Nhân lễ Đại tường của Ân Sư, kỷ niệm viết về thầy thì rộng lớn mênh mông. Mênh mông có nhiều nghĩa, mênh mông tình thầy trò, mênh mông cái tri kiến sở học của thầy. Cái mênh mông tôi muốn nói ở đây là Triết lý Dịch số mà thầy uyên bác. Cái uyên bác ấy nằm rải rác khắp nơi trong tùy bút và tác phẩm lớn của thầy.
Khi nói đến kinh Dịch liên hệ đến thầy, hầu như mọi người đều nghĩ ngay đến câu chuyện quá khứ: Khi thầy và thầy Thát bị kết án tử hình, thầy Tuệ Sỹ dùng kinh Dịch gieo quẻ, tiên đoán sự việc diễn tiến thế nào và biết chắc án tử không thể xảy ra… Chuyện dĩ vãng, sau này nhắc lại tích cũ, tôi hỏi chút riêng tư, thầy cười, nói rằng, cũng có nhưng giờ chẳng nhớ thuật bói của nó thế nào.
Nhà tư tưởng Nho gia Trương Tái (張載) thời Tống từng nói: “Nếu không học (Kinh) Dịch thì không hiểu được quy luật của Tạo hóa. Không biết được sự Tạo hóa thì không thể hiểu rõ về Bản tính và Mệnh số của con người…” (不見易則不識造化, 不識造化則不知性命…). Tôi hiểu rõ, thầy Tuệ Sỹ uyên thâm Dịch học không phục vụ cho mục đích bói toán. Mặc dầu kinh Dịch (易經) vốn dĩ ban đầu nó là một văn bản bói toán, nhưng từ thời nhà Chu cho đến về sau nó trở thành bộ sách triết học tổng hợp tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa. Đến thời cận đại, một số học giả phương Tây như Carl Gustav Jung hay Raymond de Becker đều dùng nó để phân tích tiềm thức con người.
Chữ “Dịch 易”, có nghĩa vừa biến dịch (變易) vừa bất dịch (不易). Theo cách triết tự, trên chữ nhật (日), dưới chữ nguyệt (月), chỉ cho sự chuyển động của mặt trời và mặt trăng, tạo ra ngày đêm, tối sáng, bốn mùa thay đổi, quẻ này biến quẻ kia, sự đời thịnh suy, suy thịnh, đó là nghĩa biến dịch (thay đổi). Tuy nhiên dù biến hiện thay đổi thế nào thì nguyên lý Âm-Dương luôn tương tác duy trì, đó là quy luật của sự bất dịch.
Triết học phương Tây và triết phương Đông là con đường tắt giúp chúng ta có thể thâm nhập giáo lý u huyền của nhà Phật. Đồng thời muốn đi sâu hơn vào giáo lý cao viễn của Phật gia, bắt buộc chúng ta phải hiểu về toán học, Dịch lý là một loại toán cổ giúp một số thiên tài vay mượn nó để lập cước nhìn vào Phật điển. Ai cũng biết thời gian thầy Tuệ Sỹ ở trại tù Xuân Phước (Phú Yên), gần như thầy dành thời gian ngồi giải các loại sách toán, kể cả toán Đại học. Do vậy mà thầy viết về Dịch:
“Giới hạn trong phạm vi lý luận, chúng ta tóm tắt nét đặc trưng của kinh Dịch: giản dị hóa bằng Tượng và cụ thể hóa bằng Số… Ý tưởng then chốt ở đây là: tại thiên thành tượng, tại địa thành hình (在 天 成 象, 在 地 成 形, trên Trời thì có tượng [Nhật, nguyệt…]. Dưới đất thì có hình [Núi, sông…]). Tượng, có thể được hiểu như là những nguyên tắc tiên thiên. Khi những nguyên tắc này được ứng dụng vào các lãnh vực cụ thể, chúng sẽ là những sự thực hữu hình trong một trật tự cân xứng. Trong toán học, đó là trật tự tỉ đối. Chúng ta khởi đầu từ khái niệm với một trật tự cân xứng này để đi đến sự ứng dụng về Số của kinh Dịch trong lãnh vực lý luận.” (Tuệ Sỹ, Khái niệm về Số trong Kinh Dịch – Tạp chí Tư tưởng).
Thầy nói rằng “Khái niệm về một trật tự cân xứng như vậy có hiệu lực như thế nào khi được ứng dụng vào đường lối suy luận”. Và thầy dẫn chứng tông Thiên thai đã lấy con số 3 trong Kinh Dịch, gọi là “Tam viên dung”: Không, Giả, Trung, để làm trật tự cân xứng cho luận lý mà Tây phương gọi đó “combinaison logique”.
