CÁC LOẠI HÌNH TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA:
TỪ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐẾN TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM
TÓM TẮT
Bài viết hệ thống ngắn gọn các loại hình Tịnh độ trong lịch sử Phật giáo Đại thừa, bao gồm: Tịnh độ A-súc-bệ Phật (cổ xưa nhất, trọng tâm đoạn trừ sân hận, điều kiện vãng sinh khắt khe đòi hỏi tu hành lục độ); Tịnh độ Di-lặc (duy nhất nằm trong cõi trời Đâu-suất thuộc Dục giới, điều kiện đơn giản chỉ cần nghe danh, lễ bái, phát nguyện); Tịnh độ Dược Sư (mười hai đại nguyện chữa lành thân tâm bệnh khổ hiện đời, dung hợp yếu tố Mật giáo thông qua thần chú); Tịnh độ Văn Thù (vị Bồ-tát đã thành Phật từ lâu nhưng không màng thành Phật, lấy trí tuệ làm chính, được cho là vượt trội hơn cả Tịnh độ A-di-đà); và Tịnh độ Duy Tâm (khẳng định “tâm tịnh thì độ tịnh”, Tịnh độ không ở phương xa ngoài thế giới Ta-bà mà ngay trong tâm mỗi người, đỉnh cao của tư tưởng tự lực và hướng nội).
Các loại hình Tịnh độ khác biệt rõ rệt về vị trí (từ phương Đông, cung trời, cho đến nội tâm), bản nguyện (từ đoạn trừ sân, cứu khổ cho đến giác ngộ), và phương thức tu chứng (từ khắt khe đến đơn giản). Dòng chảy phát triển đi từ Tịnh độ A-súc (sớm nhất), qua Di-lặc, chịu ảnh hưởng đỉnh cao của A-di-đà, rồi đến Dược Sư (chịu ảnh hưởng Mật giáo), Văn Thù (đối thoại với A-di-đà), và cuối cùng là Tịnh độ Duy tâm (đỉnh cao phản tỉnh, ảnh hưởng bởi Duy thức và Thiền tông). Tại Việt Nam hiện nay, Tịnh độ Tây phương A-di-đà chiếm ưu thế tuyệt đối do tính đơn giản và ảnh hưởng lịch sử; Dược Sư và Di-lặc cũng có mặt nhưng ở mức độ khiêm tốn; Duy tâm chủ yếu được giới trí thức quan tâm, thực nghiệm. Bài viết cũng chỉ ra các thách thức như sự pha tạp, thiếu hệ thống trong giáo dục, và xu hướng cầu lợi ích trước mắt thỏa mãn giải thoát.
Các loại hình Tịnh độ là những phương tiện thiện xảo đa dạng, chúng đáp ứng nhiều hạng căn cơ và nhu cầu khác nhau của chúng sinh, từ tha lực thuần túy đến tự lực giác ngộ. Bài viết đề xuất nhiều hướng nghiên cứu mới tạo phần đa dạng cách thức tiếp cận cũng như thực hành các loại hình Tịnh độ có hiệu quả. Kết luận nhấn mạnh sự cần thiết phát triển hài hòa các loại hình Tịnh độ, đặc biệt chú trọng tư tưởng Duy tâm vì phù hợp với tinh thần tự lực và khát vọng làm chủ đời sống của con người hiện đại.
MỞ ĐẦU
Tư tưởng Tịnh độ thường được biết đến với tên gọi “Tịnh độ tông” là một trong những dòng chảy quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, với ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của các dân tộc Á Đông. Từ sự xuất hiện của Tịnh độ A-súc-bệ Phật, Tịnh độ Di-lặc, Tịnh độ A-di-đà, Tịnh độ Dược Sư, Tịnh độ Văn Thù, cho đến Tịnh độ Duy Tâm, mỗi loại hình đều mang trong mình những đặc trưng riêng về bản nguyện, phương thức tu chứng và thế giới trang nghiêm kỳ diệu. Bài tiểu luận này nhằm giới thiệu một cách có hệ thống ngắn gọn nhất về các loại hình Tịnh độ, đồng thời phân tích sự khác biệt và tương đồng giữa chúng, từ đó liên hệ đến tình hình tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam hiện đại và đề xuất những hướng nghiên cứu mới.
I. TỊNH ĐỘ A-SÚC-BỆ PHẬT – TỊNH ĐỘ CỔ XƯA NHẤT
1.1. Nguồn gốc và bản nguyện
Tịnh độ A-súc-bệ Phật (Akṣobhya Buddha), còn gọi là Tịnh độ Diệu Hỷ, Hoan Hỷ hoặc Diệu Hỷ, được xem là Tịnh độ cổ xưa nhất trong các kinh điển Tịnh độ còn tồn tại. Trong A-súc Phật quốc kinh (阿閔佛国經), phần Phát ý thọ tuệ phẩm (發意受慧品) do ngài Chi-lâu Ca-sấm dịch vào đời Hậu Hán ghi lại quá trình tu chứng của vị Phật này:
“Ở phương Đông, cách đây một nghìn cõi Phật, có một thế giới tên là A-tỳ-la-đề. Đức Phật cõi đó hiệu là Đại Mục Như Lai, là bậc Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Giác, đang vì các Bồ-tát thuyết giảng về pháp sáu pháp Ba-la-mật (lục độ vô cực) và con đường tu hành.
Khi ấy, có một vị tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh sửa y phục, quỳ gối phải chạm đất, chắp tay hướng về đức Đại Mục Như Lai và bạch rằng: ‘Bạch Đức Thế Tôn (Thiên trung thiên)! Con muốn noi theo hạnh nguyện của các vị Bồ-tát, học hỏi những gì đáng học.’
