhưng trong thâm tâm thì tìm mọi cách ngăn trở không cho thành lập. Cụ thường nói rằng việc này để hỏi ý kiến cụ lớn Võ (Hoàng Trọng Phu) và cụ Thiếu Nguyễn (Nguyễn Năng Quốc) xem các cụ báo sao đã.

Chúng tôi kiên trì đi lại vân động, chờ đợi mãi mà vẫn không thấy tia hy vọng nào. Cuối năm 1932, chúng tôi cương quyết tiến hành, bèn họp nhau tại nhà ông Vũ Đình Chung, cùng ký tên vào bản điều lệ để xin phép và bầu ông Chung làm Hội trưởng. Tin này vừa truyền ra, lập tức Sư cụ chùa Vũ Thạch triệu tập tất cả sư trong các sơn môn ở Hà Nội về chùa Bà Đá để bàn việc đối phó, ngăn cản, quyết không cho chúng tôi thành lập hội. Các cụ cho rằng nếu để cho hội Phật giáo thành lập sẽ khó cho các sư. Bấy giờ chúng tôi vẫn đi lại cả hai bên: Cả bên thuận và bên chống. Sau đấy vài hôm, tôi đến chùa Vũ Thạch. Xem ý bên trong cụ không bằng lòng nhưng bề ngoài cụ vẫn tỏ vẻ niềm nở. Vừa gặp tôi, cụ nói: “A! Sư huynh đã đến. Việc này chắc sư huynh biết rõ. Mình phải ngăn họ, không thể để cho họ quấy rối đạo Phật của mình được…”.

Biết ý sự đối kháng của cụ đã lên tới cao độ nhưng tôi vẫn tỏ vẻ bình tỉnh, nói: “Bạch cụ con vừa ở Hà Nam lên, chưa biết việc gì cả. Vậy, có việc gì xin cụ hoan hỷ cho con biết”.

– Sư huynh chưa biết thật à? Nghe nói bọn mấy người họ đã ký tên vào bản điều lệ để xin phép lập hội Phật giáo rồi đấy.

– Con tin chắc việc này thế nào họ cũng phải thưa với chư Tăng nhất là với cụ chứ? Nếu không thì họ làm với ai? Ai là người theo họ?

– Có, có. Họ vẫn đến luôn. Nhưng tôi vẫn bảo họ là để tôi hỏi lại ý các cụ lớn xem sao đã. Chưa đâu ra đâu cả mà họ đã hấp tấp như thế, không khéo sẽ phải ăn cơm nắm cả lũ cho mà xem (đe là sẽ cho vào tù). Sư huynh có thể tìm hiểu xem công việc của bọn họ làm thế nào, về đây cho tôi biết thì hay lắm.

Tôi lại trở về bàn với bên thuận. Chúng tôi nhận định: Phản ứng của các sư có thể mạnh hơn, việc chúng ta làm có thể không thành, nay cần phải làm thế nào cho mọi người tưởng là chúng ta không làm nữa, để dư luận lắng xuống đã. Cuối cùng đưa ra kế sách: Bề ngoài phao tin là việc làm này đã thôi hẳn rồi nhưng bên trong cứ tiến hành xin phép. Khi được phép thành lập rồi sẽ tuyên bố. Lúc ấy không ai làm gì được nữa.

Chúng tôi bèn cho dánh máy lại tờ cuối cùng của bản điều lệ có ghi tên chức vụ trong ban trị sự lâm thời và ký giả vào đấy để mang đến cho Sư cụ chùa Vũ Thạch xem và nói là bản điều lệ định xin phép đã hủy đi rồi. Chỉ cốt đưa mình Sư cụ chùa Vũ thạch xem là đủ rồi vì tất cả các sư ở Hà Nội đều tin ở Sư cụ ấy cả.

Làm xong, tôi đem mấy tờ giấy ấy đến trình Sư cụ chùa Vũ Thạch xem và nói rằng việc này đã thôi hẳn rồi, không còn tiến hành nữa, đây là những tờ cuối của bản điều lệ, còn có các chữ ký của ban trị sự đứng ra xin phép đây. Cụ bèn cầm lấy, đeo kính lên xem, và tỏ vẻ đắc ý lắm. Cho là đã phá được việc này, cụ gật gù nói: “May mà có sư huynh. Nếu không thì họ rầy rà các sư và quấy rối đạo Phật  chứ bọn họ thì làm gì được. Sư huynh để mấy tờ giấy này ở đây cho tôi…”.

Tôi bèn thưa: “Bạch cụ, đây là những tờ giấy bỏ đi, cụ giữ làm gì? Đốt quách đi cho xong”. Nói xong tôi liền cầm diêm đánh, đốt ngay trước mặt Sư cụ. Từ đấy trở đi, mỗi khi đến Hà Nội, tôi rất ít ra vào chùa Vũ Thạch.

Biết công việc còn nhiều trở ngại, khó khăn nhưng tôi vẫn ở lại Hà Nội để tìm phương cách khác. Tôi nghĩ: Thế nào cũng có ngày thành tựu kết quả nên quyết không chịu lùi bước. Cũng như con cá sống, càng bị ngược nước càng cố tiến lên, việc có khó mới là những việc của người có chí lớn: “Thua keo này bày keo khác”.

(hết Thời kỳ thứ I)
_______
Thời kỳ thứ II

Xem thêm

chua ham long

Thích Trí Hải: Hồi ký thành lập Hội PGVN | Thời kỳ thứ tư: Hội Phật Giáo Việt Nam

HỒI KÝ THÀNH LẬP HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HT. Thích Trí Hải ___________________________ Công …

chua quan su

Thích Trí Hải: Hồi ký thành lập Hội PGVN | Thời kỳ thứ ba: Chùa Quán Sứ, Hội Bắc Kỳ Phật Giáo

HỒI KÝ THÀNH LẬP HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HT. Thích Trí Hải ___________________________ Tùng …

chua 3

Thích Trí Hải: Hồi ký thành lập Hội Phật Giáo Việt Nam | Thời kỳ thứ hai: Phật học tùng thư

HỒI KÝ THÀNH LẬP HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HT. Thích Trí Hải ___________________________ Hội …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.