Trong tiếng Phạn, tathāgatagarbha được phiên dịch nhiều cách khác nhau: “tử cung của chư Như Lai,” “điều kiện phát triển của chư Như Lai,” “phôi bào của chư Như Lai,” “cốt tủy của chư Như Lai”; có lẽ từ này hàm nghĩa “chứa đựng một Như Lai.” Hoặc được diễn dịch một cách thiếu chính xác là “phật tánh”, tức tiềm năng tựu thành giác ngộ viên mãn được một số trường phái Đại Thừa chủ trương đang hàm tàng trong tất cả chúng sinh.
Tathāgatagarbha là chủ đề của nhiều bản kinh Đại Thừa quan trọng, bao gồm
– Như Lai Tạng Kinh [Tathāgatagarbhasūtra; De bzhin gshegs pa’i snying po’i mdo; 大方等如來藏經] (với chín tỷ dụ nổi tiếng về trạng thái này);
– Thắng-Man Sư Tử Hống Kinh (Śrīmālādevīsiṃhanādasūtra; Lha mo dpal phreng gi seng ge’i sgra’i mdo; 勝鬘師子吼一乘大方便方廣經).
– Đại Bát-Niết-Bàn kinh [Mahāparinirvāṇasūtra; Yongs su my a ngan las ’das pa chen po’i mdo; 大般涅槃經].
– Nhập Lăng-Già Kinh [Laṅkāvatārasūtra; Lang kar gshegs pa’i mdo; 入楞伽經] (trong đó như-lai-tạng được đồng nhất với a-lại-da thức);
Và một luận thư Ấn-độ quan trọng là Ratnagotravibhāga [alt. Ratnagotravibhaṅga; Dkon mchog gi rigs rnam par dby e ba; 究竟一乘寶性論); Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận] (còn được biết đến với tên Uttaratantra), kèm theo một sớ giải của Vô Trước.
Tathāgatagarbha còn là khái niệm trung tâm đối với những kinh sách được người đời sau biên soạn ở Đông Á, như Đại Thừa Khởi Tín Luận và Kim Cương Tam-Muội Kinh. Khái niệm tathāgatagarbha dường như đã phát triển từ một cảm hứng khá giản đơn—tất cả chúng sinh đều có thể đạt được Phật quả—để rồi trở thành một giáo thuyết phức tạp hơn về một quyết tâm mang tính truyền thừa, cho rằng tất cả chúng sinh rốt cùng đều trở thành các bậc giác ngộ viên mãn; kinh Lăng-Già còn đi xa hơn khi mô tả tathāgatagarbha là sự sở đắc ba mươi hai tướng của bậc đại nhân. Tư tưởng như-lai-tạng tìm cách trả lời câu hỏi tại sao những chúng sinh ngu muội lại có thể thành tựu giác ngộ bằng cách gợi ý rằng loại tiềm năng này là cái có sẵn trong tâm của tất cả chúng sinh nhưng đang bị che khuất bởi các phiền não ngẫu nhiên (āgantukakleśa; āgantukakilesa; glo bur gy i ny on mongs; 客塵煩惱), vốn không thuộc về tâm.
“Sự che khuất” ở đây hàm ý như-lai-tạng đang bị sự hiện diện của các phiền não che khuất; hoặc như-lai-tạng là một tác nhân tích cực của sự giải thoát, đang ẩn tàng bên trong tâm của chúng sinh để thôi thúc chúng sinh tiến về giác ngộ. Ý nghĩa mang tính thụ động trên đây được tìm thấy nhiều hơn trong các tư liệu Ấn-độ, trong khi ý nghĩa tích cực về tiềm năng giải thoát của như-lai-tạng lại điển hình cho những trình bày ở Đông Á về khái niệm này. Vì thế, tư tưởng như-lai-tạng đã có thể xác quyết rằng giác ngộ không cần phải liên quan đến một điều gì đó quá nghiêm trọng mà chỉ cần chặt đứt khái niệm sai lầm cho rằng con người ta vốn vô minh, đồng thời thừa nhận sự kiện giác ngộ đang ẩn tàng trong mỗi người chúng ta.
