(Thư viện Phật Việt): Nhà văn Hoài Thanh[1] (1909 – 1982) đã viết bài ‘Đạo Phật của tôi’, đăng trên báo Tràng An[2] số 21, ngày 10‑5‑1935, trong bối cảnh lễ Phật đản đầu tiên tổ chức tại Huế và phong trào chấn hưng Phật giáo đang lan tỏa khắp ba miền. Tác giả, sau năm năm[3] hòa mình vào cảnh sắc và con người xứ Huế, không chỉ thấu hiểu sinh hoạt tín ngưỡng mà còn cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của đạo Phật trong đời sống xã hội lúc bấy giờ. Dưới ngòi bút tinh tế, Hoài Thanh đã mượn hình ảnh dòng sông Hương, ánh trời chiều, ánh trăng lên để minh họa cho tính đa dạng, linh động của đạo Phật, tựa như “dòng nước sông Hương, ánh trời chiều trông tươi vui, ánh trăng lên trông huyền ảo”. Chính từ những ấn tượng sinh động ấy, bài viết mở ra một không gian suy ngẫm, nơi đạo Phật không bị gò bó vào khuôn khổ tôn giáo mà lan tỏa như một triết lý đời. Với giọng điệu trang trọng, giàu hình ảnh, tác giả mời gọi độc giả cùng chiêm nghiệm bản thể của Phật pháp vượt lên khỏi mọi giáo điều cứng nhắc.

Từ những dòng mở đầu, Hoài Thanh khẳng định tính đa dạng vô hạn của đạo Phật: “không phải chỉ có một đạo Phật mà thực ra có vô số đạo Phật. Có bao nhiêu tín đồ là có chừng ấy đạo Phật”. Hình ảnh “dòng nước sông Hương” với “kẻ dạo chơi trên bờ sông, người chèo thuyền dưới sông” gợi lên cách mỗi cá nhân trải nghiệm giáo lý theo vị trí và tâm thế riêng, tạo nên muôn sắc thái của cùng một đạo pháp. Đây không chỉ là minh họa phong phú mà còn là luận chứng thuyết phục cho quan niệm tương đối, cá nhân hóa của tác giả về đạo Phật. Ông so sánh việc giải thích kinh điển của Phật với việc “ghép cho người xưa nói thế nào cũng được”, ám chỉ hiện tượng vận dụng giáo lý sao cho phù hợp với xu hướng thời đại. Nhờ vậy, độc giả nhận ra rằng đạo Phật không cố định một hình thức duy nhất mà biến hóa theo tâm thức mỗi con người. Hình ảnh thiên nhiên Huế – sông Hương, trời chiều, trăng lên – hài hòa với nội dung triết lý, làm nổi bật tinh thần dung thông, không ràng buộc. Cách dùng ẩn dụ giàu tính thiền này chứng tỏ Hoài Thanh vừa là nhà văn thấm đẫm chất hội họa, vừa là người am hiểu Phật học sâu sắc.
Tác giả lập luận: “Riêng ý tôi, đạo Phật không phải là một tôn giáo. Đạo Phật là một cái thuyết về triết học, có căn cứ vững vàng vào khoa học”. Ông phân tích sự khác biệt giữa Phật pháp và các tôn giáo hữu thần, nhấn mạnh Phật pháp không có đấng sáng tạo, mà vận hành theo “luật luân hồi” hay “luật nhân quả” bất biến. Luật này, theo tác giả, tương đồng với học thuyết nguyên tử trong hóa học đương thời, khi “nguyên tử tan ra… rồi kết lại sống một kiếp khác”. Qua so sánh với thuyết nguyên tử, Hoài Thanh nâng cao vị thế khoa học cho Phật pháp, cho thấy tính logic, khách quan của giáo lý. Việc mượn khái niệm “năng lực tiềm tàng” ví như “luồng điện rung động” càng làm rõ bản chất siêu hình mà không huyễn hoặc, giúp người đọc dễ liên tưởng đến các khái niệm khoa học hiện đại. Từ đó, ông khẳng định Phật pháp là triết lý hợp lý, không phụ thuộc niềm tin mù quáng mà dựa trên nhận thức về tự nhiên và nhân sinh.