Này Xá-lợi-phất! Đức Đại Mục Như Lai liền bảo vị tỳ-kheo ấy rằng: ‘Việc noi theo hạnh nguyện để học đạo Bồ-tát quả thật rất khó. Tại vì sao vậy? Vì Bồ-tát đối với tất cả chúng sinh, từ con người cho đến các loài côn trùng bay nhảy, bò sát, đều không được khởi tâm sân hận’.”[1]
Như vậy, điểm đặc biệt của A-súc Phật là bản nguyện hướng đến sự đoạn trừ sân hận tận cùng. Bản nguyện của ngài được chia thành hai phần: Tự hành nguyện (12 nguyện) và Tịnh độ nguyện (20 nguyện). Trong đó, nổi bậc ở nguyện thứ nhất:
“Vị tỳ-kheo ấy bạch rằng: ‘Bạch Đức Thế Tôn (Thiên trung thiên)! Con phát tâm cầu trí tuệ nhất thiết chủng (tức tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác). Nếu con đã phát nguyện chân thật này để cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà sau đó:
Thứ nhất, đối với tất cả chúng sinh, từ con người đến các loài côn trùng bay nhảy, bò sát, lại khởi tâm sân hận;[…] Cho đến khi thành tựu quả vị Chánh giác tối thượng, nếu con khởi bất kỳ tâm niệm nào như trên, thì con chính là đã lừa dối chư Phật, Thế Tôn – những đức Phật, bậc Thiên trung thiên đang hiện tiền thuyết pháp ở vô lượng thế giới không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn’.”[2]
Như trên, cho thấy trọng tâm tu tập của Tịnh độ A-súc Phật này là sự bất động trước mọi phiền não, đặc biệt là sân hận – một trong ba độc căn bản.
1.2. Đặc điểm của Tịnh độ A-súc
Cõi Diệu Hỷ được mô tả với những đặc điểm nổi bật: “Ánh sáng của đức A-súc Như Lai chiếu sáng khắp cả tam thiên đại thiên thế giới, thường xuyên sáng ngời. Ánh sáng của đức A-súc Như Lai che khuất hoàn toàn ánh sáng của mặt trời và mặt trăng.” Hoặc như: “Đất đai bằng phẳng, cây cối mọc lên không có cao thấp, không có đồi núi, khe suối, cũng không có đá sỏi hay núi lở. Trên mặt đất ấy, khi bước chân đạp xuống thì liền lún xuống, vừa nhấc chân lên thì lại trở lại như cũ. Ví như gối đầu bằng nệm gấm, khi gối đầu lên thì nệm lún xuống, vừa nhấc đầu lên thì lại trở lại như cũ; mặt đất ở đây cũng như vậy.”[3]
Đặc biệt, Tịnh độ này có sự bình đẳng tuyệt đối giữa mọi người: “Trong cõi Phật ấy, tất cả mọi người đều không có sắc diện xấu xí, cũng không có kẻ nào xấu xa. Lòng tham dâm, sân hận, ngu si đều ít ỏi. Người dân trong cõi Phật đó đều không có việc bị giam cầm trong ngục thất, tất cả đều không có các tà đạo, ngoại đạo.”[4]
1.3. Điều kiện vãng sinh
Điều kiện để vãng sinh Tịnh độ A-súc tương đối nghiêm ngặt, đòi hỏi sự thực hành trọn vẹn lục độ từ hành giả: “Hãy học theo hạnh nguyện mà A-súc Phật đã thực hành khi còn tu Bồ-tát đạo. Hãy phát nguyện như vậy: ‘Nguyện cho con được sinh về cõi Phật của A-súc.’ Bồ-tát Ma-ha-tát nhờ thực hành theo hạnh nguyện này mà được sinh về cõi Phật đó.”[5]
Chính vì điều kiện khắt khe này, dù Tịnh độ A-súc được biết đến rộng rãi trong giới Phật giáo Trung Quốc từ thời Đông Tấn, nhưng “Tịnh độ A-súc Phật trong giới Phật giáo Trung Quốc (nội địa) tự nhiên được mọi người biết đến rộng rãi, nhưng vì việc tu tập để vãng sinh không dễ dàng, nên không hình thành được niềm tin vãng sinh.”[6]
II. TỊNH ĐỘ DI-LẶC – TỊNH ĐỘ TRONG TAM GIỚI
2.1. Nguồn gốc và sự hình thành
Khác với các Tịnh độ khác, Tịnh độ Di-lặc vốn không phải do Di-lặc xây dựng, mà là nơi ở sẵn có của các vị Bồ-tát Bổ xứ tại cung trời Đâu-suất. Tín ngưỡng Di-lặc có nguồn gốc từ thời kỳ Phật giáo Bộ phái được ghi chép trong Trung A-hàm kinh (中阿含經): “Trong tương lai xa xôi, khi tuổi thọ con người là 80.000 năm, lúc đó sẽ có một vị Phật (xuất hiện) hiệu là Di-lặc Như Lai.”[7]
Tịnh độ Di-lặc được hình thành muộn hơn Tịnh độ A-súc, vào khoảng thế kỷ 3-5 sau Tây lịch, và mang dấu ấn của tư tưởng “sinh thiên” từ thời Tiểu thừa. Đặc điểm nổi bật của Tịnh độ này là nó nằm trong Tam giới – cụ thể là cõi trời Đâu-suất thuộc Dục giới, trở thành Tịnh độ duy nhất trong Tam giới.
