Đại bi, lòng thương rộng lớn, là nền tảng của hạnh bồ-tát, của tâm bồ-đề. Không có đại bi thì không có Bồ-tát, không có Phật. Tất cả dụng hạnh của Bồ-tát đều khởi đi từ đại bi; bởi vì đại bi là bản thể của phương tiện[1].
Từ nơi bản thể đại bi mà mở bày phương tiện thiện xảo[2], cứu độ chúng sanh. Nhưng phương tiện thiện xảo, nếu không cùng khởi xuất từ trí bất-nhị thì chỉ là những xảo thuật của tự ngã, tôn vinh lợi ích hay danh dự cá nhân bằng phương châm lợi tha.
Trí bất-nhị là tuệ giác, là trí tuệ vượt khỏi những ý niệm về hữu-vô, sinh-diệt. Vì vậy, khi bồ-tát vận dụng phương tiện thiện xảo từ lòng đại bi, thì đồng lúc thi triển trí bất-nhị: tất cả các pháp đều huyễn hóa không thật, giống như hoa đốm giữa hư không; không thấy sự khác biệt giữa ta và người, giữa cái khổ tự thân và thống khổ của chúng sanh, giữa hiện hữu hay không hiện hữu, giữa sinh tử và niết-bàn:
“Thế gian ly sanh-diệt
Do như hư không hoa
Trí bất đắc hữu-vô
Nhi hưng đại bi tâm.”[3]
Thuật ngữ thông thường gọi là Trí tuệ và Từ bi; còn nói bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi như Thiền sư Nhất Hạnh, là Hiểu và Thương. Đây là ngôn ngữ tiếp cận xã hội, ai cũng có thể hiểu và thực hành. Nhưng để Hiểu và Thương một cách thâm sâu như Đại Trí và Đại Bi, cần triển khai đến thượng tầng tri hành của người tầm cầu giải thoát giác ngộ chứ không phải chỉ quẩn quanh với tình cảm và hành động thường tục. Có nghĩa là phải miên mật tu tập, thường xuyên quán chiếu Bốn Tâm Vô Lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả), hoặc trải qua các giai đoạn luyện tâm, phát tâm bồ-đề, mới có thể phát triển được đại bi, lòng thương rộng lớn.
Lòng thương, dù mở rộng và quy hướng đến quả vị Phật đi nữa, cũng bắt đầu từ tình thương nền tảng là thương Mẹ. Từ thương Mẹ, nhớ đến ơn sâu của Mẹ, Cha, thân thích, bằng hữu. Từ nhớ ơn, nghĩ đến báo ơn. Từ báo ơn, khởi lòng từ mong muốn lợi lạc hạnh phúc đến Cha, Mẹ, người thân. Từ niệm thương yêu (từ tâm), khởi lòng đại bi, muốn cứu khổ Cha, Mẹ, quyến thuộc, người thân, kẻ oán, và tất cả chúng sanh. Từ đại bi tâm như thế, canh cánh trong lòng ý nguyện cứu khổ ban vui cho chúng sanh, xem như là trách nhiệm phải thực hiện trong đời sống hiện thực (chứ không phải chỉ trong thiền quán). Từ hoài bão cứu độ chúng sanh, phát khởi tâm bồ-đề dũng mãnh, chỉ một lòng hướng về quả vị vô thượng chánh giác.[4]
Mọi người đều có sẵn lòng đại bi, và cũng có sẵn những phiền não tham, sân, si…; cho nên, lòng đại bi cần phải được nuôi dưỡng và phát triển qua thiền quán và qua thực nghiệm (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự)[5]. Đại bi lớn mạnh thì phiền não mới được chuyển hóa, triệt tiêu.
Đại bi không phải là tình cảm suông. Đại bi là nguồn động lực vô hình nhưng có thể chuyển động và hóa giải tất cả sức nặng của thống khổ trần gian. Không biết bố thí thì không có đại bi. Không biết nói lời chân thật, hòa nhã, thương yêu thì không có đại bi. Không biết làm việc lợi ích cho người, cho xã hội thì không có đại bi. Không biết sống hòa với cộng sự và người chung quanh thì không có đại bi.
Đại bi là mẹ của Phật. Đại bi là mẹ của chúng sanh. Không có mẹ thì không có Phật. Không có mẹ thì không có chúng sanh.
Mẹ biểu tượng, hay mẹ thực tế, đều là căn bản, là chất liệu để khai sinh một đời mới. Một hữu tình chúng sinh, hay một bồ-tát hướng về vô thượng bồ-đề.
Đó là lý do kinh Phật thường ví mẹ như Phật ở nhà; và cũng là lý do mà hình ảnh mẹ, bài ca về mẹ, luôn có mặt trong tất cả các lễ Vu Lan hàng năm.
[1] Tuệ Sỹ – Du-già Bồ-tát Giới, Hương Tích xuất bản 2019, Chương II, Bồ-đề Tâm, trang 77.
[2] “Một cách tổng quát, upāya-kauśalya, hay phương tiện thiện xảo, là trí năng nhạy bén để tiếp cận vấn đề, hay vận dụng thủ đoạn [phương tiện] một cách linh hoạt để thành tựu mục đích.” (Tuệ Sỹ – Huyền Thoại Duy-ma-cật, Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang xuất bản 2007 tại Hoa Kỳ, trang 56). Nên hiểu ở đây là pháp do đức Phật thuyết, là ngón tay chỉ mặt trăng, là ngôn ngữ văn tự dùng để thuyết minh, diễn đạt chân lý (chứ không đơn giản là phương cách hành động tùy tiện, lạm xưng là ‘phương tiện’ để thâu tóm quyền lợi, danh vị cho cá nhân hay tập thể).
[3] Kinh Lăng-già, Tôn giả Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra [394-468]), dịch từ Phạn sang Hán: “世間離生滅 / 猶如虛空花 / 智不得有無 / 而興大悲心.”
[4] Pháp tu bảy tầng nhân quả: (1) Nhớ mẹ, (2) Nhớ ơn, (3) Báo ơn, (4) Tu tập tâm Từ, (5) Tu tập tâm Bi, (6) Tu tập ý nhạo tăng thượng, và (7) Tu tập cầu tâm Bồ-đề. Xem thêm chi tiêt trong “Bồ-đề Đạo Thứ Đệ Lược Luận,” của Đại sư Tây Tạng Tsongkhapa [1357-1419], Pháp sư Đại Dũng, Pháp Tôn dịch Hán, Thích Pháp Chánh dịch Việt, trang 203-210.
[5] Tứ nhiếp pháp: bốn phương thức cảm hóa người khác một cách hữu hiệu để đưa họ vào đường chánh.

