Close Menu
Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest YouTube
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc
    Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    • PHẬT HỌC
      • Đức Phật
        • Thánh đản
        • Thành đạo
      • Phật học phổ thông
      • Nghiên cứu
      • Giảng luận
      • Pháp thoại
      • Ứng dụng
      • Trích dẫn Phật pháp
    • KINH – LUẬT – LUẬN
      • Kinh
        • Giới thiệu kinh
        • Giảng giải
      • Luật
        • Luật học
      • Luận
      • Kim Cang thừa
    • PHẬT GIÁO VIỆT NAM
      • Lịch sử
      • Nhân vật
        • Chư Tôn đức
        • Cư sĩ hữu công
        • Tiểu sử
      • Sự kiện
      • Tưởng niệm
    • CHUYÊN ĐỀ
      • Dân tộc
      • Giáo dục
      • Khoa học
      • Xã hội
      • Triết học
      • Biên khảo
      • Phật giáo thế giới
      • Nhìn ra thế giới
      • Chuyên mục khác
    • TUỔI TRẺ
      • Đời sống
      • Hành trang
      • Gia đình Phật tử
    • VĂN HÓA
      • Xuân Vạn Hạnh
      • Quán Thế Âm
      • Kiết hạ
      • Vu Lan
      • Nghi lễ – Phong tục
      • Mỹ thuật – Kiến trúc
      • Âm nhạc
    • VĂN HỌC
      • Văn
      • Thơ
      • Truyện
      • Tùy bút
      • Phê bình
      • Giới thiệu – Điểm sách
    • PHẬT SỰ
      • Tin tức
    • THƯ VIỆN
      • Báo chí
        • Kỷ yếu
        • Tạp chí
        • Tập san
      • Sách
      • Tham luận
      • Luận văn
      • Tư liệu
      • Media
        • Audio – MP3
        • Video Clips
      • Hình ảnh
    • NGOẠI VĂN
      • General Buddhist Studies
      • Buddhism with Youth
      • Buddhist Education
      • Buddhist History
      • Buddhist Culture
      • Buddhist Literature
      • Buddhist Sociology
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Trang chủ » Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương II: Các quan điểm khác nhau về Đức Phật

    Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương II: Các quan điểm khác nhau về Đức Phật

    06/06/202177 Mins Read
    Dan vao Tue giac Phat
    Share
    Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

    CHƯƠNG 2

    CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ ĐỨC PHẬT

     

    THƯỢNG TỌA BỘ

     

    Nội dung

    Toggle
    • CHƯƠNG 2
    • CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ ĐỨC PHẬT
    • THƯỢNG TỌA BỘ
        • Th.1 Phẩm tánh của đức Phật
      • Tương quan Phật và Pháp
        • Th.2 Thấy Pháp, tức thấy Phật
        • Th.3 Phật chính Pháp
        • Th.4 Phật như là hiện thân của Pháp
      • Tự tánh của Phật
        • Th.5 Đức Phật chỉ là một con người?
      • Tiền thân Phật: Bồ-tát tích tập các ba-la-mật, và những đệ tử đắc quả
        • Th.6 Chuyện Bổn Sanh (Jātaka) và các ba-la-mật của Bồ-tát
        • Th.7 Phật và các A-la-hán
        • Th.8 Phật biết nhiều điều nhưng chỉ dạy những gì hữu ích cho việc tu tập
        • Th.9 A-la-hán quả
      • Như Lai sau khi chết
        •  Th.10 Như Lai vô lượng như đại dương
        • Th.11 Siêu việt sanh tử, vị giác ngộ siêu việt ngôn từ
    • ĐẠI THỪA
      • Danh hiệu và phẩm đức của đức Phật
        • M.1  Giải thích các danh hiệu của Phật
        • M.2  Xưng tụng đức Phật
        • M.3  Xưng tụng công đức vô lượng của Như Lai 
        • M.4  Tự tánh của vô thượng Chánh đẳng chánh giác
      • Phật tánh
        • M.5  Lo sợ Phật nhập Niết-bàn không còn thấy nữa
        • M.6  Đức Phật không thật sự biến mất khi nhập Niết-bàn
        • M.7  Như Lai thọ mạng vô lượng. Phật thị hiện thường trú
        • M.8  Như Lai đồng đẳng vô vi
      • Ba ‘thân’ Phật
        • M.9  Pháp thân I: Như Lai là Pháp thân, không đến không đi.
        • M.10  Pháp thân II: Pháp thân lưu xuất từ những phẩm tính của Thánh Đạo
        • M.11  Phật và các đại Bồ-tát thị hiện dưới vô số hình tướng
      • Phật tánh
        • M.12  Bản tánh Như Lai tạng trong các chúng sinh
        • M.13  Phu nhân Thắng Man (Śrīmālā) nói về Phật tánh
    • KIM CANG THỪA
      • Phật tánh
        • V.1  Ai cũng có Phật tánh
      • Tam thân Phật
        • V.2  Ba thân Phật là tự tánh tâm
      • Ngũ bộ Phật bộ
        • V.3  Năm bộ Báo Thân Phật và năm trí
        • V.4  Sám nguyện ngũ bộ Phật trong ‘Tử thư Tây Tạng’
      • Phật trong tâm
        • V.5  Nội mạn-đà-la Ngũ trí Như Lai
        • V.6  Phổ Hiền Bản Sơ Phật (Ādibuddha Samantabhadra) nguyện tán