2.2. Đặc điểm của Tịnh độ Di-lặc
Cảnh giới Đâu-suất nội viện được mô tả vô cùng trang nghiêm: “Tự nhiên xuất hiện năm trăm ức châu báu, lưu ly, pha lê, đủ mọi màu sắc, không thiếu thứ gì, như châu Ma-ni màu tím, trong suốt cả trong lẫn ngoài. Ánh sáng của châu Ma-ni này xoay quanh không trung, hóa thành bốn mươi chín tầng cung điện quý báu vi diệu […] các thiên nữ tự nhiên cầm các nhạc cụ, cùng nhau ca hát nhảy múa, lời ca ngợi ca mười điều thiện và bốn đại nguyện.”[8]
Điểm đặc sắc của Tịnh độ Di-lặc là tính “kép”: vừa là nơi thượng sinh lên cung trời Đâu-suất (gặp Bồ-tát Di-lặc), vừa hứa hẹn sự hạ sinh xuống nhân gian (gặp đức Phật Di-lặc) trong tương lai, biến thế giới loài người thành thiên đường: “Đất đai bằng phẳng, trong sạch như gương lưu ly… Rừng cây sum suê, hoa trái ngọt ngào, thơm ngon… Thành ấp liền kề, gà bay liệng đến tận nơi… Trí tuệ uy đức đầy đủ, năm dục lạc sung túc, an vui ổn định, không có các bệnh khổ do nóng lạnh, gió lửa, cũng không có chín loại tai ương. Tuổi thọ đầy đủ tám vạn bốn nghìn năm, không có chết yểu.”[9]
2.3. Bản nguyện và phương thức tu chứng
Bản nguyện của Di-lặc có nội dung đơn giản, tập trung vào việc thành tựu mười điều thiện: “Khi Di-lặc Bồ-tát tu hành Bồ-tát đạo trong quá khứ, Ngài đã phát nguyện rằng: ‘Nếu có chúng sinh nào giảm bớt tham dục, sân hận và si mê, tu thành tựu mười điều thiện, thì khi đó ta mới thành tựu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’.”[10]
Điều kiện vãng sinh tương đối đơn giản, có tính đến căn cơ của chúng sinh: “Nếu có người siêng năng tu các công đức, giữ gìn oai nghi, quét dọn tháp Phật, dùng các loại hương hoa quý để cúng dường… những người như vậy nên chí tâm, dù chưa đoạn trừ phiền não, nhưng được sáu thần thông, nên chuyên tâm niệm tưởng hình tượng Phật, xưng danh Di-lặc.”[11]
Đặc biệt, có những phương pháp cực kỳ đơn giản: “Chỉ cần nghe danh hiệu Bồ-tát Di-lặc, chắp tay cung kính, người đó trừ được năm mươi kiếp tội sinh tử. Nếu có người đảnh lễ Di-lặc, trừ được trăm ức kiếp tội sinh tử.”[12]
III. TỊNH ĐỘ DƯỢC SƯ – GIỮA TỊNH ĐỘ VÀ MẬT GIÁO
3.1. Bản nguyện chữa lành
Tịnh độ Dược Sư Phật được hình thành muộn hơn, chịu ảnh hưởng từ cả Tịnh độ A-di-đà và Mật giáo. Mười hai đại nguyện của đức Phật Dược Sư tập trung vào việc cứu khổ hiện đời: “Nguyện rằng những người bệnh tật đau đớn, không nơi nương tựa, không thuốc men, nghèo khổ cùng cực, khi nghe danh hiệu của tôi, bệnh tật sẽ tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia đình và của cải đều đầy đủ, cuối cùng đạt được Vô thượng Bồ-đề.”[13]
Điểm đặc biệt là đức Phật Dược Sư quan tâm đến cả những nhu cầu vật chất cơ bản: “Nguyện rằng những người bị đói khát hành hạ, vì miếng ăn mà tạo ác nghiệp, khi nghe danh hiệu của con, chuyên tâm trì niệm, con sẽ ban cho họ thức ăn ngon lành, sau đó dùng pháp vị khiến họ đạt được an lạc tối thượng.”[14]
3.2. Đặc điểm và sự dung hợp Mật giáo
Điểm dễ nhận thấy, Tịnh độ Dược Sư được mô tả tương tự như Tịnh độ Tây phương: “Cõi Phật đó luôn thanh tịnh, không có người nữ, cũng không có ác đạo và những âm thanh khổ đau. Đất làm bằng lưu ly, đường đi được phân định bằng dây vàng, thành quách, cung điện, lầu gác, cửa sổ, lưới báu đều được làm bằng bảy báu. Cảnh giới này cũng trang nghiêm như thế giới Cực Lạc phương Tây, không gì khác biệt.”[15]
Tuy nhiên, điểm đặc trưng nhất của Tịnh độ Dược Sư là sự dung hợp với yếu tố Mật giáo, thể hiện qua thần chú: “Đức Phật Dược Sư do bản nguyện lực quán sát chúng sinh gặp phải các bệnh khổ […] để giúp những người này tiêu trừ bệnh khổ và đạt được nguyện vọng, đức Phật nhập vào tam-muội gọi là Diệt trừ mọi khổ đau của chúng sinh. Sau khi nhập định, từ nhục kế trên đỉnh đầu Ngài phóng ra ánh sáng lớn, trong ánh sáng đó Ngài tuyên thuyết đại thần chú.”[16]
Điều này phản ánh xu hướng Mật giáo hóa trong giai đoạn suy thoái của tư tưởng Tịnh độ. Sự xuất hiện của thần chú trong một kinh điển Tịnh độ là một bước ngoặt phương pháp luận: từ chỗ dựa vào nguyện lực (tha lực) và tín – hạnh – nguyện (đặc trưng Tịnh độ truyền thống), sang dựa vào chú lực (năng lực thần bí của âm thanh/ngôn ngữ thiêng) – một đặc trưng của Mật giáo.
IV. TỊNH ĐỘ VĂN THÙ – BỒ-TÁT KHÔNG THÀNH PHẬT
4.1. Nguồn gốc và thân phận đặc biệt
Văn Thù Bồ-tát là hiện thân của trí tuệ, có thân phận đặc biệt – vừa là Bồ-tát, vừa là Phật đã thành tựu từ lâu (cổ Phật). Trong Thủ lăng nghiêm tam-muội kinh (首楞嚴三昧經) do Cưu-ma-la-thập dịch thời Diêu Tần nói rằng, trong quá khứ có một vị Phật hiệu là Long Chủng Thượng Như Lai[17], cõi nước của Ngài ở phương Nam, tên là Bình Đẳng. Vị Long Chủng Thượng Phật này, trong Đại trí độ luận (大智度論) quyển 29 được gọi là Long Chủng Tôn[18], trong Đại thừa Bổn sanh tâm địa quán kinh (大乘本生心地觀經) quyển 3 được gọi là Long Chủng Tịnh Trí Tôn Vương Phật[19], đều chính là Văn Thù Sư Lợi ngày nay.
Sở dĩ Văn Thù không thành Phật, các kinh điển giải thích: “Xưa là thầy của Năng Nhân (đức Phật Thích-ca), nay là đệ tử của Phật. Hai bậc tôn quý không cùng giáo hóa, nên ta làm Bồ-tát.”[20] Hoặc như: “Dù đã đắc Phật đạo, chuyển Pháp luân, nhưng không từ bỏ đạo Bồ-tát, đó mới là hạnh Bồ-tát.”[21]
4.2. Bản nguyện xây dựng Tịnh độ
Bản nguyện của Văn Thù gồm 13 nguyện, phong phú và có nhiều điểm tương đồng với Tịnh độ A-di-đà như thế giới được bao quanh bởi bức tường lớn bằng bảy báu, cao đến cõi Vô sắc. Đất làm bằng lưu ly xanh biếc, không có bụi bẩn, đá sỏi, gai góc hay ô uế. Không có sự xúc chạm xấu ác. Không có phụ nữ và cả tên gọi của họ. Tất cả chúng sinh đều hóa sinh.[22]
4.3. Giá trị vượt trội
Trong Văn Thù Sư Lợi Phật độ nghiêm tịnh kinh (文殊師利佛土嚴净經) đã so sánh Tịnh độ Văn Thù vượt trội hơn Tịnh độ Tây phương: “Muốn biết công đức và sự trang nghiêm của thế giới An Dưỡng (Tây Phương Cực Lạc) của đức Phật Vô Lượng Thọ, so với Tịnh độ của Văn Thù Sư Lợi, thật khó mà so sánh được! Dùng ví dụ mà nói, như lấy một sợi lông chia làm trăm phần, rồi lấy một phần nhỏ như giọt nước biển, thì công đức của Phật Vô Lượng Thọ chỉ như một phần sợi lông, một giọt nước đó. Còn Tịnh độ của Văn Thù Sư Lợi thành Phật thì rộng lớn như biển cả, cao vời vợi, không thể nghĩ bàn.”[23]
Sự so sánh này cho thấy Tịnh độ Văn Thù được hình thành sau Tịnh độ A-di-đà.