Trong bài viết của mình, Hoài Thanh không dừng lại ở việc phân tích giáo lý suông, mà đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của đạo Phật với xã hội Huế giữa thập niên 1930. Ông không bình phẩm hành trạng của các nhà tu hành hay phê phán giáo điều, mà mời gọi độc giả cảm nhận “tiếng hát của ca công nghe hân hoan, tiếng tụng kinh của các ni cô nghe trong trẻo, tiếng chuông chùa Diệu Đế hôm nay đầm ấm khác thường”. Hình ảnh âm thanh chùa chiền hòa cùng không khí lễ hội Phật đản làm hiện lên sức sống mới, đầy hy vọng của quan niệm Phật pháp khi được tái sinh trong lòng dân chúng. Tác giả đặt ngôn từ trong khung cảnh lễ hội, ánh sáng, âm thanh và hơi người, khiến ý niệm về đạo Phật trở nên sống động, gần gũi. Thay vì lý giải giáo lý trừu tượng, ông dẫn dắt người đọc qua trải nghiệm cảm giác, qua khung cảnh cụ thể, giúp ai cũng thấy mình là một “kẻ dạo chơi” hoặc “người chèo thuyền” trên sông pháp. Cách tiếp cận này thể hiện tấm lòng trân trọng truyền thống Phật giáo Huế và niềm tin vào sức mạnh tập thể của Phật tử trong công cuộc chấn hưng.
Qua “Đạo Phật của tôi”, Hoài Thanh không chỉ đưa ra một quan niệm cá nhân về Phật pháp mà còn ghi lại một khoảnh khắc lịch sử khi đạo Phật thức dậy trong lòng dân chúng Huế năm 1935. Tác giả không bình phẩm hay phân tích giáo lý một cách khô khan, cũng không đề cập đến phẩm hạnh của tăng ni, mà chọn cách bình luận về ý nghĩa sống động của lễ hội, âm thanh và niềm tin tập thể. Chính ở chỗ không phán xét giáo điều, ông mới mở ra không gian suy ngẫm tự do, nơi mỗi người có thể tự tìm lấy “đạo Phật của mình” dựa trên trải nghiệm và tri thức. Bài viết vì thế mang giá trị cả về mặt văn chương lẫn tư tưởng, giữ nguyên tinh thần linh động và dung hòa giữa truyền thống Phật giáo với khoa học hiện đại. Hoài Thanh, qua quan niệm về đạo Phật của mình đã viết nên suy tưởng thấm đẫm tình quê hương, dân tộc và lòng từ bi phổ quát của đạo Phật.
[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0i_Thanh
[2] Báo Tràng An xuất bản tại Huế năm 1935, chủ nhiệm Bùi Huy Tín, chủ bút Phan Khôi.
[3] Từ Sơn, “Ngạc nhiên: Ngòi bút thời thanh niên của Hoài Thanh” https://www.viet-studies.net/TuSon_HoaiThanh_TrangAn.htm
MỘT QUAN NIỆM VỀ ĐẠO PHẬT
ĐẠO PHẬT CỦA TÔI
Đạo Phật mà có lẽ đạo nào cũng vậy, ý nghĩa rất miên man. Cứ khéo khéo một tí, cứ tựa vào từng câu trong các pho kinh thì muốn ghép cho người xưa nói thế nào cũng được. Ông Khổng, ông Mạnh đã mấy trăm đời làm thầy cho các bực đế vương thế mà hồi những thuyết dân quyền tràn sang phương đông người ta còn moi ra được cái câu: “Dân vi quý xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Đến khi lòng người xiêu xiêu về chủ nghĩa xã hội thì người ta lại bắt ông Khổng nhắc lại câu: “Thiên hạ đại đồng”.
Đạo Phật cũng vậy. Có một dạo về thế kỷ thứ XIX các thi sĩ Pháp Leconte de Lisle, văn sĩ Đức Schopenhauer vin vào đạo Phật để nói những giọng chán đời; bước sang thế kỷ này người ta đầy dẫy lòng ham muốn, lòng vui đời, người ta lại bắt đạo Phật vui đời, đạo Phật cũng chìu theo mà vui lòng vui đời.