    Th.1 Phẩm tánh của đức Phật

    Đây là một phần của đoạn nói về ba Quy y (xem *Th.93) thường được tụng bằng Pāli ở các buổi lễ, cũng như suy  niệm trong các đề mục tu thiền tùy niệm.

    Ở đây, này các tỳ-kheo, Thánh đệ tử thành tựu tín tâm bất động đối với đức Phật như vầy: ‘Thế Tôn là vị A-la-hán,[1] Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

    Rājā Sutta: Saṃyutta-nikāya V.343, dịch Anh P.H.

    Tương quan Phật và Pháp

    Bản tánh của Phật được xem là tương quan mật thiết với Pháp, theo nghĩa rằng lời dạy của Ngài, đạo lộ dẫn đến cứu cánh của Phật giáo, và tự thân cứu cánh này, Niết-bàn.

    Th.2 Thấy Pháp, tức thấy Phật

    Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo dù sống cách xa đến bảy trăm dặm, nhưng là người không hiện tham trong các dục… hay với tâm không sân hận,… chánh niệm hiện tiền, chánh tri, định tĩnh, tâm nhất cảnh (tập trung trên một điểm), phòng hộ các căn, tỳ-kheo ấy thân cận Ta… Vì sao? Tỳ-kheo ấy thấy Pháp; ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta.

    Saṅghāṭikaṇṇe Sutta: Itivuttaka 91, dịch Anh P.H.

    Th.3 Phật chính Pháp

    Trong đoạn này, A-la-hán Mahā-kaccāna (Đại Ca-chiên- diên) nêu rõ đức Phật là gốc của Pháp.

    Thế Tôn là vị tri giả nên biết rõ, là vị kiến giả nên thấy rõ; Thế Tôn chính là nhãn (con mắt), chính là trí, chính là pháp, là vị tối thắng (Brahmabhūta), là vị thuyết giả, vị tuyên thuyết, vị soi sáng ý nghĩa, vị trao cho bất tử (Niết-bàn), vị chủ của pháp (pháp chủ), là Như Lai (xem *L.20).

    Madhupiṇḍaka Sutta: Majjhima-nikāya I.111, dịch Anh P.H.

    Th.4 Phật như là hiện thân của Pháp

    Những đoạn này giới thiệu thuật ngữ Pháp thân (Pāli. dhamma-kāya, Skt. dharma-kāya), vốn được suy tưởng rất nhiều và mở rộng trong Phật giáo Đại thừa (xem *M.9–11,

    *V.2). Kāya nghĩa là ‘thân’, nhưng có thể có nghĩa là ‘tập hợp’, bao gồm một tập hợp các phẩm tánh thuộc về tâm. Trong một hợp từ, ta không thể biết được từ đầu tiên là số ít hay số nhiều, do đó, dhamma có thể có nghĩa là Pháp (Dhamma) ở số ít toàn xưng, hay dhamma ở số nhiều, các phẩm tánh được tu tập trên thánh đạo. Trong đoạn đầu tiên, hợp từ này là tính từ và dường như có nghĩa rằng đức Phật là một người có thân là các ‘công đức/ phẩm tánh’, tức đặc tính, là Pháp: Ngài là một người có thân là tập hợp của các phẩm tánh Pháp, Ngài là hiện thân của Pháp. Đoạn dẫn cho đoạn được nêu ra dưới đây là *Th.44. Trong đoạn thứ hai, hợp từ là danh từ, vị A-la-hán ni Mahā-pajāpatī, di mẫu của đức Phật, nói với đức Phật.