V. TỊNH ĐỘ DUY TÂM – TỊNH ĐỘ NGAY TRONG TÂM
5.1. Cốt lõi triết học
Khác với các Tịnh độ khác là những thế giới ở phương xa, Tịnh độ Duy Tâm khẳng định Tịnh độ ngay trong tâm mỗi người tu hành. Trong Duy-ma-cật sở thuyết kinh (維摩詰所說經) đã đặt nền tảng chắc chắn rằng: “Nếu Bồ-tát muốn đạt được Tịnh độ, trước hết phải làm cho tâm mình thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh.”[24] Lại như: “Bồ-tát chọn lấy cõi Tịnh độ đều là vì lợi ích của chúng sinh. Ví như có người muốn xây dựng cung điện trên đất trống, có thể tùy ý mà làm, nhưng nếu xây giữa hư không thì không thể thành tựu. Bồ-tát cũng vậy, vì muốn thành tựu chúng sinh nên nguyện lấy cõi Phật. Nguyện lấy cõi Phật không phải là từ hư không.”[25]
5.2. Quá trình xây dựng Tịnh độ Duy Tâm
Quá trình xây dựng Tịnh độ Duy Tâm được mô tả như một chuỗi nhân quả từ tâm đến cảnh: “Tùy theo tâm chân thật mà có thể phát khởi hành động, tùy theo hành động mà đạt được tâm sâu sắc, tùy theo tâm sâu sắc mà ý được điều phục, tùy theo sự điều phục mà thực hành đúng như lời dạy, tùy theo việc thực hành đúng lời dạy mà có thể hồi hướng, tùy theo hồi hướng mà có phương tiện thiện xảo, tùy theo phương tiện mà thành tựu chúng sinh, tùy theo việc thành tựu chúng sinh mà cõi Phật thanh tịnh.”[26]
5.3. Tịnh độ Linh Sơn và Hoa Tạng
Trong Diệu pháp liên hoa kinh (妙法蓮華經) mô tả Tịnh độ Linh Sơn – nơi đức Phật Thích-ca thường trú bất diệt: “Ta đã thành Phật đến nay đã từ vô lượng kiếp, thọ mạng vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, thường trú bất diệt. Này các thiện nam tử, thọ mạng mà ta đã đạt được khi hành Bồ-tát đạo vẫn chưa hết, thậm chí còn gấp nhiều lần hơn thế. Tuy nhiên, nay ta không thực sự nhập Niết-bàn, nhưng ta tuyên bố rằng ta sẽ nhập Niết-bàn.”[27]
Lại nói: “Từ đó đến nay, qua vô lượng kiếp, vì muốn độ chúng sinh, ta phương tiện thị hiện Niết-bàn, nhưng thực tế ta không nhập Niết-bàn, mà vẫn thường trú ở đây để thuyết pháp. Ta thường trú ở đây, dùng các thần thông lực, khiến cho chúng sinh điên đảo, dù gần mà không thấy được.”[28]
Thế giới Liên Hoa Tạng trong Hoa nghiêm kinh (華嚴經) và thế giới Liên Hoa Đài Tạng trong Phạm võng kinh (梵網經) cũng đều là Tịnh độ duy tâm. Trong Hoa nghiêm kinh phát triển thành thuyết “Tam giới duy tâm”: “Tam giới hư vọng, duy tâm sở tạo.”[29] Hoặc nói: “Tâm như họa sư, vẽ ra các ấm, tất cả thế giới, không gì không do tâm tạo.”[30]
Đỉnh cao là sự đồng nhất giữa tâm, Phật và chúng sinh: “Tâm và Phật như nhau, Phật và chúng sinh cũng vậy. Tâm, Phật và chúng sinh, ba thứ không khác biệt.”[31]
VI. SO SÁNH ĐỐI CHIẾU CÁC LOẠI HÌNH TỊNH ĐỘ
6.1. Bảng so sánh tổng quan
| Tiêu chí | A-súc-bệ | Di-lặc | Dược Sư | Văn Thù |
Duy Tâm |
| Vị trí | Phương Đông | Đâu-suất (Dục giới) | Phương Đông | Khắp mười phương | Ngay trong tâm |
| Bản nguyện | 12+20 nguyện | Thành tựu 10 thiện | 12 đại nguyện | 13 đại nguyện | Không có |
| Trọng tâm | Đoạn trừ sân hận | Tương lai hạ sinh | Chữa lành hiện tại | Trí tuệ | Tâm tịnh thì độ tịnh |
| Điều kiện vãng sinh | Khắt khe (lục độ) | Đơn giản (nghe danh, lễ bái) | Trung bình | Cao | Không cần vãng sinh |
| Thời điểm hình thành | Sớm nhất (trước thế kỷ 2) | Thế kỷ 3-5 sau Tây lịch | Muộn (sau Tịnh độ A-di-đà) | Muộn (chịu ảnh hưởng Tịnh độ A-di-đà) | Phát triển mạnh từ thế kỷ 4 sau Tây lịch |
6.2. Phân tích điểm khác biệt cốt lõi
Trước tiên, về vị trí tồn tại, chúng ta có thể thấy rõ sự phân hóa từ tha giới xa xôi đến ngay trong tâm. Các loại hình tịnh độ như A-súc Phật, Dược Sư Phật, Văn Thù Bồ-tát đều được mô tả nằm ở phương Đông hoặc những cõi giới cụ thể bên ngoài thế giới Ta-bà, thể hiện niềm tin vào tha lực và sự cần có một thế giới riêng biệt lý tưởng để hướng về. Trong khi đó, tịnh độ Di-lặc có vị trí đặc biệt hơn khi vẫn nằm ở cõi trời Đâu-suất thuộc Dục giới, như một bước đệm trung gian gần gũi với chúng sinh Ta-bà nhất. Sự khác biệt lớn nhất thuộc về tịnh độ Duy tâm khi khẳng định rằng không có vị trí địa lý ngoài nào cả, tịnh độ ngay tại tâm – đỉnh cao của tư tưởng tự lực và hướng nội. Sự chuyển dịch này phản ánh quá trình nội tại hóa tôn giáo rõ rệt, từ đức tin tha lực thuần túy tiến sang giác ngộ ngay trong hiện tại.
