Có người bạn nhắn tin Phạm Thiên Thư đã mất, NH nên viết một bài gì đó tưởng niệm. Tưởng niệm về ông thì không. Nhưng hoài niệm về mình thì tha thiết lắm!
Thuở mới vào chùa làm chú tiểu, năm 83, 84 gì đó, có một cô bạn biết tôi thích thơ nên chép nguyên tập ĐƯA EM TÌM ĐỘNG HOA VÀNG của Phạm Thiên Thư tặng. Tập thơ gồm 250 khổ lục bát 4 câu, chép trên giấy Plur Ford màu hồng rất đẹp. Được biết Phạm Thiên Thư vốn là một tu sĩ 10 năm ở trong chùa với pháp danh Tuệ Không, ông từng được ca ngợi là người thi hoá Kinh Kim Cang, được Hoà Thượng Minh Châu viết lời giới thiệu. Tôi a vào đọc Động Hoa Vàng say sưa như đọc tâm kinh. Từng câu chữ, từng hình ảnh trong thi ca khắc sâu vào tâm khảm, như nắng lâu gặp mưa, như đêm dài hửng sáng, sau Truyện Kiều của Nguyễn Du, Phạm Thiên Thư là người ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất.
Làm sao khỏi xao xuyến khi đọc những câu thơ ấn tượng thế này:
“Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai ta chết dưới cội đào
Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu”.
Tôi không thích những câu thơ giống như vè mà các vị khất sĩ hay đọc để lý tưởng hoá mình, biện minh cho một đời sống thoát tục, đại loại như:
“Đời tu sĩ có tình yêu không nhỉ”…
Hay:
“Tôi có tình yêu rất mặn nồng
Yêu đời yêu đạo với non sông”…
Thơ không phải thứ ngôn ngữ dùng để diễn tả, diễn bày. Thơ càng không phải thứ dùng để chuyên chở đạo lý. Thi ca là hơi thở của sự sống, là cảm xúc chân thật thoát ra từ trái tim rung động, từ trực giác thấu thị. Và ngôn ngữ chỉ là một loại hình nghệ thuật thô phù để ghi nhận những rung động thầm kín riêng tư đó, như hội hoạ hay âm nhạc cũng vậy. Ban đầu người ta ngộ nhận người tu không được hay không nên làm thơ, họ gắn cho loại hình nghệ thuật này là lãng mạn theo nghĩa tiêu cực, là mơ mộng hão huyền. Nhưng thực chất thơ chính là Đạo. Những vần thơ hay nhất của thi ca Việt Nam và thế giới lại là thơ của những Thiền sư đắc đạo, như Hoàng Bá Hy Vận của Trung Hoa, như Basho của Nhật Bản, hay như Viên Chiếu của Việt Nam. Thuở nhỏ tôi chưa được đọc những Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia Huyền Giác, chỉ được đọc những câu vè đạo lý, nên khi gặp Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư, tôi mới hiểu được thi ca có một cõi riêng mà không phải ai cũng cảm nhận được.
“Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm”.
“Mười con nhạn trắng” là gì? Tôi đã nhiều lần tự cắt nghĩa. Thập nguyện, Thập lực hay Thập hạnh gì đó cũng được. Nhưng Phạm Thiên Thư đâu có giáo điều đến thế! Có lúc tôi tự huyễn hoặc mình rằng “mười con nhạn trắng” ấy là mười ngón tay chìm trong khói thuốc. Thôi thì hiểu sao cũng được. Nhưng đến câu “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân” thì thôi quá đỉnh. Trụ Vũ viết “Phật phất phơ giữa hàng rào, thắm hoa dâm bụt xôn xao nắng chiều“. Phật vào đời như thế đã quá đẹp, quá sinh động và lung linh. Nhưng khi Phạm Thiên Thư nói “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân” thì thế giới Hoa Tạng lần đầu tiên đi vào thi ca Việt Nam một cách thơ mộng nhất. Xưa Viên Chiếu viết “Ly hạ trùng dương cúc, chi đầu thục khí oanh“. Tôi đã đem cái kiến giải thô thiển của mình để bình cảnh giới ẩn mật của Thiền sư. Nhưng đến khi đọc Động Hoa Vàng, cảm thức bàng bạc của thi ca đã choáng ngợp hồn tôi quá đỗi. Nào phải chỉ một hai khổ thơ. Hai trăm năm mươi khổ, một ngàn câu thơ, khổ nào cũng là một công án, khổ nào cũng hay, cũng đẹp. Khi đọc Đoạn Trường Vô Thanh, được xem như Hậu Đoạn Trường Tân Thanh của ông, rằng hay thì hay đó, nhưng cảm xúc của tôi đã nguội, không còn hứng thú như thuở đọc Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng. Làm sao một chú tiểu chùa quê không đắc ý khi đọc:
“Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”.
Rồi thì:
“Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên rừng trẫy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối, thiết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn”.