    Này Vāseṭṭha, ai mà tín tâm nơi Như Lai đã trụ vững, đã bám rễ, đã xác lập, kiên cố mà tất cả thế gian bao gồm sa-môn, bà- la-môn, chư thiên, Ma, Phạm, không ai có thể làm cho dao động, người ấy xứng đáng để nói rằng: “Ta là con đích tử của Thế Tôn, sanh từ miệng Thế Tôn, sanh từ Pháp, hóa sanh bởi Pháp, là người thừa tự Pháp”. Vì sao vậy? Bởi vì, này Vāseṭṭha, đây là những từ đồng nghĩa với Như Lai: ‘Pháp thân’, ‘Phạm thân’ (Tối Thắng giả), ‘Pháp thể’ (tác thành pháp), ‘Phạm thể’ (tác thành Tối thắng).

    Aggañña Sutta: Dīgha-nikāya III.84, dịch Anh P.H.

    Bạch Thiện Thệ, con là mẹ của Ngài. Đấng Đại Huệ, Ngài là cha của con: Ngài là vị Hộ chủ ban cho nguồn Pháp lạc, (nên) con được sanh bởi Ngài, thưa Gotama!

    Bạch Thiện Thệ, sắc thân Thiện Thệ con nuôi lớn. Pháp thân tịnh vô cấu của con, do Thiện Thệ trưởng dưỡng.

    Therī-apadāna, section 17, vv. 31–32: Apadāna p.532, dịch Anh P.H.

    Tự tánh của Phật

    Th.5 Đức Phật chỉ là một con người?

    Phần giới thiệu của đoạn *L.38 đề cập đến ‘ba mươi hai tướng đại nhân’ duy chỉ Phật và Chuyển luân vương mới có. Điều này cho thấy rằng ngay cả sắc thân của đức Phật cũng được xem là vi diệu, và là nghiệp cảm bởi các ba-la-mật được tu tập trong nhiều kiếp. Trong đoạn trích gây ấn tượng này, thuật chuyện có một người nhìn thấy một trong ba mươi hai tướng đại nhân nơi dấu chân của Phật, và cho rằng đây không thể là dấu chân của con người. Sau đó, ông gặp đức Phật và hỏi có phải Ngài là thiên thần, nhạc thần (gandhabba: càn-thát-bà), đại lực quỷ (yakkha: dạ-xoa) hay là người. Đức Phật nói rằng Ngài không phải là ai trong số đó (và trong đời vị lai sẽ không là ai bất kỳ trong số đó), nhưng là người đứng trên tất cả thế gian này, là nơi mà Ngài đã trải qua tu tập, chính xác là một vị Phật.

    Rồi Doṇa theo dấu chân của Thế Tôn, thấy Ngài đang ngồi dưới một gốc cây, căn tịch tĩnh, ý tịch tĩnh, các căn được chế ngự, được thủ hộ, như voi chúa đã được thuần phục, đạt đến tối thượng thuần phục, khiến người nhìn khởi tâm tịnh tín, phát sanh hoan hỷ.

    Thấy rồi, ông liền đi đến Ngài, thưa rằng ‘Tôn giả, Ngài có thể  là  trời  chăng?’  ‘Không  phải,  này  bà-la-môn,  Ta sẽ[2] không là trời.’ ‘Ngài có thể là nhạc thần chăng?’ ‘Không phải, này bà-la-môn, Ta sẽ không là nhạc thần.’ ‘Ngài có thể là đại lực quỷ chăng?’ ‘Không phải, này bà-la-môn, Ta sẽ không là đại lực quỷ.’ ‘Ngài có thể là một con người chăng?’ ‘Không phải, này bà-la-môn, Ta sẽ không là con người.’ ‘… Vậy Ngài có thể là gì?’ ‘Này bà-la-môn, với các lậu chưa được đoạn trừ, thì Ta có thể là thiên thần; nhưng Ta đã đoạn trừ các lậu, đã diệt tận các hữu, như cây đa-la đã bị chặt đứt rễ, không còn sanh trưởng được nữa. Với các lậu chưa được đoạn trừ, thì Ta có thể là nhạc thần… đại lực quỷ… con người; nhưng Ta đã đoạn trừ các lậu, đã diệt tận các hữu, như cây đa-la đã bị chặt đứt rễ, không còn sanh trưởng được nữa. Ví như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị ô nhiễm bởi nước, cũng vậy, tuy cũng sinh ra trong thế gian, lớn lên trong thế gian, Ta đã chinh phục thế gian, không bị ô nhiễm bởi thế gian. Hãy ghi nhận, này bà-la-môn, Ta là Phật (vị đã tỉnh thức).