Con số 3 trong kinh Dịnh là một trật tự của thiên giới, nhân giới và vạn vật, tức cấu trúc trong một quẻ gồm 3 hào. Hào trên cùng [Thượng hào] tượng trưng cho Thiên [trời]. Hào dưới cùng [Sơ hào] tượng trưng cho Đất [địa]. Hào giữa [Nhân hào] tượng trưng cho Nhân [người]. Ba hào đó là sự kết hợp cơ bản Âm và Dương, rồi từ đây, con số 3 (số lượng hào) là số mũ quyết định số lượng Quẻ đơn (8 quẻ), thể hiện nguyên lý tổ hợp toán học nhị phân. Hệ thống nhị phân này được kiến lập trên triết lý Âm-Dương, sau này trở thành nền tảng của lý thuyết thông tin, kỹ thuật số, máy tính hiện đại. Hệ nhị phân dựa trên biểu diễn xung điện trong máy tính theo hai trạng thái 1 và 0, với lý thuyết toán học này được thầy diễn giải qua giáo điển Duy thức:
“Ba cái: căn, cảnh, thức hợp lại, quan hệ tổng hợp với nhau, mới thành ra hiệu quả nhận thức. Khi chúng ta chia ra thì đây là thức, đây là căn, đây là cảnh; còn nếu trong tự thể tồn tại, chúng thảy đều là chủng tử như những dữ liệu được lưu trong bộ nhớ của máy vi tính. Tự bản chất, chúng là những dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng do kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung điện; rồi tùy theo lập trình mà chúng được đưa vào bộ vi xử lý để xử lý, cho ra kết quả với nhiều hình thái khác nhau trên màn hình: núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu, ghét… đủ mọi cảnh đời.” (Tuệ Sỹ, Tâm-Ý-Thức).
Trong sự biến dịch có sự bất dịch của Dịch học, triết lý này tương đồng với tư tưởng triết học Trung quán “bất diệt bất sinh” (anirodham anutpādam) của Long Thọ. Nhưng đọc “Triết học Tánh Không” của thầy viết, chúng ta có thể thấy thêm triết lý kinh Dịch còn chứa đựng nhiều nghĩa lý uyên áo khác, nhờ sự tài hoa của thầy đã vay mượn nó để giải trình triết lý nhà Phật.
Tác phẩm Triết học tánh Không, thầy Tuệ Sỹ viết vào năm nào tôi không rõ, có lẽ ấn bản đầu tiên vào năm 1970. Sau khi ra mắt độc giả, có một thầy vai đệ trong đạo hỏi thầy Tuệ Sỹ: Anh viết Triết học tánh Không, em đọc không hiểu gì cả. Thầy nói, tôi còn chưa hiểu huống chi ông. Có lần, tôi hỏi trực tiếp, thầy nói, lúc thầy nghiên cứu Triết học tánh Không chính nhờ tác phẩm The Central Philosophy of Buddhism của T. R. V. Murti. Thật lòng, so sánh Tánh Không của Murti với Tánh Không của Tuệ Sỹ, tôi thấy khác nhau ở chỗ, trong văn của thầy có thêm tiếng nhạc, hòa điệu lẫn triết Tây-Đông. Triết Đông chính là Dịch lý mà tôi muốn luận bàn. Đầu tiên thầy nhập đề:
“Wenn am Sommertag der Falter sich auf die Blume niederlässt und, die Flügel geschlossen, mit ihr Wiesenwind schwing… (Martin Heidegger, Aus der Erfahrung des Denkens).
(Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa cùng đóa hoa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn…)
“Có thể vay mượn những lời như vậy để khởi đầu cho sự chờ đợi tiếng vọng đáp ứng của những gì đó đang ẩn mình trong bóng tối Những lời được vay mượn ấy không nhất thiết phải là đồng thanh với những cái sắp đáp ứng. Sự tựu thành của những cái đáp ứng này sẽ không xuất hiện trong những tiếng động náo nhiệt. Đây là sự tựu thành của một cơn mưa như thác lũ, khi con bướm mùa hè đã chịu khép lại đôi cánh mỏng để lắng nghe trong thầm lặng hơi thở của cỏ nội. Chờ đợi, kiên trì và dừng lại trong sự bế tắc của một thời chỉ có ánh sáng vĩnh cửu của mặt trời. Kiên trì và dừng lại để chờ đợi trong sự bế tắc là liều lĩnh ký thác mình cho một cuộc chơi ngoạn mục của thiên diễn, là liều lĩnh đứng lại giữa dòng thác đổ của vạn hữu. Đó là một thái độ bướng bỉnh, không chịu tiến từng bước vững chắc như những đợt nhảy của con chim hồng: Nhảy bên bờ nước, nhảy đến tảng đá, nhảy trên đất cạn, nhảy lên cành cây, nhảy lên gò cao và cuối cùng bay trong thương khung để lông cánh làm đẹp cho bầu trời.”