Vậy nên ta có thể nói rằng không phải chỉ có một đạo Phật mà thực ra có vô số đạo Phật. Có bao nhiêu tín đồ là có chừng ấy đạo Phật, hơn nữa có bao nhiêu người biết đạo Phật là có chừng ấy đạo Phật. Đạo Phật của ông thầy thuốc kiêm thầy tu Lê Đình Thám không giống đạo Phật của bà láng giềng tôi mỗi lần đi chùa không bao giờ quên xin xăm trước bàn thờ Quan Công mà cũng không giống đạo Phật của tôi là người không theo đạo. Đạo Phật cũng như dòng nước sông Hương, ánh trời chiều trông tươi vui, ánh trăng lên trông huyền ảo, mà kẻ dạo chơi trên bờ sông, người chèo thuyền dưới sông, mỗi người, tùy vị trí của mình trông nước sông thấy một khác.
Riêng ý tôi, đạo Phật không phải là một tôn giáo. Đạo Phật là một cái thuyết về triết học, có căn cứ vững vàng vào khoa học.
Có người tinh ranh hỏi bà láng giềng tôi: “Bà tin đức Phật Tổ đem lòng từ bi cứu vớt chúng sinh ra khỏi thế giới khổ hạnh. Nhưng đức Phật Tổ của bà thật cũng lôi thôi. Đã có lòng thương muôn loài không muốn cho muôn loài chịu mọi điều đau đớn, sao lại còn bày vẽ ra thế giới khổ hạnh này làm gì? Tự mình tạo ra cái khổ rồi tự mình diệt đi, làm gì vậy?” Hỏi như thế là buộc cho Phật Tổ cái quyền tạo hoá mà vốn Phật Tổ không có. Đạo Phật là một đạo không có tạo hoá, không có một vị chí tôn gây dựng nên trời đất và muôn loài như thói thường trong các tôn giáo; một đạo vô thần vậy (une religion sans dieu). Trời đất và muôn loài tự nhiên vốn có như vậy, và cũng tự nhiên đi theo những luật bất di bất dịch từ ngàn xưa.
Luật cốt yếu trong đó là luật luân hồi nói một cách khác là luật nhân quả của các nhà khoa học. Nhân duyên nào thì kết quả ấy, không có sức gì, quyền gì thay đổi được. Phép cứu vớt chúng sinh cũng không có gì khác hơn là làm cho chúng sinh giác ngộ cái lẽ tự nhiên ấy và xử trí thế nào cho hợp lẽ.
Người ta và muôn vật muôn loài đều là hình thức của cái năng lực tiềm tàng tràn lan trong vũ trụ. Năng lực ấy bản thể nó không phải là vật chất mà cũng không phải là tinh thần. Nên lý thuyết của nhà Phật không duy tâm mà cũng không duy vật vì Tâm và Vật xét cho cùng chỉ là một mà thôi. Năng lực ấy đại khái người ta có thể ví như một luồng điện.
Luồng điện rung động mãi mãi không thôi, khi mau, khi chậm khác nhau, theo đó, muôn vật muôn loài cũng mỗi khác nhau. Mỗi chúng ta chẳng hạn, đều do vô số phần tử rất nhỏ của năng lực kết lại, rung động theo một nhịp riêng.
Lúc chết tạm thời các phần tử ấy tan ra, nhưng theo hấp lực tự nhiên các phần tử sẽ kết lại sống một kiếp khác nó là kết quả kiếp đã qua và nhân duyên kiếp sắp tới.
Có điều ta nên biết là cái thuyết về nguyên tử (theorie atomique) của hoá học ngày nay có nhiều chỗ rất giống cái vũ trụ quan nhà Phật.
Nhưng mà thôi, tôi không muốn giữ mãi độc giả trong câu chuyện khô khan về lý thuyết, tiếng hát của ca công nghe hân hoan, tiếng tụng kinh của các ni cô nghe trong trẻo, tiếng chuông chùa Diệu Đế hôm nay đầm ấm khác thường, ta hãy đi xem hội đã.
HOÀI THANH
(Tràng An số 21 ngày 10-5-1935)

