Tiểu sử Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám

tam minh le dinh tham

 

Cư sĩ LÊ ĐÌNH THÁM, pháp danh TÂM MINH, tự CHÂU HẢI, chánh quán làng Đông mỹ (Phú mỹ), tổng Phú khương, phủ Điện bàn, tỉnh Quảng Nam, là thứ nam của Cụ Đông các Điện đại học sĩ sung chức Binh bộ Thượng thư LÊ ĐỈNH (Triều Tự Đức), và Cụ kế thất PHAN THỊ HIỆU, snah năm 1897 (Đinh Dậu) tại Quảng Nam;

Lúc nhỏ theo Nho học, thụ huấn trực tiếp với Cụ Thượng thân sinh ở nhà, cùng với bào huynh là Đông Dương y sĩ LÊ ĐÌNH DƯƠNG[1]Y sĩ LÊ ĐÌNH DƯƠNG tốt nghiệp Á khôi Đông dương Y sĩ khóa đầu tiên năm 1915 tại Trường Cao đẳng Y khoa Đông dương, Hà Nội, và được bổ nhiệm Y sĩ … Continue reading, tuy tuổi còn non, song cả hai đều thông đạt kinh sách, văn bài thi phú đều làm được, nhất là Đạo hữu có biệt tài ứng đối nhanh, nổi tiếng thần đồng và là một danh kỳ hữu hạng tại quê nhà;

Lớn lên theo tân học, thông minh xuất chúng, được thầy yêu bạn mến, luôn luôn dẫn đầu lớp và chiếm đoạt khôi thủ trong tất cả các kỳ thi từ cấp tiểu học đến đại học, Đạo hữu tốt nghiệp Thủ khoa Đông dương Y sĩ khóa năm 1916 tại Trường Cao Đẳng Y khoa Đông dương Hà Nội, và Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp quốc khóa năm 1930 tại Y khoa Đại học đường Hà Nội;

Ra trường nhằm lúc Phong Trào Vua DUY TÂN KHỞI NGHĨA thất bại, bào huynh là Đông dương Y sĩ LÊ ĐÌNH DƯƠNG bị bắt đày lên Ban mê thuột, Đạo hữu bị nhà cầm quyền Thực dân Pháp tình nghi theo dõi, nên trong suốt thời gian phục vụ tại các Bệnh viện Bình Thuận, Sông Cầu, Qui Nhơn, Tuy Hòa (1916 1923) ngoài công tác chuyên môn, Đạo hữu chỉ lo học hỏi và nghiên cứu thêm về Nho, Y, Lý, Số;

Năm 1926, phụ trách Y sĩ điều trị tại Bệnh viện Hội An, trong một dịp viếng chùa TAM THAI (Ngũ Hành Sơn) được đọc bài Kệ sau đây, ghi trên vách chùa, mà Đạo hữu chú ý đến Phật Giáo:

Bồ Đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhã trần ai.[2]Tác giả là Ngài LỤC TỔ HUỆ NĂNG

Tiếp đó, được tin nhà Cách mạng PHAN CHÂU TRINH từ trần tại Saigon, Đạo hữu cùng một số Thân hào Nhân sĩ và Công chức Trí thức Quảng Nam tổ chức lễ truy điệu trọng thể và cùng thọ tang Cụ PHAN. Một tháng sau, Đạo hữu được khẩn lệnh đổi đi Hà Tĩnh;

Năm 1928, được thuyên chuyển về Huế, làm Y sĩ trưởng tại Viện Bào chế và Vi trùng hục PASTEUR, cọng tác với Bác sĩ NORMET, Giám đốc Y tế Trung phần, phát minh ra SÉRUM NORMET, được Y giới Pháp Việt đương thời rất trọng vọng.

Cũng năm ấy, Đạo hữu lên chùa TRÚC LÂM thỉnh giáo Hòa Thượng GIÁC TIÊN về thâm nghĩa bài Kệ chùa TAM THAI rồi phát tâm cùng Thượng tọa THÍCH MẬT KHẾ nghiên cứu Giáo Lý, học hỏi Kinh Điển, tụng Kinh niệm Phật và phát nguyện trường trai, làm lễ Quy Y, thọ Ưu Bà Tắc giới, có pháp danh TÂM MINH từ đó;

Năm 1929 1932, sau hai năm liền thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ (Hòa Thượng chùa THẬP THÁP, Bình Định), đồng thời chịu ảnh hưởng cuộc Trùng hưng Phật Giáo Trung Hoa của Ngài THÁI HƯ PHÁP SƯ qua sách báo HẢI TRIỀU ÂM, Đạo hữu vâng lời chư Đại Lão Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, GIÁC TIÊN, GIÁC NHIÊN, TỊNH HẠNH, TỊNH KHIẾT, đứng ra triệu tập 18 vị đồng lữ thảo Điều lệ xin thành lập HỘi AN NAM PHẬt HỌC, đặt trụ sở đầu tiên tại chùa TRÚC LÂM, do Đạo hữu làm Hội trưởng, dưới sự chứng minh sáng lập của quý vị Hòa Thượng nói trên và Đạo hữu bắt đầu thuyết pháp tại chùa TỪ QUANG, giảng giải Kinh Luận tại tư thất cho một số tín hữu nhiệt tâm cầu Đạo (quý Hòa Thượng GIẢI NGẠN, Sư Bà DIỆU KHÔNG, Thượng Tọa MINH CHÂU, lúc chưa xuất gia, đều được nối tiếp đào tạo trong những khóa giảng này);

Năm 1933, phụ trách Y sĩ Giám đốc Bệnh viện bài Lao Huế, Đạo hữu là một danh y uy tín nhất tại Đế đô.