    Doṇa Sutta: Aṅguttara-nikāya II.37–9, dịch Anh P.H.

    Tiền thân Phật: Bồ-tát tích tập các ba-la-mật, và những đệ tử đắc quả

    Th.6 Chuyện Bổn Sanh (Jātaka) và các ba-la-mật của Bồ-tát

    Đức Phật hiện tại đã từng gặp một vị Phật quá khứ trong nhiều đời trước đây, và đã phát nguyện thành Phật. Sau đó, Ngài tiếp tục tu tập trong nhiều đời, và gặp nhiều vị Phật quá khứ khác. Bản sanh truyện (jātaka), thể tài văn học rất phong phú, thuật chuyện các đời quá khứ của Bồ-tát (một chúng sanh chuyên hướng đến thành Phật), sau này thành đức Phật lịch sử. Phần Bổn Sanh của Thánh điển Pāli có 547 chuyện theo thể thi kệ, và bản chú giải văn xuôi triển khai những câu chuyện này thành một loạt những câu chuyện đạo, mà không nghi ngờ gì là đã tiếp thu và cải biên những câu chuyện dân gian Ấn-độ. Bộ Cariyā-piṭaka (III.15 vv.8–11), ‘Sở Hành Tạng’, một bản kinh ngắn (37 trang) là một tác phẩm cuối cùng được đưa vào của Thánh điển Pāli. Bộ này tập trung vào một số chuyện Bổn Sanh để minh họa mười ‘ba-la-mật’ (Pāli. pāramī, Skt. pāramitā) của Bồ-tát: bố thí, trì giới, xuất ly, trí tuệ, tinh tấn, an nhẫn, chân thật, quyết định, tâm từ, và xả tâm. Mỗi pháp này được nói là có ba cấp: ba-la-mật, thượng ba-la-mật (upapāramī), và thắng nghĩa ba-la-mật (paramattha-pāramī; Buddhavaṃsa I.77). Đây được xem là các pháp được tu tập bởi một vị A-la-hán, một vị độc giác, và một vị chánh đẳng giác. Đoạn sau được trích một chuyện Bổn Sanh thuật chuyện Bồ-tát khi là Magha, đã lãnh đạo những người khác làm những việc có lợi cho cộng đồng, nhưng sau lại bị vu cáo tội trộm cắp. Bị kết án, cùng với những người bạn của mình, bị voi chà đạp cho chết, Ngài bảo vệ tất cả họ bằng cách khích lệ họ khởi tâm từ với kẻ vu khống, với người ra lệnh trừng phạt, và con voi.

    Vào một thời nọ, có ba mươi nam tử dẫn đầu bởi Bồ-tát thảy có cùng mục đích; Ngài dựng họ trong năm giới, và sau đó thường cùng với họ đi khắp nơi hành các thiện hành… Họ dùng những cây gậy dọn sạch tất cả những tảng đá nằm trên các đường làng; đốn ngã những cây có thể đập vào trục xe; san bằng những nơi ghồ ghề; đắp những con đường cái, xây nhà hội, đào bể nước; họ hành bố thí và trì giới. Bằng  phương tiện này, phần lớn dân làng đều làm theo lời dạy của Bồ-tát và thọ trì giới.

    Nhưng ông thôn trưởng thầm nghĩ, ‘Trước đây, khi những người này thường uống rượu, giết hại v.v…, ta thu được nhiều tiền, nào tiền rượu, tiền phạt, tiền nộp thuế. Nay niên thiếu bà-la-môn Magha khiến họ giữ giới, nó ngăn ngừa giết hại và các tội khác’. Ông giận dữ và gào lên: ‘Ta sẽ làm cho bọn chúng từ bỏ giữ năm giới!’.

