TỪ GHÉP TRONG PHẬT HỌC (1)
Để diễn tả con đường tu tập của bồ-tát, một người sử dụng tiếng Việt sẽ nói “con đường bồ-tát”. Trong từ ghép này, “con đường” là từ chính, và “bồ-tát” là từ phụ, bồ nghĩa cho từ chính đi-trước-nó, để giúp người học hiểu đúng nghĩa của từ ghép này: đó không phải là con đường của Thanh văn, chẳng hạn.
Cũng cùng một nghĩa trên, từ ghép này có cấu trúc trong Phạn văn là “bodhisattva mārga”, trong Hán văn là “菩薩道” (bồ-tát đạo), và trong tiếng Anh là “bodhisattva path”.
Nếu đối chiếu bốn trường hợp trên với nhau, ta dễ dàng nhận ra cấu trúc từ ghép trong tiếng Việt khác hẳn với ba ngôn ngữ còn lại. Sự khác biệt này có thể khiến cho những người tu học Phật-pháp chỉ qua tiếng Việt — mà lại thiếu kiến thức về vấn đề nói trên — không hiểu đúng ý nghĩa của Phật-pháp đang được bảo lưu trong Tam Tạng Thánh Điển.
Ở đây chúng ta chỉ có thể đề cập đến một số trường hợp phổ thông và hàn lâm. Những gì còn lại sẽ tuỳ vào khả năng đọc-hiểu của từng người.
(i) “NAM-MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A-DI-ĐÀ PHẬT” là một phát biểu thuộc cấu trúc câu Hán-Việt (nguyên văn bằng chữ Hán, được dịch âm sang tiếng Việt, không thay đổi cấu trúc câu.)
— trong nhóm từ “A-di-đà Phật”, từ chính là “Phật”; từ phụ bổ nghĩa cho từ chính là “A-di-đà”. Như vậy, ý nghĩa đúng theo cấu trúc câu thuần Việt sẽ là: [vị] Phật [có danh hiệu là] A-di đà.
— trong nhóm từ “Đạo Sư”, từ chính là “sư”, từ phụ bổ nghĩa cho từ chính là “đạo” (dẫn đường; leading). Như vậy, ý nghĩa đúng của từ ghép này theo cấu trúc thuần Việt sẽ là: [vị] Thầy dẫn dẳt.
— trong nhóm từ “Tiếp Dẫn Đạo Sư”, từ ghép chính là “Đạo Sư”, từ ghép phụ là “Tiếp Dẫn” (tiếp nhận & dẫn dắt). Ý nghĩa đúng của nhóm từ này là: [vị] Đạo Sư Tiếp [nhận và] Dẫn [dắt (dòng tâm của người chết)].
Như vậy, ý nghĩa trọn vẹn của câu Hán-Việt sẽ được hiểu đúng và đủ sẽ là “[vị] PHẬT [có tên là] A-DI-ĐÀ [là bậc] ĐẠO SƯ TIẾP [nhận và] DẪN [đường cho hương linh sinh vào quốc độ an lạc (sukhavati)].
Trong thực tế tu học đã có người học tuỳ tiện cắt bỏ hai từ “TIẾP DẪN” với lập luận “Phật tử chúng ta không thể nào tiếp dẫn bậc Đạo Sư Phật A-di-đà được.”
(ii) “GIẢI THOÁT TRI KIẾN HƯƠNG” là một trong năm loại tâm-hương dùng để cúng dường Tam Bảo: giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương.
Trong nhóm từ này, “hương” là từ chính, được bổ nghĩa bởi từ phụ “tri kiến”. Ý nghĩa đầy đủ là “mùi thơm của sự thấy-biết”.
Từ phụ “tri kiến” lại được bổ nghĩa bởi từ phụ “giải thoát”. Ý nghĩa đầy đủ là “sự thấy biết về sự giải thoát”.
Trên mạng điện toán toàn cầu hiện đang có một clip giải thích nhóm từ trên là “hương thơm của sự giải thoát ra khỏi các tri kiến”, với lập luận “tri kiến là một trong những chướng ngại mà người học cần phải vượt qua hay thoát ra.”
(iii) TRÍ TUỆ BA-LA-MẬT là nhóm từ được Hán tạng dịch nghĩa & dịch âm từ chữ Phạn prajñā-pāramitā.
Trong đó, từ chính là “ba-la-mật”, được bổ nghĩa hoặc giới hạn nghĩa bởi từ phụ “trí tuệ”. Trong Phạn ngữ, “ba-la-mật” có 2 nghĩa chính là “sự viên mãn”, và “sự đến bờ kia”. Như vậy, ý nghĩa đúng của từ này là “sự viên mãn của trí tuệ”, hay “sự đi đến bờ kia của trí tuệ”.