Thứ hai, về bản nguyện riêng, mỗi loại hình tịnh độ phản ánh một phương diện giáo lý và một nhu cầu tâm linh khác nhau của từng hạng chúng sinh. A-súc Phật với bản nguyện đoạn trừ sân hận phù hợp với bối cảnh Phật giáo sơ kỳ, sân là một trong ba độc căn bản cần được đối trị mạnh mẽ. Di-lặc chỉ có một bản nguyện đơn giản, không yêu cầu cao, nhằm tiếp cận đại chúng bình dân ít có điều kiện tu tập. Dược Sư với mười hai đại nguyện tập trung vào cứu khổ đầy dãy hiện đời như bệnh tật, nghèo đói, tà kiến – đáp ứng nhu cầu an sinh và chữa lành thiết thực nhất. Đặc biệt, Văn Thù tuy có mười ba đại nguyện nhưng lại không muốn thành Phật, thể hiện tinh thần Đại thừa cao cả khi trì hoãn sự giác ngộ để cứu độ chúng sinh. Như vậy, mỗi bản nguyện chính là một liệu pháp tâm linh phù hợp với từng nhóm căn cơ chúng sinh khác nhau.
Thứ ba, về phương thức tu chứng, các loại hình tịnh độ thể hiện một quang phổ đa dạng từ khắt khe đến đơn giản, từ nghi lễ đến triết lý. A-súc Phật đòi hỏi sự tu tập lục độ và hạnh nguyện lớn, dành cho những người có căn cơ cao. Di-lặc chỉ cần tín niệm và lễ bái đơn giản, phù hợp với số đông. Dược Sư mang màu sắc tạp mật với chú thuật và hình thức nghi lễ cầu an, giải hạn. Cuối cùng, tịnh độ Duy tâm không còn hình thức vãng sinh mà là con đường kiến tánh, quán tâm – chỉ dành cho những người có trình độ tuệ giác sâu sắc. Sự đa dạng về phương tiện thiện xảo này cho thấy Phật giáo Đại thừa rất linh hoạt trong việc tiếp cận con người, tùy theo căn cơ sai biệt mà có pháp môn phù hợp, từ đức tin thuần túy đến trí tuệ giải thoát.
6.3. Mối quan hệ ảnh hưởng
Dòng chảy phát triển của tư tưởng Tịnh độ có thể hình dung như một quá trình tiến hóa qua các giai đoạn nối tiếp nhau, mỗi loại hình đều kế thừa và phát triển từ những loại hình trước đó. Khởi nguyên là tịnh độ A-súc Phật xuất hiện sớm nhất trước thế kỷ thứ hai, còn nặng tính tu chứng cá nhân với yêu cầu lục độ, chưa được phổ cập hóa rộng rãi. Tiếp đến là tịnh độ Di-lặc hình thành từ thế kỷ thứ ba đến thứ năm, đánh dấu sự chuyển hướng từ tu chứng khó sang tín niệm dễ, gần gũi với tín ngưỡng dân gian về cõi trời. Sau đó, tịnh độ A-di-đà tuy không nằm trong bảng so sánh nhưng chính là mô hình đỉnh cao và hoàn chỉnh nhất, với tha lực thuần túy và tịnh độ Cực Lạc trở thành chuẩn mực ảnh hưởng đến tất cả các loại hình sau. Dược Sư xuất hiện muộn hơn A-di-đà, kế thừa cấu trúc tịnh độ phương Đông nhưng thêm yếu tố chữa lành, trì chú và nghi lễ, cho thấy rõ ảnh hưởng của Mật giáo thịnh hành. Văn Thù ra đời trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của A-di-đà, như một sự đối thoại khi vẫn có tịnh độ nhưng nhấn mạnh trí tuệ và không chấp vào hình tướng. Cuối cùng, Duy tâm phát triển mạnh từ thế kỷ thứ tư, là đỉnh cao của sự phản tỉnh khi phê phán xu hướng cầu cõi ngoài và khẳng định “tâm tịnh thì độ tịnh”, chịu ảnh hưởng lớn từ Duy thức và sau này là Thiền tông. Nhìn chung, các loại hình tịnh độ không loại trừ hay thay thế lẫn nhau, mà chúng bổ sung, kế thừa và tiếp nối lẫn nhau, tạo thành một hệ sinh thái tâm linh phong phú, đáp ứng từ nhu cầu đức tin đơn giản đến triết lý cao siêu, từ hướng ngoại cầu sinh tha lực đến hướng nội giác ngộ tâm linh.
VII. LIÊN HỆ ĐẾN TÌNH HÌNH TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
7.1. Thực trạng thờ tự và tín ngưỡng
Tại Việt Nam hiện nay, tín ngưỡng Tịnh độ phổ biến nhất là Tịnh độ Tây phương A-di-đà. Điều này thể hiện qua hệ thống chùa chiền phụng thờ Tam Thánh Tây phương gồm A-di-đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, qua pháp tu niệm Phật được truyền bá rộng rãi trong các tông phái, cùng với các khóa tu và pháp hội Tịnh độ diễn ra thường xuyên. Bên cạnh đó, các loại hình Tịnh độ khác cũng hiện diện nhưng với mức độ khác nhau. Tịnh độ Dược Sư được thờ phổ biến trong nhiều chùa với tượng Dược Sư Phật tay trái cầm bát cam lộ, tay phải cầm viên thuốc, và tín đồ thường cầu nguyện Ngài khi gặp bệnh tật hay tai ương. Tịnh độ Di-lặc thường xuất hiện với tượng Di-lặc mỉm cười, tượng trưng cho sự an vui và hứa hẹn một tương lai tốt đẹp; tuy nhiên, tín ngưỡng Di-lặc tại Việt Nam thiên về “hạ sinh” (Di-lặc sẽ xuống thế thành Phật cứu độ) hơn là “thượng sinh” lên cung trời Đâu-suất. Riêng Tịnh độ Duy tâm chủ yếu được giới trí thức và các nhà nghiên cứu Phật học quan tâm, thể hiện qua việc giảng dạy về “Phật tại tâm”, “Tịnh độ tại tâm”, hoặc như “Tâm tịnh thế giới tịnh”.