Đoạn trên, thầy dẫn nhập tư tưởng của Heidegger, qua hình ảnh con bướm (Der Falter) chỉ cho tư duy của con người, nhẹ nhàng, mong manh, đến rồi đi. Và khi con bướm dừng lại, đậu trên đóa hoa (Die Blume) là nơi chốn cố định, không còn bay lượn nữa, trở về sự yên lặng tĩnh tại và chấp nhận thả mình vào một nhịp điệu tự nhiên của tồn tại (Mit ihr im Wiesenwind schwingt, đong đưa cùng đóa hoa theo gió đồng cỏ). Trong tư duy của Heidegger, mọi vật trở nên cô độc và chậm rãi (Im Denken wird jeglich Ding einsam und langsam), như mỗi bước tiến của chim Hồng trong quẻ Phong sơn tiệm (風山漸) của kinh Dịch mà thầy Tuệ Sỹ chú giải: Nhảy lên bờ nước (Sơ lục, hồng tiệm vu can, 鴻漸于干); nhảy đến tảng đá (lục nhị, hồng tiệm vu bàn, 鴻漸于磐); nhảy đến đất cạn (cửu tam, hồng tiệm vu lục, 鴻漸于陸); nhảy lên cành cây (lục tứ, hồng tiệm vu mộc, 鴻漸于木); nhảy lên gò cao (cửu ngũ, hồng tiệm vu lăng, 鴻漸于陵); và cuối cùng bay trong thương khung để lông cánh làm đẹp cho bầu trời (thượng cửu, hồng tiệm vu quỳ, 鴻漸于逵).
Chim Hồng di trú theo mùa, Xuân đi, Thu về không bao giờ sai lệch. Sự di chuyển của chúng là một quá trình liên tục, từ từ và kiên định. Điều này hoàn toàn tương hợp với ý nghĩa của quẻ Tiệm, khuyên người ta tiến lên phải từng bước một, không nóng vội, theo đúng thời điểm và quy luật tự nhiên.
Trí năng hiểu biết tôi còn giới hạn, lạm bàn đôi chút Dịch lý trong những tác phẩm của thầy viết. Viết để tỏ lòng tôn kính một bậc thầy, một vị Ân sư dẫn đạo. Có lẽ thầy Tuệ Sỹ học và hiểu Dịch mục đích:
“Tượng là để giữ ý, nắm được ý thì hãy quên tượng… Cũng như cái rọ là để bắt cá; bắt được cá thì bỏ cái rọ đi. (象生於意,故可尋象以觀意。意以象盡… 筌者所以在魚,得魚而忘筌也 –王弼易學, 周易略例詳解). Giải thích theo cung cách này là điều rất thường thấy trong các tác phẩm Phật học. Thí dụ, kinh Kim cang: Phật pháp chỉ như một chiếc thuyền để qua sông. Qua được bên kia sông rồi thì hãy bỏ thuyền mà lên bờ.”
Có lần thầy bàn chuyện vật lý và toán học, thầy nói: Nếu sau này tôi chết, tôi muốn tái sanh qua phương Tây, làm nhà Vật lý. Thầy rất đam mê toán và vật lý. Thầy chưa bao giờ viết một cuốn sách toán nào nhưng trong những đầu sách mà thầy để lại như Tổng quan về nghiệp, Thiền định Phật giáo, Huyền thoại Duy-ma-cật v.v… chúng ta luôn thấy thầy dẫn chứng lý thuyết toán học, vật lý trong đó. Tuy nhiên, tư tưởng toán học được thầy đề cập rõ nhất là trong một số tùy bút như “Khái niệm về Số trong Kinh Dịch”. Phải chi thầy không nặng trọng trách với lịch sử và biên tập Đại tạng tiếng Mẹ đẻ, thì thầy có thể viết được tác phẩm Dịch lý và toán học Phật giáo.
Tâm Nhãn