Việc chuyển ngữ từ ghép này đúng theo cấu trúc chữ Phạn sẽ cho ta nhận ra ý nghĩa bất-nhị của thuật ngữ “prajñā” trong Phật Pháp:
— bất dị: trí tuệ của phàm phu, của A-la-hán, của Bồ-tát, và của Chư Phật đều không-khác-nhau. Bởi lẽ, nhân của trí tuệ là loại chủng tử vô lậu trong tâm của tất cả chúng sinh, đã-đang-và-sẽ hiện hành qua quá trình tu chứng Giới-Định.
— bất đồng: trí tuệ của phàm phu, A-la-hán, Bồ-tát, Chư Phật thì không-giống-nhau. Bỡi lẽ, mức độ viên mãn— hay năng lực đưa hành giả đến bờ bên kia — thì không như nhau.
Nói một cách dễ hiểu hơn, sở dĩ phàm phu chúng ta chưa thể “thành Phật”, không phải vì chúng ta không có “hạt giống” trí tuệ, mà chỉ vì chúng ta chưa làm cho hạt giống này viên mãn, chưa khai phát đủ để có thể hiện hành mầm mộng, thân, cành, hoa lá, để có đầy đủ năng lực đưa chúng ta sang bở bên kia…
TĂNG-GIÀ & TĂNG BẢO
Chữ Phạn saṃgha được Hán tạng dịch âm là 僧伽 (tăng-già). Đây là một danh từ chung (common noun), được dùng để chỉ cho một cộng đồng (community), chứ không chỉ cho bất kì một cá thể nào cả.
Phật học chia tăng-già làm 2 loại: thánh tăng-già & phàm tăng-già:
(i) THÁNH TĂNG-GIÀ (ārya saṃgha; noble saṃgha) là cộng đồng bao gồm 8 hạng thánh giả: Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất lai hướng, Bất lai quả, A-la-hán hướng, và A-lán-quả.
Tám hạng thánh giả này được xem như viên ngọc quí (ratna; ngọc; 寳; jewel); và tất cả các Pháp có khả năng dẫn người học đến 8 giai vị này trở thành một trong ba nơi nương tựa (Qui Y Thánh Tăng-già) trong suốt con đường tu tập của người học.
(ii) PHÀM TĂNG-GIÀ (saṃvṛti saṃgha; conventional saṃgha) là cộng đồng bao gồm 4 hạng tu học: tỳ-kheo & tỳ-kheo-ni là các Phật tử xuất gia; ưu-bà-tắc & ưu-bà-di là các Phật tử tại gia, hay còn gọi là nam-nữ cư-sỹ.
Một số thông tin nói trên về thuật ngữ saṃgha trong Phật giáo có thể giúp người học loại bỏ 2 mặc cảm (nếu có), trong quá trình thực hành Pháp:
(i) mặc cảm tự tôn: hai hàng Phật tử xuất gia đều là thành viên của Tăng-già (phàm tục) — nhưng không thuộc về Tăng Bảo, vì chưa tham dự được vào hàng Thánh giả.
(ii) mặc cảm tự ti: hai hàng Phật tử tại gia cũng đều là thành viên chính thức của Tăng-già (phàm tục); và đều có thể đặt chân lên con đường giải thoát & giác ngộ mà Chư Phật đã thiết định.
Y PHÁP BẤT Y NHÂN
Chữ Phạn buddha-dharma được Hán tạng (Tam Tạng Thánh Điển chữ Hán) dịch nghĩa là 佛法 (phật-pháp).
Trong danh từ kép này, chữ “phật” có hai nghĩa chính là “bậc giác ngộ viên mãn” (the fully enlightened one), và biểu tượng cho “sự giác ngộ viên mãn” (perfect enlightenment). Chữ “pháp” cũng có hai nghĩa chính là “lời dạy” hay “giáo lý” (teachings), và “sự thật” hay “chân lý” (truth).
Phương pháp tu học trong đạo Phật là văn-tư-tu. Nói đầy đủ là văn pháp – tư pháp – tu pháp.
Với nội hàm của những gì được trình bày ở trên, ta có thể rút ra hai hệ luận chính như sau:
(i) Dù sinh ra vào thời có Phật hay không có Phật xuất hiện trên thế gian thì ta vẫn có thể văn-tư-tu phật-pháp. Bởi lẽ các giáo lý và chân lý được các bậc giác ngộ viên mãn tuyên thuyết vẫn còn được bảo lưu trong các Tam Tạng Thánh Điển.