7.2. Nguyên nhân của sự phổ biến khác biệt
Sở dĩ Tịnh độ Tây phương A-di-đà chiếm ưu thế tại Việt Nam có thể lý giải qua ba nguyên nhân chính. Thứ nhất là tính đơn giản hóa của pháp môn này: chỉ cần nhất tâm niệm Phật, không đòi hỏi những điều kiện tu tập phức tạp như các tịnh độ khác. Thứ hai là ảnh hưởng lịch sử: từ Trung Quốc, Tịnh độ tông đã du nhập vào Việt Nam rất sớm và phát triển mạnh mẽ qua nhiều thế kỷ. Thứ ba là nhu cầu tâm linh: lời hứa về sự vãng sinh sau khi lâm, chung đến cõi Cực Lạc đáp ứng sâu sắc nhu cầu an ủi tinh thần trước nỗi sợ hãi cái chết và khát vọng về một thế giới lý tưởng. Ngược lại, Tịnh độ A-súc cần có điều kiện vãng sinh quá khắt khe đòi hỏi lục độ và hạnh nguyện lớn; Tịnh độ Văn Thù mang tính triết lý tu hành cao, khó tiếp cận với đại chúng; Tịnh độ Duy tâm lại đòi hỏi sự tự giác và tự chứng ngộ – tất cả những yếu tố này đều khó có thể phổ biến rộng rãi trong tầng lớp bình dân.
7.3. Những thách thức đương đại
Trong bối cảnh xã hội hiện đại hóa và biến đổi tư tưởng nhanh chóng, tín ngưỡng Tịnh độ tại Việt Nam đang đối diện với không ít thách thức. Thứ nhất là sự pha tạp: tình trạng lẫn lộn giữa các loại hình Tịnh độ dẫn đến việc hiểu sai về bản chất và đặc điểm riêng của từng pháp môn. Thứ hai là sự thiếu hệ thống: trong giáo dục Phật học hiện nay chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các Tịnh độ A-di-đà, Dược Sư, Di-lặc, A-súc, Văn Thù và Duy tâm, khiến người học khó nắm bắt một cách chính xác. Thứ ba là nhu cầu thực tiễn: tín đồ Phật tử ngày càng thiên về cầu nguyện cho những lợi ích trước mắt của đời sống cá nhân hiện tại hơn là hướng đến sự tu tập giải thoát lâu dài. Cuối cùng là ảnh hưởng của sự mê tín: một số nơi đã biến tín ngưỡng Tịnh độ thành hình thức cầu xin lợi ích vật chất thuần túy, làm mất đi giá trị cốt lõi của tư tưởng Tịnh độ vốn là sự chuyển hóa tâm linh và hướng đến giác ngộ. Những thách thức này đòi hỏi các nhà lãnh đạo Phật giáo và các học giả cần có những định hướng đúng đắn để bảo tồn và phát huy giá trị chân chính của các loại hình Tịnh độ trong đời sống tín ngưỡng Việt Nam hiện đại.
VIII. NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI
Từ những phân tích và so sánh về các loại hình Tịnh độ ở trên, người viết xin đề xuất một số hướng nghiên cứu mới nhằm tiếp tục nghiên cứu và mở rộng chủ đề này trong bối cảnh Phật học hiện đại.
8.1. Nghiên cứu so sánh liên tông phái
Trước hết, chúng ta cần có những nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa các loại hình Tịnh độ với các tông phái Phật giáo khác, bởi mỗi loại hình Tịnh độ đều chịu ảnh hưởng và tác động qua lại với những dòng tư tưởng khác nhau. Cụ thể, chúng ta có thể nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng Bát-nhã đối với Tịnh độ A-súc, bởi A-súc là một trong những Tịnh độ sớm nhất và mang đậm màu sắc tu chứng cá nhân, rất gần với tinh thần Bát-nhã về tính không. Bên cạnh đó, cần khảo sát mối liên hệ giữa Tịnh độ Dược Sư và Mật giáo, vì Dược Sư có nhiều yếu tố về chú thuật, nghi lễ và màu sắc bí truyền rõ rệt. Cuối cùng, sự dung hợp giữa Tịnh độ Duy tâm và Thiền tông cũng là một hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn, khi cả hai tư tưởng đều khẳng định “Phật tại tâm” và “Tịnh độ tại tâm”, không cần tìm kiếm một cõi giới bên ngoài.
8.2. Nghiên cứu tác động văn hóa – xã hội
Một hướng nghiên cứu quan trọng khác là khảo sát ảnh hưởng của các loại hình Tịnh độ đến đời sống văn hóa và xã hội. Có thể bắt đầu từ nghệ thuật tạo tượng và kiến trúc tự viện, bởi mỗi Tịnh độ có những biểu tượng và đặc trưng thẩm mỹ riêng – từ hình tượng các đức Phật A-súc, Dược Sư, Di-lặc đến Tam Thánh Tây phương. Tiếp đến là văn hóa lễ hội và tập tục tín ngưỡng, khi các ngày lễ vía Phật, các khóa tu, pháp hội Tịnh độ đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của quần chúng. Đặc biệt, chúng ta cần nghiên cứu tác động của các loại hình Tịnh độ đến đời sống tinh thần và hành vi ứng xử của cư sĩ Phật tử, từ đó thấy được vai trò thực tiễn của tín ngưỡng Tịnh độ trong việc định hướng nhân cách và lối sống.