Về Phật sự, Đạo hữu:

* Khởi công trùng tu Tổ Đình Từ Đàm làm Trụ sở Trung ương của Hội.
* Cử hành Đại Lễ Phật Đản (Mồng tám tháng Tư Âm lịch) đầu tiên vô cùng trọng thể tại chùa DIỆU ĐẾ, gây ảnh hưởng lớn lao trong mọi giới,
* Chủ trương xuất bản NGUYỆT SAN VIÊN ÂM, cơ quan ngôn luận và truyền bá Giáo Lý của Hội do Đạo hữu làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút,
* Thiết lập cơ sở đào tạo Tăng Tài: Cấp Trung Tiểu học tại chùa BẢO QUỐC do Hòa Thượng THÍCH TRÍ ĐỘ làm Dốc Giáo (quý Hòa Thượng THIỆN HOÀ, THIỆN HOA, Thượng tọa THIỆN SIÊU, TRÍ QUANG, THIỆN MINH, TRÍ TỊNH, NHẬT LIÊN… đều xuất than tại Trường này), cấp Đại học tại chùa TÂY THIÊN do chính Đạo hữu phụ trách giảng diễn về Luận Học và Triết Lý Đông, Tây (quý Hòa Thượng ĐÔN HẬU, TRÍ THỦ, MẬT HIỂN, MẬT NGUYỆN, MẬt THỂ… đều xuất thân tại Trường này),
* Xúc tiến thành lập các Tỉnh Hội, Chi Hội, Khuông Hội khắp nơi tại Trung Phần, mở đầu là Tỉnh Hội THỪA THIÊN, ĐÀ NẲNG, QUẢNG NAM…;

 Năm 1934, tuy việc chuyên môn, việc Hội, việc Báo chí, việc Phật học viện rất bề bộn, nhưng Đạo hữu không lúc nào xao lãng sự học, sự tu và sở trường của Đạo hữu là giảng diễn Phật Pháp; chính nhờ lối giải thích, trình bày Phật Pháp một cách sáng sủa, hợp cơ mà Đạo hữu đã áp dụng, một số đông đồng học, Cựu học cũng như Tân học, bình dân cũng như trí thức, đã hiểu Đạo Phật rất mau chóng và đứng đắn. Đạo hữu thật xứng đáng là một vị Pháp sư Cư sĩ, vừa Tông Thông vừa Thuyết thông khéo đưa Phật Pháp ra giữa ánh sáng như đưa viên ngọc quý ra khỏi những thế lực vô minh vùi lấp;

Mùa Đông 1934, Hòa Thượng GIÁC TIÊN viên tịch, ý thức được trách nhiệm hoằng dương Chánh pháp và duy trì sinh hoạt Giáo Hội, nên trong lời ai điếu Hòa Thượng Bổn Sư, Đạo hữu đã phát nguyện dõnh mãnh như sau:

“Kiến tướng nguyên vọng, kiến tánh nguyên chơn, viên giác diệu tâm ninh hữu ngã;
Chúc pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừa đương di huấn khởi vô nhân;”

Tạm dịch:
Tướng các Pháp tuy vọng, tánh các Pháp vốn chơn, Hòa Thượng đâu có mất, còn;
Chánh Pháp, cần phải truyền, chúng sanh cần phải độ, lời di huấn đó, con nguyện xin gánh vác
“;

Năm 1935, để thích ứng với nhu cầu tiến triển của Hội, bản Điều lệ của Hội được tu chỉnh qua quyết nghị của Đại hội đồng: Một Ban Tổng Trị Sự được thiết lập tại Huế trực tiếp điều hành các Tỉnh Hội và năm nào Đạo hữu cũng được Đại hội tín nhiệm công cử vào chức vụ Hội Trưởng hoặc Cố Vấn để điều hành Phật sự chung;

Mùa Thu năm này, Đạo hữu dời nhà từ Bệnh Viện lên ở số 31 đường Nguyễn Hoàng (dốc Bến Ngự), tiếp tục giảng Kinh, viết báo, quy tụ một số thanh niên Phật tử trí thức thành lập ĐOÀN THANH NIÊN PHẬT HỌC ĐỨC DỤC, sáng lập GIA ĐÌNH PHẬT HOÁ PHỔ (tiền thân của GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM ngày nay) nhằm duy trì đạo đức, xây dựng chánh tín cho đàn hậu thế;