Táo bạo hơn nữa, Phạm Thiên Thư dắt người vào động:
“Vào hang núi nhập Niết bàn
Tình anh nở đoá hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh”…
Xưa đọc ngữ lục đến câu “Nhất phiến bạch vân hoành cốc khẩu” tôi đã choáng ngợp thế giới “lãng mạn” của các Thiền sư, nhưng đọc lại PTT thì phải nói ông đã chuyển tải ngữ lục của các Thiền sư bằng ngôn ngữ thi ca bồng bềnh thi vị nhất.
Viết về Ni cô, nhà sư Tuệ Không thuở ấy mô tả:
“Cành sen lá trĩu trong sương
Áo Ni sạm vạt trời hong buồn về
Tay nào ngả nón thơ che
Tay nào lần chuỗi Bồ đề xanh xao”
Hay:
“Ni về khép cổng chùa tu
Sáng ra mở cửa quét thu vườn hồng
Thu vương ngọn chổi đôi bông
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên”.
Chả thế mà Thầy tôi cấm tuyệt tôi làm thơ. Thầy tôi sợ tôi lạc vào “thi ca tam-muội”, có ngày “tẩu hoả nhập ma” như chàng trai họ Phạm cùng thời, hoàn tục và lặn hụp cùng nghiệp dĩ của mình. Thuở ấy tôi cũng làm một tập thơ lấy tựa CÔ THÔN, diễn tả hình ảnh chàng trai bỏ chốn cũ ra đi, cuối cùng gặp lại cô thôn, cõi Hoa Nghiêm trên lộ trình tâm thức, là cõi miền tương ứng mà gã cùng tử từ đó ra đi, lấy ý từ câu thơ “Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ, liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” của Viên Chiếu. Các thi hữu của tôi nói tập thơ phảng phất chất liệu Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư, mà tôi nào muốn giống ai. Tôi là tôi. Thơ phải mang chữ ký của mình, chứ người đọc mà nói thơ tôi giống Phạm Thiên Thư, giống Bùi Giáng, giống Tuệ Sỹ thì còn gì là tôi nữa, nên tôi đã đốt tập thơ 1000 câu này của mình. Tôi chỉ nhớ vài đoạn tôi thích:
“Đêm về mắc võng trên cây
Gối đầu trang sách thắp cây nến hồng
Chuyện nghìn năm trước mơ xong
Giật mình nến chảy còn đông nửa chừng”.
Hay những câu đầy tiếu ngạo:
“Lơ thơ mấy búp trà tươi
Sông sâu, nước đục, vốn lười xách xa
Chèo thuyền hứng dĩa sương sa
Sáng ra đổ ấm nấu trà uống chơi”…
Một đôi lần đến thăm Phạm Thiên Thư ở Sài Gòn trong thập niên 90, khi ông đã là một ông già chuyên trị bệnh bằng nhân điện, cách nói chuyện và thái độ của ông làm tôi không cảm tình lắm nên tôi “quên” luôn ông từ đó. Đến nay nghe tin ông mất, muốn viết đôi dòng để nhớ mình một thời non trẻ.
Riêng những vần thơ của Phạm Thiên Thư được Phạm Duy phổ nhạc thì khỏi nói. Thơ đã hay, người phổ nhạc lại càng tài hoa, chắt lọc thi ca đầy mỹ cảm. Thái Thanh hát Động Hoa Vàng, Em Lễ Chùa Này, Gọi Em Là Đoá Hoa Sầu và 10 bài Đạo Ca… luôn làm lòng ta xao xuyến. Ngày Xưa Hoàng Thị làm rung động không biết bao nhiêu thế hệ suốt 60 năm qua. Ai yêu nhạc mà chưa từng nghe “Em tan trường về, anh theo Ngọ về…”. Tôi đã từng đến Thư viện Thành Phố để gặp và nói chuyện với cô Hoàng Thị Ngọ, nguyên mẫu của Ngày Xưa Hoàng Thị đang làm việc ở đây, chẳng biết bây giờ cô ấy còn không? Phạm Duy đã ra đi, hôm nay Phạm Thiên Thư cũng đã đi nốt. Nhưng những giai điệu của hai chàng trai họ Phạm ngày xưa thì vẫn còn vọng mãi:
“Xưa theo Ngọ về
Mái tóc Ngọ dài
Hôm nay đường này
Cây cao hàng gầy
Đi quanh tìm hoài
Ai mang bụi đỏ đi rồi
Ai mang bụi đỏ đi rồi
Ai mang bụi đỏ đi rồi”.
Còn tôi, bị Sư phụ la mãi chuyện mê đắm văn chương, giờ vẫn còn ngồi lan man hoài niệm. “Thôi thì thôi chỉ là phù vân. Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi”. Xin kết bài viết này bằng hai câu thơ con cóc:
Ai mang bụi đỏ đi rồi
Còn ta ngồi lại hát lời tử sinh!
Hoa triêu nguyệt tận năm Bính Ngọ.
Nhất Thanh