8.3. Nghiên cứu khảo cổ học – lịch sử
Bên cạnh đó, chúng ta cần có những nghiên cứu về sự du nhập và phát triển của từng loại hình Tịnh độ tại Việt Nam qua các thời kỳ trong lịch sử, dựa trên nhiều nguồn tư liệu hiện có khác nhau. Nguồn tư liệu thứ nhất là văn bia và tư liệu kinh điển Hán Nôm, nơi lưu giữ những ghi chép quý giá về các hoạt động tín ngưỡng Tịnh độ trong lịch sử. Thứ hai là các di tích lịch sử, tượng thờ, kiến trúc và phế tích khảo cổ, qua đó có thể truy tìm dấu tích vật chất của các loại hình Tịnh độ qua từng thời kỳ. Thứ ba là tư liệu văn học và hành trạng của các bậc cao tăng, những người đã thực hành hiệu quả và truyền bá các pháp môn Tịnh độ trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
8.4. Nghiên cứu ứng dụng trong đời sống hiện đại
Từ tư tưởng cốt lõi của Tịnh độ Duy Tâm “tâm tịnh thì độ tịnh”, chúng ta có thể phát triển những hướng nghiên cứu ứng dụng thiết thực trong bối cảnh xã hội đương đại. Một hướng đi khả thi chính là xây dựng mô hình cộng đồng Phật giáo gắn liền với bảo vệ môi trường, khi mà ý thức về sự thanh tịnh trang nghiêm từ tâm sẽ lan tỏa thành hành động bảo vệ cảnh quan sống tốt đẹp. Hướng thứ hai là phát triển phương pháp tu tập Tịnh độ phù hợp với nhịp sống năng động hiện đại, chẳng hạn các khóa niệm Phật ngắn ngày, các ứng dụng hỗ trợ kết nối, chia sẻ tu tập trên nền tảng số. Hướng thứ ba mang tính thực chứng là nghiên cứu tác dụng của tư tưởng Tịnh độ đối với sức khỏe tinh thần, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho những lợi ích tâm lý của pháp môn Tịnh độ, tạo niềm động lực tích cực đối với quần chúng hơn.
8.5. Nghiên cứu phục hồi và phát triển các Tịnh độ ít phổ biến
Trong bối cảnh Tịnh độ A-di-đà đang chiếm ưu thế tuyệt đối tại Việt Nam, cần có những đề xuất nhằm khôi phục và phát triển các loại hình Tịnh độ ít phổ biến như A-súc, Văn Thù. Để thực hiện điều này, trước hết, chúng ta cần tiến hành dịch thuật và chú giải các bộ kinh điển liên quan, vì hiện nay hệ thống kinh sách về các Tịnh độ này còn rất hạn chế trong tiếng Việt. Thứ hai là xây dựng phương pháp tu phù hợp với văn hóa bản địa, không sao chép máy móc từ các truyền thống nước ngoài mà phải dung hợp với tín ngưỡng và tập quán của người Việt. Thứ ba là tổ chức các khóa tu chuyên đề về từng loại hình Tịnh độ, tạo cơ hội cho những người có căn cơ phù hợp được tiếp cận đa dạng và thực hành.
8.6. Nghiên cứu liên ngành
Cuối cùng, một hướng nghiên cứu đầy triển vọng đó là kết hợp Phật học với các ngành khoa học khác, tạo nên những tiếp cận liên ngành vừa mang tính học thuật vừa có giá trị thực tiễn. Với tâm lý học, có thể nghiên cứu tác dụng của tư tưởng Duy Tâm Tịnh độ đối với sức khỏe tâm lý, đặc biệt trong việc giảm stress, lo âu và trầm cảm. Đối với xã hội học, cần khảo sát mô hình cộng đồng Tịnh độ trong xã hội hiện đại, xem các nhóm tu tập Tịnh độ vận hành, kết nối và tác động ra sao đến cấu trúc xã hội. Với môi trường học đường, có thể áp dụng triết lý “Tâm tịnh thì độ tịnh” vào các chiến dịch bảo vệ môi trường, khi mà sự chuyển hóa nội tâm được xem là nền tảng cho hành động bảo vệ thiên nhiên bền vững. Như vậy, những hướng nghiên cứu liên ngành này không chỉ làm phong phú thêm hình thái Phật học mà còn góp phần đưa tư tưởng Tịnh độ vào đời sống học thuật và thực tiễn đương đại một cách có chiều sâu vững chắc.
KẾT LUẬN
Các loại hình Tịnh độ trong Phật giáo Đại thừa không phải là những thực thể tách biệt, mà là những phương tiện thiện xảo đa dạng nhằm tiếp dẫn chúng sinh với những căn cơ, hoàn cảnh và nhu cầu khác nhau. Từ Tịnh độ cổ xưa A-súc Phật với bản nguyện đoạn trừ sân hận, Tịnh độ Di-lặc nằm trong Tam giới với hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp, Tịnh độ Dược Sư với mười hai đại nguyện chữa lành những khổ đau hiện tại, Tịnh độ Văn Thù với trí tuệ siêu việt không màng thành Phật, cho đến Tịnh độ Duy Tâm với triết lý sâu sắc “tâm tịnh thì độ tịnh” – tất cả đều thể hiện một cách trọn vẹn tinh thần tùy duyên, tùy cơ thuyết pháp của đức Phật, đáp ứng mọi trình độ và hoàn cảnh của chúng sinh trên con đường giải thoát.
Tại Việt Nam hiện nay, sự phát triển của các loại hình Tịnh độ cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc trong bối cảnh văn hóa bản địa và nhu cầu tâm linh đương đại. Bên cạnh việc duy trì và phát huy tín ngưỡng Tịnh độ Tây phương A-di-đà vốn đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của quần chúng từ xưa, cần có sự nghiên cứu và phát triển hài hòa các loại hình Tịnh độ khác, đặc biệt là tư tưởng Duy Tâm Tịnh độ – một loại hình mang tính triết lý sâu sắc, đề cao nội lực và hoàn toàn phù hợp với tinh thần tự giác, tự lực cũng như khát vọng làm chủ đời sống của con người hiện đại.
Những hướng nghiên cứu mới được đề xuất từ phân tích so sánh nội dung các loại hình Tịnh độ, bao gồm nghiên cứu liên tông phái, tác động văn hóa tín ngưỡng, lịch sử tư tưởng, cũng như ứng dụng trong đời sống hiện đại, phục hồi các Tịnh độ ít phổ biến và nghiên cứu liên ngành, không chỉ góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về tư tưởng Tịnh độ trong dòng chảy lịch sử tư tưởng Phật giáo, mà còn có thể ứng dụng một cách thiết thực vào thực tiễn đời sống quần chúng. Qua đó, mong rằng những nghiên cứu này sẽ giúp Phật giáo Việt Nam vừa giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống, vừa linh hoạt thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội đương đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tâm linh chính đáng của mọi tầng lớp Phật tử trong thời kỳ mới.