    Rồi ông ta đi đến tâu vua: ‘Tâu Đại vương, có một bọn cướp, chúng tàn phá xóm làng, và gây nhiều tội ác’. Vua nghe nói như vậy, liền bảo thôn trưởng dẫn họ đến trước bệ… [ông vâng lệnh, vu cáo họ với vua]. Không điều tra, vua tức khắc hạ lệnh dẫn họ đi cho voi chà. Quân lính bắt tất cả những người ấy nằm xuống trên sân vua và dẫn voi đến. Bồ-tát khích lệ họ, ‘Các bạn hãy nhất tâm trì giới; phát khởi tâm từ đối với kẻ vu cáo, đối với vua, đối với con voi, và đối với tự thân.’ Voi được dắt đến để chà đạp họ cho chết. Nhưng khi được dắt đến, nó không chịu bước đến gần, chỉ rống to rồi bỏ chạy. Họ lại dắt đến những con voi khác, nhưng tất cả đều bỏ chạy như vậy. Nghĩ rằng chắc trong tay những người này có phương thuốc gì, vua ra lệnh lục soát, nhưng không thấy gì; vua nói, ‘Vậy chắc họ có chú thuật gì đó. Hãy hỏi xem chúng có chú thuật gì không’. Thuộc hạ của vua hỏi, Bồ-tát trả lời có chú thuật… Vua cho gọi tất cả bọn họ đến và bảo ‘Hãy nói cho ta hay chú thuật của các người’.

    Bồ-tát trả lời, ‘Tâu Đại vương, chúng tôi không có chú thuật gì ngoài điều này: không ai trong 30 người chúng tôi sát sanh, lấy của không cho, tà hành trong các dục, nói dối, uống rượu; chúng tôi tu tập tâm từ; chúng tôi bố thí; chúng tôi san phẳng đường đi; chúng tôi đào các bể nước, chúng tôi dựng nhà công hội: đấy là chú thuật của chúng tôi, là sức mạnh của chúng tôi’.

    Vua rất hài lòng; nói với họ, ra lệnh tịch thu tất cả tài sản của kẻ vu cáo và ban cấp cho họ, và buộc kẻ vu cáo làm nô lệ cho họ…

    Kulāvaka-jātaka: Jātaka I.199-200, dịch Anh P.H.

    Th.7 Phật và các A-la-hán

    Đoạn *L.18 nêu rõ rằng Chánh Đẳng Giác là vị khai phát lại con đường giải thoát khi bị mất dấu. Đoạn này cho thấy rằng đây là điểm khác biệt chính yếu giữa một vị Chánh Đẳng Giác và các vị A-la-hán.

    Ở đây, thế nào là sự sai biệt, sự đặc thù, sự bất đồng giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, và một tỳ-kheo huệ giải thoát (giải thoát do tuệ mà không do định)?… Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác là vị phát khởi lên con đường trước kia chưa phát khởi, dẫn sanh con đường trước kia chưa được dẫn sanh, thuyết thị con đường trước kia chưa được thuyết thị; là vị tri đạo, giác đạo, thiện xảo đạo. Các đệ tử là những vị an trú đạo, tùy thuận thành tựu đạo.

    Sambuddha Sutta: Saṃyutta-nikāya III.66, dịch Anh P.H.,

    Th.8 Phật biết nhiều điều nhưng chỉ dạy những gì hữu ích cho việc tu tập

    Đoạn này gợi ý rằng những điều Phật thấy biết thật quá nhiều, so với các A-la-hán, nhưng chỉ dạy những gì dẫn đến chứng đắc giải thoát.

    Một thời, Thế Tôn trú tại Kosambī trong rừng cây siṃsapā. Bấy giờ Thế Tôn nhặt lên một ít lá siṃsapā trong tay, và bảo các tỳ-kheo: ‘Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo? Đâu nhiều hơn, nắm lá trong tay Ta, hay lá trong rừng cây siṃsapā?’ ‘Bạch Đại Đức, lá trong nắm tay Thế Tôn chí ít; thật quá nhiều là lá trong rừng cây siṃsapā.’

    ‘Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các ông thật là quá nhiều. Những gì mà Ta đã nói ra thật là quá ít. Vì sao, này các tỳ-kheo, Ta đã không nói hết những điều ấy? Bởi vì, này các tỳ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản phạm hạnh, không dẫn đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tĩnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói hết những điều ấy. Và này các tỳ-kheo, điều gì mà Ta đã dạy? Ta đã dạy: ‘Ðây là khổ’; Ta đã dạy: ‘Ðây là khổ tập’; Ta đã dạy: ‘Ðây là khổ diệt’; Ta đã dạy: ‘Ðây là con đường đưa đến khổ diệt’.

