chuadau bacninh

Những đóng góp của Phật giáo cho nền mỹ nghệ, văn chương và triết học ở Việt Nam

CHÁNH TRÍ – MAI THỌ TRUYỀN

 

Từ Trung Hoa Phật giáo được truyền sang Việt Nam lối cuối thế kỷ thứ hai, nghĩa là cách nay trên một ngàn bảy trăm năm, sau Khổng giáo. Bốn trăm năm sau, liền khi Việt Nam chấm dứt quyền đô hộ của người Trung Quốc, Phật giáo bắt đầu phát triển mạnh, nhờ sức hộ trợ của các quốc vương, và từ đó tiếp tục bành trướng không gián đoạn luôn cả về hai mặt rộng và sâu, dầu rằng đã phải có đôi khi gặp sự tranh chấp đố kỵ của Khổng giáo và Lão giáo. Trải qua một khoảng thời gian lịch sử khá lâu, từ năm 968 đến 1314, Phật giáo còn được nâng cao lên đến hàng quốc giáo. Dưới hai triều Lý, Trần, nhiều vua đứng ra nêu gương tu hành tinh tấn, thậm chí có vị đã từ ngôi lánh tục, vào núi tham thiền. Chuyện nghĩ cũng lạ và giá không bị bắt buộc phải đứng yên trong phạm vi bài thuyết trình này, có lẽ tôi đã thử nghiên cứu trường hợp của các vị đạo tâm cao cả này và chắc sẽ có nhiều thú vị.

Như đã nói, Phật giáo thời bấy giờ chiếm một địa vị gần như độc tôn. Địa vị ấy, đến ngày nay, Phật giáo còn nắm giữ, đành rằng không phải công khai như thuở xưa, mà trong thâm tâm của một đa số rất quan trọng. Cứ vào đây mà xét thì dễ đoán biết ảnh hưởng của Phật giáo lớn lao như thế nào ở trên đất Việt và những gì quí báu mà Phật giáo đã cống hiến cho việc xây dựng nền luân lý và đạo đức của một dân tộc hiền hòa, chất phác, hình như sinh ra là để nghinh đón đạo Từ bi.

Chính dưới nét đậm Từ bi này của con người đức Phật mà giáo lý của ngài được người dân Việt hiểu biết và tán thán. Các nghệ sĩ, hiền triết, văn nhân thời xưa, không ai là không nhuần thấm đạo Từ bi; đến nay vẫn còn đông số người trong ba giới này tiếp tục chịu ảnh hưởng gương xả thân cứu đời của Phật tổ.

Một tác giả Tây phương, khi vẽ lại con đường lịch sử của nền Triết học Trung Hoa, có viết: “Phật giáo là ảnh hưởng ngoại quốc đầu tiên đã thúc đẩy mạnh bước tiến triển của dân tộc Trung Hoa trên phương diện tâm lý, nhờ đó chẳng những tôn giáo mà các ngành khác của nền văn minh trong nước đều được phục sinh, vun bón và phát đạt đến cực độ. Bất luận ai, dầu là người chưa từng hiểu biết đời sống tinh thần của dân Trung Hoa đi nữa, chỉ một liếc mắt qua những công trình tuyệt tác của nghề nặn tượng cũng nhận rằng nền mỹ nghệ xứ này đã bắt nguồn thâm sâu ở tinh hoa Phật giáo, cho đến nỗi khi Phật giáo đạt đến mức tối huy hoàng, thì mỹ nghệ cũng theo đà mà đơm hoa kết quả sum mậu lạ thường”. (1) Chúng tôi tưởng lời nghiệm xét của tác giả có thể chuyển sang nguyên vẹn cho Việt Nam, khỏi sửa đổi một điều nào, đối với khoa kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Những chùa chiền, tranh tượng còn sót sau những tang thương do thời gian và chiến tranh gây ra, cũng như những công trình khảo cổ trước năm 1945, đều chứng tỏ ảnh hưởng to tát của Phật giáo trong địa hạt này.

Giáo sư Paul Mus cho rằng trong vài xứ và đứng về một vài phương diện, nhà nghệ sĩ thường gần các thiện tín hơn là nhà tu sĩ để diễn đạt những gì họ quí chuộng và lo nghĩ hằng ngày. Điều ấy hẳn đã vậy, nhưng ở Việt Nam, vai tuồng đó, nhà nghệ sĩ hình như đã nhường lại cho nhà văn sĩ, nhứt là thi sĩ, và những thi sĩ này cũng là những bậc triết gia xuất sắc. Sở dĩ như thế là vì dầu biết thích ngắm những cái dáng mỹ miều, những màu sắc cân đối, người Việt Nam vẫn chỉ cảm xúc thật sự trong những rung động của âm thanh. Tại sao thế? Thật khó mà giải thích. Xu hướng đó làm cho người Việt rất mê thích ca nhạc, chẳng những lối nhạc của đờn sáo mà thôi, mà còn và nhứt là lối nhạc không kém du dương và uyển chuyển của câu thi lời phú. Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ, muốn biết nước Việt đã hưởng được những lợi lạc gì sau mười bảy thế kỷ quy y Phật pháp, cần phải hướng sự tìm tòi về nẻo văn chương hơn là về nẻo mỹ nghệ. Sách vở mới thật là kho tàng của tư tưởng. Và cũng không cần moi tìm ở đâu nữa, vì trong Văn chương đã có sẵn Triết học, bằng cớ là ít có một áng văn hay nào mà trong đó không lồng một vài triết lý hay luân lý.