CHÚ THÍCH
[1] CBETA 2025.R2, T11《阿閦佛國經》卷1〈1 發意受慧品〉, no. 313, pp. 751c26-752a5
[2] CBETA 2025.R2, T11《阿閦佛國經》卷1〈1 發意受慧品〉, no. 313, p. 752a8-15
[3] CBETA 2025.R2, T11《阿閦佛國經》卷1〈2 阿閦佛剎善快品〉, no. 313, p. 755c9-12
[4] CBETA 2025.R2, T11《阿閦佛國經》卷1〈2 阿閦佛剎善快品〉, no. 313, p. 755c14-16
[5] CBETA 2025.R2, T11《阿閦佛國經》卷2〈5 佛般泥洹品〉,no. 313, p. 761b27-29
[6] 陈扬炯 (2008), 中国净土宗通史, Nxb 凤凰, trang 23.
[7] CBETA 2025.R2, T01《中阿含經》卷13〈1 王相應品.66 說本經〉, no. 26, p. 510b24-25
[8] CBETA 2025.R2, T14《佛說觀彌勒菩薩上生兜率天經》, no. 452, p. 419a10-20
[9] CBETA 2025.R2, T14《佛說彌勒大成佛經》, no. 456, p. 429a18-27
[10] CBETA 2025.R2, T11《大寶積經》卷111〈42 彌勒菩薩所問會〉, no. 310, p. 631b15-17
[11] CBETA 2025.R2, T36《大方廣佛華嚴經隨疏演義鈔》卷90〈39 入法界品〉, no. 1736, p. 695c13-17)
[12] CBETA 2025.R2, T14《佛說觀彌勒菩薩上生兜率天經》, no. 452, p. 420b27-28
[13] CBETA 2025.R2, T14《藥師琉璃光如來本願功德經》, no. 450, p. 405a29-b4
[14] CBETA 2025.R2, T14《藥師琉璃光如來本願功德經》, no. 450, p. 405b19-21
[15] CBETA 2025.R2, T14《藥師琉璃光如來本願功德經》, no. 450, p. 405c2-6
[16] CBETA 2025.R2, T14《藥師琉璃光如來本願功德經》, no. 451, p. 414b23-28
[17] CBETA 2025.R2, T15《佛說首楞嚴三昧經》卷2, no. 642, p. 644a5
[18] CBETA 2025.R2, T25《大智度論》卷29〈1 序品〉, no. 1509, p. 273b7
[19] CBETA 2025.R2, T03《大乘本生心地觀經》卷3〈2 報恩品〉, no. 159, p. 304b10
[20] CBETA 2025.R2, T36《大方廣佛華嚴經隨疏演義鈔》卷28〈7 如來名號品〉, no. 1736, p. 214c16-17
[21] CBETA 2025.R2, T14《維摩詰所說經》卷2〈5 文殊師利問疾品〉, no. 475, p. 545c28-29
[22] CBETA 2025.R2, T03《悲華經》卷3〈4 諸菩薩本授記品〉, no. 157, p. 187a19-b9
[23] CBETA 2025.R2, T11《文殊師利佛土嚴淨經》卷2, no. 318, p. 899c21-26
[24] CBETA 2025.R2, T14《維摩詰所說經》卷1〈1 佛國品〉, no. 475, p. 538c4-5
[25] CBETA 2025.R2, T14《維摩詰所說經》卷1〈佛國品 1〉, no. 475, p. 538, a25-29
[26] CBETA 2025.R2, T14《維摩詰所說經》卷1〈1 佛國品〉, no. 475, p. 538b26-c4
[27] CBETA 2025.R2, T09《妙法蓮華經》卷5〈如來壽量品 16〉, no. 262, p. 42, c19-24
[28] CBETA 2025.R2, 《妙法蓮華經》卷5〈如來壽量品 16〉T09, no. 262, p. 43, b15-19
[29] CBETA 2025.R2, T09《大方廣佛華嚴經》卷25〈十地品 22〉, no. 278, p. 558, c10
[30] CBETA 2025.R2, T09《大方廣佛華嚴經》卷10〈夜摩天宮菩薩說偈品 16〉, no. 278, p. 465, c26-27
[31] CBETA 2025.R2, T09《大方廣佛華嚴經》卷10〈夜摩天宮菩薩說偈品 16〉, no. 278, p. 465, c28-29
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- A-súc Phật quốc kinh, Chi-lâu Ca Sấm dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 11, số 313.
- Bi hoa kinh, Đàm-mô-sấm dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 3, số 157.
- Diệu pháp liên hoa kinh, Cưu-ma-la-thập dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 9, số 262.
- Duy-ma-cật sở thuyết kinh, Cưu-ma-la-thập dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 14, số 475.
- Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bản nguyện công đức kinh, Huyền Trang dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 14, số 450.
- Đại bảo tích kinh, Bồ-đề Lưu-chí dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 11, số 310.
- Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh, Thật-xoa-nan-đà dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 10, số 279.
- Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh tuỳ sơ diễn nghĩa sao, Sa-môn Trừng Quan thuật, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 36, số 1736.
- Đại thừa bản sinh tâm địa quán kinh, Bàn Nhược dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 3, số 159.
- Đại trí độ luận, Long Thọ Bồ-tát tạo, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 25, số 1509.
- Phật thuyết Di-lặc thượng sinh kinh, Thư-cừ-kinh-thanh dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 14, số 452.
- Phật thuyết Di-lặc đại thành Phật kinh, Cưu-ma La-thập dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 14, số 456.
- Phật thuyết Quán Di-lặc Bồ-tát thượng sinh Đâu-suất thiên kinh, Thư-cừ-kinh-thanh dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 14, số 452.
- Phật thuyết thủ lăng nghiêm tam-muội kinh, Cưu-ma La-thập dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 15, số 642.
- Trung A-hàm kinh, Cù-đàm-tăng-già-đề-bà dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 1, số 26.
- Văn Thù Sư Lợi Phật thổ nghiêm tịnh kinh, Trúc Pháp Hộ dịch, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, quyển 11, số 318.
- 陈扬炯 (2008), 中国净土宗通史, 凤凰出版社. (Trần Dương Quýnh (2008), Trung Quốc Tịnh độ tông thông sử, Nhà xuất bản Phượng Hoàng)