    Siṃsapā Sutta: Saṃyutta-nikāya V.437–478, dịch Anh P.H.

    Th.9 A-la-hán quả

    Những đoạn này tóm tắt ngắn gọn bản tánh của A-la-hán (nguyên nghĩa là ‘xứng đáng được tôn kính: Ứng cúng’), vị đã y theo những gì Phật dạy mà hành trì để chấm dứt mọi nguyên nhân của khổ, chứng đạt Niết-bàn, và cuối cùng chấm dứt tất cả sanh tử. Tùy theo các năng lực đạt được mà có sự sai khác, như hồi ức đối với quá khứ, khả năng làm thầy thuyết đạo. (Xem thêm *Th.205ff).

    ‘Này hiền giả Sāriputta, được nói “A-la-hán, A-la-hán”. Vậy A-la-hán có nghĩa là gì?’ ‘Đoạn trừ tham, đoạn trừ sân, đoạn trừ si, này hiền giả, đây là nghĩa A-la-hán.’

    Arahantta Sutta: Saṃyutta-nikāya IV.252, dịch Anh P.H.

     Người mà ý tịch tĩnh, ngữ và nghiệp tịch tĩnh, giải thoát bằng chánh trí, người như vậy an tĩnh.

    Dhammapada 96, dịch Anh P.H.

    Như Lai sau khi chết

    Như được thấy trong *Th.20, đức Phật từ chối trả lời những câu hỏi ‘không xác định’ (vô ký vấn): sau khi chết, Như Lai tồn tại, hay không tồn tại, hay vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay ‘không phải vừa tồn tại vừa không tồn tại. Từ ‘tồn tại’ (hoti: là/đang là) ở đây, thường được dùng để khẳng định tính đồng nhất, chẳng hạn như ‘ông bà-la-môn ấy là một đại thần’, hoặc tương đương với nghĩa ‘đang xảy ra’; đó là nói về các sự biến và tính đồng nhất trong thời gian. Kinh điển nói rõ ràng rằng Phật hay những vị đã giác ngộ khác hoàn toàn không còn tái sinh: không thể nói một vị như vậy là ‘tồn tại’ sau khi chết trong cõi tạm nào đó. Nhưng cũng không thể nói rằng vị đó hoàn toàn là ‘không tồn tại’, nếu câu ‘không tồn tại’ hàm nghĩa rằng ‘vị mà các lậu đã bị đoạn trừ, diệt tận (chỉ vị A-la-hán) vị ấy sau khi thân hoại mạng chung không còn tồn tại’ (Saṃyutta-nikāya III.110). Câu ‘vừa tồn tại vừa không tồn tại’ bị phủ định hàm nghĩa rằng một vị đã giác ngộ sau khi chết sẽ tồn tại trong một trạng thái mà chỉ một phần tự thể tái sanh trong cảnh giới vô sắc siêu việt tất cả sắc tưởng; và câu nói ‘không phải còn cũng không phải không còn’ hàm nghĩa rằng vị ấy đang tồn tại trong trạng thái cực kỳ muội lược: tái sanh ở cảnh giới vô sắc cao nhất, ‘phi tưởng phi phi tưởng xứ’. Hơn nữa, những người hỏi Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết được cho là lầm tưởng Ngài là một Ngã thể giác ngộ.

     Th.10 Như Lai vô lượng như đại dương

    Trong đoạn này, du sĩ Vaccahagotta hỏi Phật về số phận của một Thánh giả sau khi chết. Phật không chấp nhận bất kỳ  khả tính nào trong bốn khả tính được nêu và nói rằng hỏi như vậy chẳng khác nào hỏi lửa đi về đâu khi bị dập tắt. Cho rằng ‘lửa’ là một trong bốn nguyên tố (4 đại chủng, mahābhūta) tổ hợp thành vật chất (sắc sở tạo), và cho rằng một trong bốn khả tính nói Thánh giả giác ngộ sẽ thành hư vô, không tồn tại sau khi chết, thí dụ này không thể hàm nghĩa rằng một vị đã giác ngộ sẽ hoàn toàn đoạn diệt sau khi chết. Đúng hơn, như một ngọn lửa không có nhiên liệu (upādāna), vị Thánh giả không còn chấp thủ (upādāna), thì không còn gì để dẫn đến bất kỳ tái sanh nào. Ngay cả trong đời này, các vị ấy cũng được xem là ‘thâm sâu… khó dò như đáy đại dương’, vì đã đoạn trừ mọi chấp thủ, không còn bám chặt vào và như vậy không tự đồng nhất với năm uẩn là tổ hợp thân và tâm, tác thành một con người. Một tác phẩm hậu Thánh điển sơ kỳ, nói rằng đức Phật vẫn ‘tồn tại’, Milinda Sở Vấn (Milindapañha) (p.73), nói rằng đức Phật vẫn “tồn tại”, mà không thể định vị ở đâu, nhưng có thể chỉ ra được bằng y cứ Pháp thân (Dhamma-kāya)’, bởi Ngài vẫn thuyết pháp.