(ii) Tất cả giáo lý và chân lý được bảo lưu nói trên đều có hai tiêu chí chung là:
– dẫn người học đến sự GIẢI THOÁT ra khỏi Vòng Tái Sinh, tức không còn sinh ra trong sáu cảnh giới của chúng sinh thuộc cõi Trời, A-tu-la, Người, Loài Vật (animals), Quỉ đói, và ở Địa Ngục.
– dẫn người học đến sự GIÁC NGỘ VIÊN MÃN giống như sự giác ngộ của Chư Phật.
Tiến trình văn-tư-tu được Thánh Điển ví như một CON ĐƯỜNG (mārga; 道; path), khởi đầu từ các cảnh giới (realms) của Vòng Tái Sinh cho đến khi đạt đến sự giải thoát & giác ngộ nói trên.
Đây là một con đường có thật (ĐẠO ĐẾ; truth of the path), đã từng được tất cả các bậc giải thoát và giác ngộ đi qua. Vì thế, bất kỳ ai phát tâm đi trên con đường này đều có thể tự xem mình như những lữ khách, với một loại hành trang duy nhất là PHẬT-PHÁP.
Y LIỄU NGHĨA & BẤT Y BẤT-LIỄU-NGHĨA
Chữ Phạn nītārtha [nita + artha] được Hán tạng dịch nghĩa là 了義 (liễu nghĩa; ý nghĩa rốt ráo; definitive). Từ phản nghĩa của nó là neyārtha [neya + artha] (不了義; bất liễu nghĩa; ý nghĩa không rốt ráo; provisional).
Chúng ta có thể mượn 2 thuật ngữ triết học để tìm hiểu các từ trên:
(i) sự thật tương đối, hay qui ước (relative/conventional truth): người Việt dùng đũa làm phương tiện chính để đưa thức ăn vào miệng là một sự thật. Sự thật này có tính tương đối, vì đối lập với các trường hợp dùng các phương tiện khác như các ngón tay, muỗng, nĩa, v.v.; hoặc có tính qui ước, vì là sự thật được người Việt (chứ không phải người Anh, người Pháp, v.v.) cùng qui ước với nhau.
(ii) sự thật tuyệt đối, hay tối hậu (absolute/ultimate truth): “thân người được nuôi dưỡngq bằng thức ăn” là một sự thật tuyệt đối, vì không có trường hợp ngược lại; hoặc tối hậu vì không còn trường hợp nào ngoại lệ.
Thánh điển ghi lại rằng có lần Đức Phật đã khuyên người dân ở thành Kalama, đại ý là “đừng vội tin những gì đã được nghe, được dạy, được biết, mà hãy dùng lý trí để xem những điều đó có hợp lý hay không”.
Rồi có lần Đức Phật lại khuyên các tỳ-kheo, đại ý là “hãy tin vào sự giác ngộ và các danh hiệu của Như Lai”.
Nếu đối chiếu 2 trường hợp trên thì ta có thể rút ra một số hệ luận như sau:
(i) nếu lời dạy đầu là sự thật tuyệt đối — hay có ý nghĩa rốt ráo, có thể dẫn đạo con đường tu tập của chúng ta — thì làm thế nào chúng ta có thể dùng lý trí để biết được những gì có tên là giác ngộ (bodhi), niết-bàn (nirvana), Như Lai (tathagata), v.v., là hợp lý hay không hợp lý, là có thật hay không có thật?
(ii) nếu không thể tự thân thực chứng (realizing) các điều trên, đồng thời cũng không thể tin chúng là có thật thì chắc chắn chúng ta phải chấp nhận suốt đời đắm chìm trong vô minh, trong trói buộc, trong phiền não nhiễm ô.
(ii) may mắn thay Thánh điển còn bảo lưu lời dạy thứ hai của Đức Phật, có thể giúp chúng ta hiểu ra rằng Trung Đạo mới là sự thật tuyệt đối, là giáo pháp liễu-nghĩa, có thể dẫn dắt chúng ta không bị lạc vào tà đạo:
— không phải TIN: nếu chỉ tin thôi mà không thực hành thì không thể đặt chân lên con đường giải thoát;
— không phải KHÔNG TIN: nếu không tin Phật là biểu tượng cho sự Giác Ngộ, không tin Pháp là biểu tượng cho sự Giải Thoát, không tin Tăng-già là biểu tượng cho sự Thanh Tịnh, thì suốt đời suốt kiếp chúng ta cũng không thế nào đặt chân lên con đường giải thoát.