Khái niệm tathāgatagarbha là một chủ đề được luận bàn rộng rãi ở Ấn-độ, Tây Tạng, và Đông Á. Thí dụ, không phải tất cả các luận sư Đại Thừa đều xác quyết rằng tất cả chúng sinh đều sở hữu như-lai-tạng, và vì thế, đều sở hữu tiềm năng giác ngộ. Thật vậy, Pháp Tướng Tông, một hệ phái ở Đông Á của Du-già Hành Tông, đã nổi tiếng với khẳng định rằng một số chúng sinh có thể đã đánh mất hoàn toàn mọi cảm hứng về giác ngộ đến độ họ trở thành “không thể cứu độ được” (icchantika; ’dod chen; 一闡提), và vì thế vĩnh viễn không thể nào giải thoát. Ngoài ra còn có sự tranh biện rộng rãi về thể tánh đích thực của tathāgatagarbha, nhất là vì lý do một số miêu tả về nó đã khiến cho nó trở thành tương tợ với quan niệm về một tự ngã vĩnh hằng (ātman)—một chủ trương vốn phản cảm đối với hầu hết các trường phái Phật giáo. Thí dụ, kinh Thắng-Man đã mô tả như-lai-tạng vốn có sẵn bốn “phẩm tánh viên mãn” (guṇapāramitā; y on tan pha rol tu phy in pa; 功德波羅蜜) là thường-tịnh-lạc-ngã nhưng lại cho rằng cái “ngã” này khác với cái “ngã” trong chủ trương của những người không phải Phật giáo.
Trong một nỗ lực nhằm tránh bất kì sự liên tưởng nào như thế, Nguyệt Xứng đã giải thích rằng không nên hiểu tathāgatagarbha là một phẩm tánh độc lập mà đúng ra là chỉ cho tánh-Không của tâm. Chính tánh-Không ẩn tàng trong tất cả chúng sinh này là tiềm năng thành tựu phật quả. Tông phái Dgelugs ở Tây Tạng đã thừa nhận quan điểm này của Nguyệt Xứng; trong lúc tông phái Jonang lại kiên định với quan điểm cụ thể hơn về tathāgatagarbha, là chân tánh tối hậu đang bị các phiền não nhiễm ô của thế tục che khuất. Ảnh hưởng rộng lớn của giáo thuyết này cũng như sự tranh biện do nó tạo ra cho thấy một sự căng thẳng vẫn đang diễn ra trong Đại Thừa giữa giáo thuyết mang tính phủ định luận nhiều hơn về tánh-Không, được tìm thấy trong văn hệ Bát-Nhã Ba-La-Mật, và những mô tả mang tính bản thể luận nhiều hơn về một thực tại tối hậu được ám chỉ qua các thuật ngữ như như-lai-tạng, pháp-giới, và pháp-thân. Tathāgatagarbha còn là thuật ngữ trung tâm đối với một vấn đề rộng lớn hơn về “tiệm tu” và “đốn ngộ”.
PRINCETON DICTIONARY OF BUDDHISM
tathāgatagarbha. (T. de bzhin gshegs pa’i snying po; C. rulaizang; J. ny oraizō; K. y ŏra e j ang 如來藏). In Sanskrit, variously translated as “womb of the TATHĀGATAs,” “matrix of the tathāgatas,” “embryo of the tathāgatas,” “essence of the tathāgatas”; the term probably means “containing a tathāgata.” It is more imprecisely interpreted as the “buddha-nature,” viz., the potential to achieve buddhahood that, according to some MAHĀYĀNA schools, is inherent in all sentient beings. The tathāgatagarbha is the topic of several important Mahāyāna sūtras, including the TATHĀGATAGARBHASŪTRA (with its famous nine similes about the state), the ŚRĪMĀLĀDEVĪSIṂHANĀDASŪTRA, the MAHĀPARINIRVĀṆASŪTRA, and the LAṄKĀVATĀRASŪTRA (where it is identified with the ĀLAYAVIJÑĀNA), as well as the important Indian ŚĀSTRA, the RATNAGOTRAVIBHĀGA (also known as the Uttaratantra), with a commentary by ASAṄGA.