    ‘Nhưng, Tôn giả Gotama, tỳ-kheo tâm giải thoát như vậy tái sanh nơi nào (sau khi chết)?’ ‘Nói “sanh”, này Vaccha, không thích đáng.’ ‘Như vậy, Tôn giả Gotama, vị ấy không tái sanh?’ ‘Nói “không sanh”, này Vaccha, không thích đáng.’ ‘… vừa tái sanh vừa không tái sanh.’ ‘… không thích đáng.’ ‘… không vừa tái sanh vừa không tái sanh.’ ‘… không thích đáng.’

    ‘… Đến đây thì, thưa Tôn giả Gotama, tôi trở nên vô trí; đến đây thì tôi trở nên mê mờ. Đàm luận trước đây khiến tôi có tịnh tín đối với Tôn giả Gotama, nay tịnh tín ấy biến mất trong tôi.’ ‘Tất nhiên rồi, Vaccha, ông trở nên vô trí. Tất nhiên rồi, ông trở nên mê mờ. Pháp này thật là sâu xa, khó thấy, khó tỏ, tịch tĩnh, vi diệu, siêu việt tầm tứ, tế nhị, chỉ bậc trí mới hiểu. Với những ai có tri kiến khác, nhẫn thọ khác, sở thích khác, gia hành khác, sư truyền khác, thật rất khó có thể hiểu được. Trường hợp như vậy, Ta giờ sẽ nêu một vài câu hỏi; ông hãy trả lời nếu thấy thích hợp. Ông nghĩ thế nào, này Vaccha: Nếu một ngọn lửa đang cháy trước mặt ông, ông có nhận thức hay không, rằng “Ngọn lửa này đang cháy trước mặt tôi”?’ – ‘… có…’ – ‘Nhưng nếu có người hỏi: này Vaccha, “Ngọn lửa đang cháy trước mặt ông này, do duyên gì mà nó cháy?” Được hỏi vậy, ông trả lời như thế nào?’ ‘… tôi sẽ trả lời “Ngọn lửa đang cháy trước mặt tôi này do duyên bởi cỏ và củi.”’

    ‘Nếu ngọn lửa ấy bị tắt trước mặt ông, ông có nhận thức hay không, rằng “Ngọn lửa này đã tắt trước mặt tôi”?’ ‘… có…’ ‘Và nếu có người hỏi ông “Ngọn lửa đã tắt trước mặt ông ấy, nó đã đi đâu? Đi về phương đông, phương tây, phương bắc, hay phương nam?” Được hỏi vậy, ông trả lời thế nào?’ ‘Hỏi như vậy là không thích đáng, Tôn giả Gotama. Bất kì ngọn lửa nào cháy do bởi cỏ và củi, khi hết cỏ và củi, nếu không  có thêm chất đốt khác, vì không có gì giữ ngọn lửa, nó đã “tắt mất”.’

    ‘Cũng vậy, này Vaccha, do bởi sắc pháp nào mà Như Lai được nhận biết, sắc ấy Như Lai đoạn trừ, đã cắt đứt rễ, như cây Tāla bị cắt đứt rễ không sanh trưởng được nữa trong tương lai. Giải thoát do đoạn trừ sắc, này Vaccha, Như Lai thật là thâm sâu, vô lượng, khó dò như đáy đại dương. “Sanh”, không thích đáng, “không sanh”, cũng không thích đáng, “vừa sanh vừa không sanh khởi”, không thích đáng, “không vừa sanh vừa không sanh”, không thích đáng. Do bởi cảm thọ nào… do bởi tưởng nào… do bởi hành nào… do bởi thức nào Như Lai được nhận biết, cảm thọ, cho đến thức ấy Như Lai đoạn trừ, đã cắt đứt rễ, như cây Tāla bị cắt đứt rễ không sanh trưởng được nữa trong tương lai. Giải thoát do đoạn trừ sắc, này Vaccha, Như Lai thật là thâm sâu, vô lượng, khó dò như đáy đại dương.

