Có những ngày mình thấy trống vắng một cách lạ lùng, cứ ngỡ như bình an vô sự nhưng thật sự chẳng phải. Một sự trống vắng thật khó diễn tả bằng lời, cái cảm giác dường như thả tay trôi tuột đi tất cả. Sự trống vắng này không phải là tánh không trong nhà Phật mà là sự trống rỗng hư vô.
Ngày lại qua ngày, cái vòng quay ăn, ngủ, cày… cứ lập đi lập lại đều đặn đến độ nhàm chán vô vị khiến mình thấy mình cũ kỹ và mình như quên mất minh. Mình không còn biết mình là ai, sống để làm gì… Cái vòng quay này đâu chỉ hôm nay, có lẽ đã từ bao đời rồi và tất cả mọi người cũng như thế.
Ngày lại qua ngày, kiếm tiềm mưu sinh, sanh con đẻ cái, dựng lập… rồi lại già nua và chẳng mấy chốc lại ra đi. Cả cuộc đời chỉ nhiêu này thôi sao? Cho dù có được như Nguyễn Công Trứ nói: “Đã mang tiếng sống trong trời đất/ phải có danh gì với núi sông” thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Hơn nữa mình và phần lớn mọi người đều là những cái bị thịt vô tri, vô trí thì làm sao nói chuyện công danh, càng khó mà nói chuyện thoát khỏi sanh tử luân hồi. Gà vịt không thể hóa đại bàng. Cá lòng tong, lia thia làm sao làm được cá côn, cá kình. Giả sử có làm nên cơ nghiệp lẫy lừng như A Lịch Sơn đại đế, Tần Thủy Hoàng, Quang Trung… nhưng rồi sự vô thường vẫn đến rất tình cờ, cơ nghiệp không còn mà thần thức cũng chẳng biết lạc về đâu!
Ngày lại qua ngày, “Quá khứ không truy tìm/tương lại chẳng mong cầu” nhưng hiện tại thì cứ từng ngày trống vắng chẳng có một giây chánh niệm thì sống như thế có khác gì “hoạt trung tử”. Người phương Đông, phương Tây, người Bắc, người Nam, người trí, người ngu… có khác gì nhau. Người giàu tháng ngày sống trong hoan lạc, cả đời sung túc đủ đầy. Người bần hèn thì chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi nhưng kết cục cũng đều là những nấm mồ cho dù đó là lăng tẩm đồ sộ hay nắm đất “sè sè nắm đất bên đường”. Quỷ vô thường rất công bằng, nó đến không chọn cửa, đi chẳng chọn đường. Đối với nó thì trắng – đen, phải – trái, sang – hèn, trí – ngu… gì cũng chẳng có ý nghĩa chi cả!
Ngày lại qua ngày, người có thể mòn mỏi trong kiếp sống hay hoan lac cả cuộc đời nhưng với quỷ vô thường thì không có năm tháng ngày, kiếp số hay giờ giấc. Tên nó là vô thường nhưng nó thường trực mọi lúc, mọi nơi. Nó có thể xuất hiện bất cứ luc nào và chẳng có ai biết hay có thể tránh được. Nó rất thật và hiện hữu bên mình nhưng chúng ta ít biết hay ít chịu chấp nhận “Thân này không phải là ta, chẳng phải của ta, không là tự ngã ta”- Kinh Vô Ngã Tướng
Ngày lại qua ngày, thân mình không thể cầu cho nó như thế này hay đừng như thế kia. Thân mình khi đã qua giai đoạn trưởng thành thì nó sẽ suy hao từng ngày, từng giờ. Thân mình đầy những vi khuẩn, viurs cộng sinh từ trong ra ngoài. Tâm mình hoạt động rất vi tế mà mình không sống chánh niệm nên không thể thấy được. Mình và mọi người, trên cực phẩm nhân gian, dưới tận đáy xã hội đều là những con rối múa may quay cuồng theo sự giật dây của nghiệp lực. Nghiệp lực chính là ông chủ vô hình, là kẻ giấu mặt điều khiển chúng ta suốt cuộc đời: buồn, vui, hờn, mừng, thõa mãn, bất mãn… Những biểu hiện bề ngoài hạnh phúc hay khổ đau là kết quả còn nghiệp lực thì không ai thấy, không ai biết và cũng không thể nào can thiệp được. Chỉ có những ai thúc liễm thân tâm, điều chỉnh suy nghĩ– nói năng – hành động theo hướng Phật dạy thì mới có thể từng bước thoát khỏi sự giật dây của nghiệp lực.