Đến đây, cần phải đi lùi lại thế kỷ thứ sáu, lúc các am tự vừa là những nơi phát huy ánh sáng của đạo Phật, vừa là lò đào tạo các bực tao nhân mặc khách. Nên nhớ rằng thời ấy không có trường công, và trong đám thanh niên ít người học Nho, ngoại trừ nhà Sư. Cảm thấy trong giáo pháp Phật đà có những đạo lý cao siêu, huyền diệu, các tu sĩ, bất mãn với lối khẩu truyền, bèn cố gắng học Hán tự để tham khảo kinh điển cho đến chỗ tinh vi. Đời này sang đời khác đã thành một cái lệ, kịp đến khoảng giữa năm 1010 và 1225, dưới triều nhà Lý, ngoài chốn Thiền môn, thật khó mà tìm một thi sĩ có tài. Thiền môn thật, vì các văn gia nổi tiếng thời ấy đều là những Thiền sư do các Tổ Thiền tông từ Trung Hoa sang đào luyện. Tuy sâu xa khó hiểu cho đại chúng, văn phẩm của các ngài không vì lẽ đó mà không làm tăng uy thế của Phật giáo lúc ấy đã lan tràn gần khắp nơi.

Từ thế kỷ thứ mười lăm, tình thế bị đảo lộn: Nho giáo đã thắng Phật giáo và được nhà vua tin dùng, ủng hộ. Tuy thất bại chốn triều trung, Phật giáo vẫn sống vững trong tâm hồn của dân chúng đã được mấy trăm năm giáo hóa, để rồi nhân phong trào “Tam giáo qui nhứt” ở Trung Hoa mà phục phát một cách mạnh mẽ như trước. Các Nho gia hình như cũng nhận chịu phong trào ấy, cho nên sau một lúc do dự, đã cùng các bực tiền bối Trung Hoa, cho rằng muốn có một thực học, cần phải tham bác Tam giáo là Nho, Thích, Đạo. Nhờ phong trào ấy, mà phạm vi hoạt động của văn chương và triết học được nới rộng ra nhiều.

Những tiến bộ về mặt văn chương trong thời kỳ vừa nói thật đáng kể, nhưng chưa quan trọng bằng những kết quả thâu lượm được ở hai thế kỷ 17 và 18, sau khi “chữ nôm” được sáng tạo. Còn lúc nào thuận hơn cho việc truyền bá tư tưởng? Tác giả và độc giả chung nói một thứ tiếng, tất cả những trở ngại vì âm thanh bất đồng, vì lối nói xuôi ngược do chữ Nho tạo ra, đều bị chữ Nôm dẹp hết, thành ra sự học hỏi được dễ dàng và mau lẹ hơn một phần nào. Sự kiện ấy đã giúp rất nhiều cho công cuộc bành trướng phong trào Tam giáo qui nhứt.

Nay xin xét sơ phong trào này. Trước hết nên ghi rằng, tuy có sự tin tưởng sai khác giữa ba mối đạo, ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, chưa hề có một sự cuồng tín đến đỗi gây họa đổ máu như ở một vài nơi trên thế giới. Lại nữa, trong khi tìm hiểu giáo lý của đối phương để dễ chiến thắng, mỗi đạo có lẽ đã thấy, tuy ngoài có chỗ trái ngược nhau, ba giáo tựu trung vẫn đồng trên một căn bản. Thí dụ: Nho giáo tin ở quyền thưởng phạt của Trời, nhưng cũng nhìn nhận trách nhiệm của người. Thế thì giữa thuyết này và luật nghiệp báo, sự sai khác quá mỏng manh khiến cho đôi bên không thể nào không dung hòa được. Vả lại, dầu ai nói gì đi nữa, cái thực dụng chủ nghĩa của Nho giáo quá thiên về vật chất cho nên không làm sao thỏa mãn được những khát khao về mặt thiêng liêng, huyền bí là sự khao khát chung của nhân loại. Thật thế, thử hỏi trên thế gian này, dân tộc nào không tìm tòi xem biết coi cảnh bên kia thế giới là như thế nào, chết rồi sẽ ra sao, tương lai có những gì, v.v…, toàn là những câu hỏi mà không sao kiếm được câu trả lời dứt khoát trong giáo lý của họ Khổng. Các văn gia thi sĩ của Việt Nam chắc không tránh khỏi những thắc mắc vừa kể. Thiết nghĩ có giải thích như thế này mới hiểu được nguyên ủy việc xáo trộn những tư tưởng rất cách biệt nhau ở chỗ nguồn cội. Đứng về mặt thực hành, phải nhìn nhận rằng chủ trương Tam giáo qui nhứt rất là hợp lý, vì bề ngoài là hợp mà bề trong có chia, và chia đây chỉ là chia phạm vi hoạt động và ảnh hưởng thế nào cho cân xứng với tính cách của mỗi đạo. Đại khái, Nho giáo thì lo về nhân sự, tu tề như thế nào để đi đến chỗ trị bình, còn Phật giáo và Đạo giáo thì lo giải quyết những vấn đề cao siêu hơn.