    Aggi-vacchagotta Sutta: Majjhima-nikāya I.486–488, dịch Anh P.H.

    Th.11 Siêu việt sanh tử, vị giác ngộ siêu việt ngôn từ

    Đoạn này nhấn mạnh rằng một vị giác ngộ siêu việt sanh tử (không phải là ‘sau khi’ chết, vì điều này vẫn ngụ ý tồn tại trong thời gian) là siêu việt mọi khả thuyết về Ngài.

    Niên thiếu Upasīva hỏi:

    ‘Vị mà đã đi mất (như mặt trời lặn, hay đã đi đến đích), phải chăng không tồn tại, hay thường hằng, không bệnh? Nguyện Mâu-ni giải rõ, để con như thật hiểu, Pháp đã được nói này.’

    Thế Tôn trả lời:

    ‘Này Upasīva, kia đã đi mất, không thể lường; không thể nói kia còn, không còn. Với ai nói đến Ngài. Khi mọi pháp bị đoạn tuyệt căn, mọi ngôn từ cũng bị đoạn tuyệt.’

    Upasīva-māṇavapucchā Sutta: Sutta-nipāta 1075–1076, dịch Anh P.H.

    _______________

    [1] Xem *Th.9.
    [2] bhavissati, bhavissāmi, người hỏi dùng thì tương lai, nhưng theo cách lịch sự với nghĩa ‘Ngài có thể là…?’; đức Phật trả lời bằng phủ định, cũng dùng động từ thì tương lai, nhưng theo nghĩa đen, hàm ý những đời sống sẽ có thể là trong tương lai. Tuy nhiên, đoạn này trong Hán dịch tương đương chỉ dùng thì hiện tại.

    1 2 3
    Dẫn vào tuệ giác Phật Phật điển phổ thông
    Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
    Previous ArticleJuichiro Tanabe: Buddhism and Peace Theory: Exploring a Buddhist Inner Peace
    Next Article Toại Khanh: Một thuở Già Lam

    Xem thêm

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Thích Nhuận Châu: Đức Phật đản sanh qua Phật Sở Hành Tán của Mã Minh

    26/05/2026

    Thích Chúc Xuân: Đức Phật ra đời: Thắp sáng An lạc, Bình đẳng và Hòa bình

    21/05/2026
    Add A Comment
    Leave A Reply Cancel Reply

    Bài mới

    Lãng Thanh: Nguyện cầu Phật lực từ bi

    21/06/2026

    Thích Chúc Xuân: Tỉnh thức trước vô thường

    18/06/2026

    GHPGVNTNHK Cáo bạch: Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Thuận viên tịch

    18/06/2026

    Uyên Nguyên: Người đã đi rồi. Núi còn đây…

    15/06/2026

    Đạo Sinh: (LUẬN CÂU-XÁ) Chương 8: Phân biệt định [Phần 27]

    02/06/2026

    Nguyệt san Chánh Pháp số 175 | tháng 6.2026

    02/06/2026

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Paul Dahlke | Đỗ Kim Thêm dịch: Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 

    29/05/2026

    Lãng Thanh: Tháng năm hoa tràn đồng

    28/05/2026

    Vĩnh Hảo: Chọn bạn

    28/05/2026
    Mạng xã hội
    • Facebook
    • Twitter
    • Pinterest
    • Instagram
    • YouTube
    • Soundcloud
    Website Phật giáo

    Hội Đồng Hoằng Pháp | GHPGVNTN

    Phật Giáo Úc Châu

    Viên Giác Pagoda

    Quảng Ðức Homepage

    Thư Viện Hoa Sen

    Làng Mai

    Hoa Vô Ưu

    Hương Tích Phật Việt

    Đạo Hy

    Chung Huong Institute

    GÐPTVN Trên Thế Giới

    GÐPT Việt Nam (Quốc nội)

    Sen Trắng | BHD GĐPTVN tại Hoa Kỳ

    Copyright © 2026 | Phật Việt tùng thư
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc

    Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.