The concept is also central to such East Asian apocryphal scriptures as the DASHENG QIXIN LUN and the KŬMGANG SAMMAE KYŎNG. The concept of tathāgatagarbha seems to have evolved from a relatively straightforward inspiration that all beings are capable of achieving buddhahood to a more complex doctrine of an almost genetic determination that all beings would eventually become buddhas; the Laṅkāvatāra goes so far as to describe the tathāgatagarbha itself as possessing the thirty -two marks of a superman (MAHĀPURUṢALAKṢAṆA). Tathāgatagarbha thought seeks to answer the question of why ignorant beings are able to become enlightened by suggesting that this capacity is something innate in the minds of all sentient beings, which has become concealed by adventitious afflictions (ĀGANTUKAKLEŚA) that are extrinsic to the mind. “Concealment” (S. saṃdhi/abhisaṃdhi; C. y infu) here suggests that the tathāgatagarbha by the presence of the afflictions; or, second, it is an active agent of liberation, which secrets itself away inside the minds of sentient beings so as to inspire them toward enlightenment. The former passive sense is more common in Indian materials; the latter sense of tathāgatagarbha as an active soteriological potency is more typical of East Asian presentations of the concept. Tathāgatagarbha thought could thus claim that enlightenment need involve nothing more rigorous than simply relinquishing the mistaken notion that one is deluded and accepting the fact of one’s inherent enlightenment (see also BENJUE; HONGAKU).
The notion of tathāgatagarbha was a topic of extensive commentary and debate in India, Tibet, and East Asia. It was not the case, for example, that all Mahāyāna exegetes asserted that all sentient beings possess the tathāgatagarbha and thus the capacity for enlightenment; indeed, the FAXIANG ZONG, an East Asian strand of YOGĀCĀRA, famously asserted that some beings could so completely lose all aspiration for enlightenment that they would become “incorrigible” (ICCHANTIKA) and thus be forever incapable of liberation. There was also substantial debate as to the precise nature of the tathāgathagarbha, especially because some of its descriptions made it seem similar to the notion of a perduring self (ĀTMAN), a doctrine that is anathema to most schools of Buddhism. The Śrīmālādevīsiṃhanāda, for example, described the tathāgatagarbha as endowed with four “perfect qualities” (GUṆAPĀRAMITĀ): permanence, purity, bliss, and self, but states that this “self” is different from the “self” (ĀTMAN) propounded by the non-Buddhists. In an effort to avoid any such associations, CANDRAKĪRTI explains that the tathāgatagarbha is not to be understood as an independent quality but rather refers to the emptiness (ŚŪNYATĀ) of the mind; it is this emptiness, with which all beings are endowed, that serves as the potential for achieving buddhahood. In Tibet, Candrakīrti’s view was taken up by the DGELUGS sect, while the more literal view of the tathāgatagarbha as an ultimately real nature obscured by conventional contaminants was asserted most famously by the JO NANG. Both the extensive influence of the doctrine and the controversy it provoked points to an ongoing tension in the Mahāyāna between the more apophatic discourse on emptiness, found especially in the PRAJÑĀPĀRAMITĀ sūtras, and the more substantialist descriptions of the ultimate reality implied by such terms as tathāgatagarbha, DHARMADHĀTU, and DHARMAKĀYA. The term is also central to the larger question of whether enlightenment is something to be achieved through a sequence of practices or something to be revealed in a flash of insight (see DUNWU). See also HIHAN BUKKYŌ.