Đứng về mặt thuần túy mà xét, sự xáo trộn ba đạo như vừa nói, thật không phải là một việc đáng mong, nhưng nếu đứng về kết quả mà luận, thì thấy rằng nhờ có sự xáo trộn đó mà lòng người dường như bớt xao xuyến lo âu, tánh tình phong tục mới được tốt đẹp, chưa kể cái việc giúp cho quảng đại quần chúng thâm nhiễm được đôi phần những giáo lý phổ thông mà mỗi đạo cần phải truyền bá vì sự lợi ích riêng của chính mình.

Khảo cứu tỉ mỉ được những áng thi ca bằng chữ Nôm – chúng tôi không nói đến những văn xuôi, vì thời bấy giờ loại văn này rất ít – chắc chắn sẽ làm sáng tỏ phương diện lợi lạc của cái mà người bất thức thường xem như một món “tả bính lù” hay như một tà giáo khó tha thứ. Ở đây chúng tôi xin phép dẫn Truyện Kim Vân Kiều làm thí dụ. Truyện Kiều là một áng văn vần tuyệt tác, không tiền khoáng hậu, âm thanh tao nhã, thi vận êm đềm, khiến cho người đọc dễ cảm, huống chi từng hồi lại còn thêm những ý tứ cao siêu đượm nhuần hương từ bi giác ngộ. Thật không quá đáng mà nói rằng, với bao nhiêu nhân tình thế thái rất gần với đời sống xã hội thực tế đã được diễn tả thần tình trong đó, Truyện Kiều có một hiệu lực bằng cả ngàn sách luân lý hay triết học trong công cuộc chiến đấu để đem thắng lợi về cho Từ bi, Hỷ xả, Thanh cao. Ngay đến thời bây giờ, dầu xa cách hàng trăm năm và dầu dân trí có hướng về tân học, Truyện Kiều vẫn còn được kẻ này xem như một quyển Việt ngữ bách khoa hay như một kinh văn tôn quí, người khác như một khuôn vàng thước ngọc cho việc xử thế tiếp vật. Còn đối với tất cả, có thể nói đó là một quyển Phật giáo yếu lược cho hạng sơ cơ rất là tiện lợi. Được mọi giai cấp xã hội nồng nhiệt đón tiếp, nam thích mà nữ cũng ưa, Truyện Kiều đã đem đến và còn tiếp tục đem đến cho mọi nhà ánh sáng Giác ngộ, sự thức tỉnh về luật nghiệp báo nghiêm minh, lòng hâm mộ sự an lạc của những tâm hồn vô dục và… khuyên bảo mọi người phải dè dặt, đừng làm điều thất nhân tổn đức mà phải chịu tái sanh trong đau khổ. Có người sẽ bảo: như thế thì quá tầm thường, chưa phải là Phật giáo. Vâng, nhưng những tâm hồn thơ ngây có đòi hỏi nhiều hơn đâu và chính họ mới là những người đáng để ý, vì hình như tại có họ mới có tôn giáo…

Trước khi chấm dứt bài thuyết trình ngắn ngủi này, xin nói thêm rằng, cho đến ngày nay, Phật giáo vẫn còn là nguồn cảm hứng cho kịch giới, nhiều thuần phong mỹ tục đều nhờ Phật giáo mà tồn tại, nhiều truyện xưa tích cũ chịu ảnh hưởng đạo Phật còn được người trong xứ ưa thích, nhiều ca dao, cách ngôn còn căn cứ trên nền tảng Phật giáo. Nếu Phật giáo là nguồn nước để giải khát cho hàng trí thức, Phật giáo cũng là giọt sữa để nuôi dưỡng những đạo tâm nồng nhiệt, là ngọn đuốc soi đường cho kẻ say mê lạc lối, là bờ giác để cho người đắm đuối quay về. Cửa Thiền là nơi mà các bực tín tâm đến chiêm ngưỡng mà cũng là đám vườn xanh giữa bãi sa mạc chờ đón những ai quá khổ vì nóng bức.

Vì thấm nhuần đời sống hằng ngày của dân chúng một cách mật thiết như thế, đạo Phật hiện nay đã trở thành một nhu cầu tối yếu cho người dân Việt. Trước kia là một đạo của xứ ngoài, Phật giáo nay là một đạo của dân tộc.

______________

(1) E. V, Zenker – Histoire de la Philosophie chinoise, do G.Lepage dịch, Payot. Paris, 1932.

Xem thêm

phat 2

Mai Thọ Truyền: Tinh thần hòa bình trong Phật giáo

* Diễn Từ của ông Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa nhân buổi lễ …

Chanh tri

Tiểu sử Cư sĩ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền

Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.