Ngoài ra, theo gương Phật giáo Trung Hoa, qua nhiều năm nghiên cứu kế hoạch và vận động phương tiện, quyết tâm xây dựng nền móng vĩnh cửu cho cơ sở đào tạo Tăng Tài, năm 1944, Đạo hữu sắp xếp di chuyển các Phật học viện lên thiết trí tại Kim Sơn, thành lập TỔNG LÂM KIM SƠN (Huế), nhưng thời cuộc không cho phép, công tác đành phải tạm ngưng, sau hai năm hoạt động;

Nhờ công đức của Đạo hữu, vừa tài thí vừa Pháp thí, chủ trương và duy trì mà HỘI AN NAM PHẬT HỌC, NGUYỆT SAN VIÊN ÂM[3]Sau này, một loại sách nữa do Thanh niên Phật tử trí thức được Đạo hữu hướng dẫn biên tập, đó là PHẬT HỌC TÙNG THƯ.) và PHẬT HỌC VIỆN đã vượt khỏi mọi thăng trầm vất vả, mọi chướng ngại thế gian, gây được một thanh thế lớn giữa trào lưu PHỤC HƯNG ĐẠO PHÁP, PHỤC HƯNG DÂN TỘC, kích động PHẬT GIÁO NAM, BẮC đưa PHẬT GIÁO nước nhà từ chỗ quên lãng đến địa vị như ngày nay;

Năm 1945 sau cuộc Đảo chánh Nhật, được Chánh Phủ TRẦNH TRỌNG KIM mời giữ chức vụ Giám Đốc Y Tế Trung Phần kiêm Giám Đốc Bệnh Viện Huế;

Mùa Đông 1946, chiến cuộc bùng nổ, dân chúng Huế tản cư, Đạo hữu cùng gia đình cũng tản cư về nguyên quán Quảng nam, tham gia Kháng Chiến chống Pháp;

Năm 1947 – 1949, làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung bộ tại Liên Khu V và tập họp một số cựu Đoàn viên Thanh Niên Phật Học Đức Dục, cựu Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, cựu Hội viên Hội Phật Học cùng những phần tử trí thức Kháng Chiến thành lập PHONG TRÀO PHẬT GIÁO VÀ DÂN CHỦ MỚI do chính Đạo hữu chủ trì và hướng dẫn nghiên cứu và so sánh giữa Giáo Lý nhà Phật và Chủ thuyết Mác Lê tại Bồng Sơn (Bình Định);

Mùa Hạ 1949, được điện mời ra Bắc, đề bạt làm Chủ Tịch Phong Trào Vận Động Hòa Bình Thế Giới, mặc dù tình thế đảo điên, nhân tâm điên đảo, nhưng Đạo hữu vẫn an nhiên diễn giảng, nhân tâm điên đảo, nhưng Đạo hữu vẫn an nhiên diễn giảng, phiên dịch Phật Pháp. Cuối cùng trọn bộ KINH THỦ LĂNG NGHIÊM được dịch và xuất bản vào mùa Xuân năm Tân Sửu (1961) tại chùa QUÁN SỨ (Hà Nội) và từ trần ngày 23 04 1969 (tức ngày Mồng bảy tháng Ba năm Kỷ Dậu) tại Hà Nội. Thọ 73 tuổi.

Saigon, Mùa Vu Lan năm Quý Sửu.

References
1 Y sĩ LÊ ĐÌNH DƯƠNG tốt nghiệp Á khôi Đông dương Y sĩ khóa đầu tiên năm 1915 tại Trường Cao đẳng Y khoa Đông dương, Hà Nội, và được bổ nhiệm Y sĩ điều trị tại bệnh Viện Hội An (Quảng Nam), tham gia VIỆT NAM QUAN PHỤC HỘI, cùng với Cụ TRẦN CAO VÂN, THÁI PHIÊN, PHAN THÀNH TÀI… phụ trách lãnh đạo Phong Trào Vua DUY TÂN KHỞI NGHĨA tại nam Ngãi và bị thực dân Pháp bắt đày lên Ban mê thuột năm 1916, cuối cùng không chịu nổi sự tủi nhục và đày ải khắc nghiệt của viên Công sứ Thực dân SABATIER nên Y sĩ đã uống Cyanure de Mercure để tự sát năm 1919. Hưởng dương 26 tuổi.
2 Tác giả là Ngài LỤC TỔ HUỆ NĂNG
3 Sau này, một loại sách nữa do Thanh niên Phật tử trí thức được Đạo hữu hướng dẫn biên tập, đó là PHẬT HỌC TÙNG THƯ.

Xem thêm

Chua Viet 2

Thích Trí Hải: Hồi ký thành lập Hội PGVN | Thời kỳ thứ sáu: Giáo Hội Tăng Già Việt Nam

Có người hỏi: Trong Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đã có Tăng già rồi …

Khuong Tang Hoi

Thích Như Điển: Tổ Sư Khương Tăng Hội (?-280)

Cho đến ngày hôm nay hầu như những Sử gia Phật Giáo như Hòa Thượng …