Ngày lại qua ngày, chẳng mấy chốc rồi mình sẽ già, sẽ bệnh và sẽ chết. Thật tình thì cái bệnh nó xuyên suốt từ lúc còn là bào thai cho đến chết chứ không phải theo thứ tự lớp lang như mình nói. Cả một đời hành hoạt để rồi khi nhắm mắt xuôi tay thì “em còn gì không? Ta được gì không?”. Nghĩ đến đây tự dưng sự trống vắng dâng lên ngợp cả tâm hồn, sự cô đơn bủa vây quanh mình… Thế rồi cũng trong những ngày tháng trống vắng mình đọc được một câu chuyện đầy ắp ý nghĩa, câu chuyện đẹp còn hơn cả những điển cố xưa nay: Sư cô Diệu Nguyệt vốn là một thiếu nữ người Mỹ, da trắng, tóc vàng, mắt xanh vô cùng xinh đẹp. Cô ấy đã lấy bằng tiến sỹ, cuộc sống ổn định, tương lai rộng mở, bạn bè vui vẻ với tháng ngày hoan lạc… thế nhưng người thiếu nữ ấy lại thấy tháng ngày trống vắng, thấy đời vô thường và vô nghĩa quá. Người thiếu nữ ấy sanh tâm học đạo, ban đầu gặp những vị thầy Hindu, Bà La Môn… nhưng người thiếu nữ ấy thấy thất vọng ở bọn họ, không học được gì ở bọn họ, không thể thoát ra khỏi sự trống vắng vô nghĩa của kiếp người. Thế rồi người thiếu nữ ấy gặp một sư cô người Việt, dáng vóc nhỏ nhắn, áo tràng lam thanh thoát, theo như lời thuật của cô ấy thì cô cảm nhận được cả một sự bình an vi diệu từ vị sư cô Việt Nam kia. Người thiếu nữ ấy nhiều lần tìm cách tiếp cận sư cô người Việt và cuối cùng cô ấy bái sư cô Khánh Năng (Hạnh Thân) làm thầy. Nhân duyên vi diệu vô cùng, sư cô Khánh Năng đưa sư cô Diệu Nguyệt về Việt Nam bái kiến ôn Tuệ Sỹ và pháp danh Diệu Nguyệt cũng chính do Ôn ban cho. Ôn Tuệ Sỹ là một bậc đại trượng phu của thời đại hôm nay, sư cô Khánh Năng, Diệu Nguyệt là học trò của bậc đại trượng phu và bản thân của hai sư cô cũng làm được việc mà hàng triệu nam nhi trượng phu chẳng làm được. Dám từ bỏ ngày tháng trống vắng vô nghĩa để dấn thân trên con đường BồTát đạo. Có thể trong kiếp này hai thầy trò sư cô Khánh Năng, Diệu Nguyệt chưa thoát khỏi sanh tử luân hồi nhưng chí ít đã bước đi trên con đường liễu sanh thoát tử. Sư cô Khánh Năng và sư cô Diệu Nguyệt bỏ đi tháng ngày trống vắng, làm được việc mà hàng tỉ người khác không làm nổi. Họ đã biến những tháng ngày trống vắng vô nghĩa thanh chuỗi thời gian có ý nghĩa, không chỉ tự độ mà còn độ tha. Trước sư cô Diệu Nguyệt, đã có những ni sư người Âu – Mỹ rất xuất sắc như: Ayya Yeshe, Pema Chodron, Jetsunma Tenzin Palmo… phải chăng đều là nhưng hóa thân nhi nữ để hóa độ chúng sanh? Các vị ni sư xuất sắc, tinh tấn tu học và đem giáo pháp Thế Tôn đến với người Âu – Mỹ. Ta nói ở đời có những nhân duyên vi diệu vô cùng.
Ngày từng ngày qua đi, nỗi trống trải trong ta là tuyệt đối và vô biên tế. Dù rằng trong lòng ta vẫn thương nhớ cha mẹ, yêu thương vợ con, giao tế anh em, bạn bè; bận bịu dính mắc với vật chất, văn chương chữ nghĩa…nhưng tất cả những điều ấy không thể thay thế hay lấp đầy sự trống trải của tháng ngày. Khi nhạc sỹ Trịnh Công Sơn viết: “ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại…” rõ ràng ông ấy cũng dang sống trong sự trống trải vô cùng, trống vắng tuyệt đối của ngày từng ngày qua đi. Ngôn từ thơ ca viết thế là mang tính hình tượng ước lệ chứ sự thật thì làm sao mà “ta còn ngồi lại” được! tuyệt đối là không!
Ngày từng ngày qua đi, thân này già đi và đang hoại trong từng phút giây. Tâm này vô thường thay đổi không thể lường. Thân này không phải ta, chẳng của ta, càng không phải là tự ngã của ta thì làn thế nào có thể ngồi đây trong lúc ngày từng ngày qua! Thời gian vô thủy vô chung, không gian vô cùng vô tận. Thân người một tầm, kiếp người một khoảnh khắc… nhưng sự trống vắng mênh mông như thế này! Mây trời vô biên xứ, bọt nước bồng bềnh mười phương ấy thế mà cũng không ngoài một niệm tâm thì làm sao sự trống vắng của ngày từng ngày qua có thể ở ngoài một niệm được chăng?
Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0726

