* Ý nghĩa
A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận, tên tiếng Phạn là Abhidharma-jñāna-prasthāna sāstra.
A-tỳ-đạt-ma, Hán phiên âm từ Abhidharma của Sanskrit; Abhidhamma của Pāli và dịch là Đối pháp, Đại pháp, Vô tỷ pháp, Hướng, Thắng pháp, Vi diệu pháp…
Đối pháp: Nghĩa là sắc pháp và tâm pháp là đối tượng để trí hướng tới phân tích và liễu ngộ, nên gọi là Đối pháp; Đại pháp là pháp rộng lớn; Vô tỷ pháp là pháp không thể so sánh; Hướng pháp là pháp hướng đến của tuệ; Thắng pháp là pháp thù thắng vi diệu, nên cũng gọi là Vi diệu pháp. Vi diệu pháp là pháp vi diệu, pháp ấy là Tứ Thánh đế.
Pháp Tứ Thánh đế là đối tượng để trí và tuệ xâm nhập, phân tích, nhằm hướng tới Niết-bàn thù thắng.
Nhưng, nghĩa nguyên thủy của A-tỳ-đạt-ma là nghiên cứu phân tích giáo pháp của Phật đã dạy.
Phát trí luận, tiếng Phạn là jñāna-prasthāna śāstra. Jñāna, Hán dịch là trí, prasthāna, Hán dịch là phát; śāstra dịch là Luận.
Vậy, A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận là luận Phát trí đối với Thắng pháp hay Vi diệu pháp.
Phát trí luận là luận đầy đủ văn và nghĩa, nên đối với Lục túc luận, Phát trí luận được xem là thân và Lục túc luận được xem là chân của luận Phát trí này.
Phát trí luận là luận bàn và luận chứng về phát khởi trí tuệ. Luận này ở chương một, gọi là “Tạp uẩn”, phẩm hai của chương một, gọi là “Trí nạp tức”; chương ba, gọi là “Trí uẩn”, phẩm bốn của chương ba, gọi là “Tu trí nạp tức”; chương tám, gọi là “Kiến uẩn”, phẩm bốn của chương tám, gọi là “Trí nạp tức”.
Đối với Bát kiền độ luận, chương một, gọi là “Tạp kiền độ” phẩm hai của chương một, gọi là “Trí bạt cừ”; chương ba, gọi là “Trí kiền độ”, phẩm ba của chương ba, gọi là “Tri tha tâm bạt cừ” ; phẩm bốn của chương ba, gọi là “Tu trí bạt cừ”; phẩm năm của chương ba, gọi là “Trí tương ưng bạt cừ”. Chương tám, gọi “Kiến kiền độ”, phẩm bốn của chương tám, gọi là “Trí thời bạt cừ”.
Trí, ở đây, bao gồm cả trí hữu lậu[1] và trí vô lậu[2]. Trí hữu lậu và vô lậu sinh khởi là do khả năng tu tập thiền định nhiếp phục và đoạn trừ các loại kiến chấp, các loại phiền não thuộc Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới mà sinh ra.
Trí ở đây là do chứng kiến đối với đế lý và tu tập Tứ Thánh đế khiến phát khởi.
Nói gọn lại: Trí hữu lậu và vô lậu là do hành giả chứng kiến Tứ Thánh đế và tu tập Tứ Thánh đế hiện quán mà trí hữu lậu và vô lậu phát sinh, khiến thấy rõ tính như thật của hết thảy pháp thuộc về Sắc, Tâm, Tâm sở pháp và các pháp thuộc về Bất tương ưng hành, Hữu vi, Vô vi, Hữu học, Vô học… ở trong mọi không gian thuộc Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới; đối với mọi thời gian thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai và đối với hết thảy chủng loại chúng sinh, bao gồm cả phàm và Thánh.
* Truyền bản
A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận có hai truyền bản.
1- A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận do ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường. Còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ[3]. Phát trí luận, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1544.
2- A-tỳ-đạt-ma Bát kiền độ luận, còn gọi là Ca chiên diên tỳ đàm luận; A-tỳ-đàm kinh bát kiền độ luận, do Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm cùng dịch, vào đời Phù Tần, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1543.
* Nội dung
Phát trí luận do ngài Huyền Tráng dịch từ Phạn sang Hán, hiện có hai mươi quyển. Bản của hai ngài Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm cùng dịch, gồm có ba mươi quyển.
Nội dung bản dịch của ngài Huyền Tráng, gồm có: hai mươi quyển, chia làm tám chương (uẩn), phân thành bốn mươi bốn phẩm.
Tám chương gồm:
1-Tạp uẩn: Bàn luận về bốn Thiện căn, bốn Thánh quả, hữu dư y Niết-bàn, Vô dư y Niết-bàn.
Chương Tạp uẩn này, lại phân thành tám phẩm, gồm: Thế đệ nhất pháp nạp tức, Trí nạp tức, Bổ-đặc-la-nạp tức, Ái nạp tức, Vô tàm nạp tức, Tướng nạp tức, Vô nghĩa nạp tức, Tư nạp tức.
2-Kết uẩn: Bàn luận về các chủng loại kiết sử như Ba kiết sử, Ba dục lậu, Bốn bộc lưu, Bốn ách, Bốn thủ, Bốn triền, Năm kiến, Sáu ái thân, Bảy tùy miên, Chín kiết sử, Chín mươi tám tùy miên,…
Chương này, lại phân thành bốn phẩm, gồm: Bất thiện nạp tức, Nhất hành nạp tức, Hữu tình nạp tức, Thập môn nạp tức.
3-Trí uẩn: Bàn luận Tám chi, Mười chi vô học, Kiến, Giác chi đạo; Thế tục kiến; Vô lậu kiến; Thế tục trí; Vô lậu trí; bậc Thánh giả đoạn trừ các hoặc lậu, các chướng ngại do phiền não, chứng đạt trí vô lậu…
Chương này, lại phân thành năm phẩm, gồm: Giác chi nạp tức, Ngũ chủng nạp tức, Tha tâm trí nạp tức, Tu tr nạp tức, Thất Thánh nạp tức.
4-Nghiệp uẩn: Bàn luận về các hành vi thiện ác, từ ba nghiệp thân, khẩu, ý phát khởi; Mười thiện nghiệp đạo; Chín môn nghiệp thâu nhiếp lẫn nhau;…
Chương này, phân thành năm phẩm, gồm: Ác hành nạp tức; Tà ngữ nạp tức; Hại sinh nạp tức; Biểu vô biểu nạp tức; Tự nghiệp nạp tức.
5-Đại chủng uẩn: Bàn luận về Sắc uẩn do bốn đại chủng tạo nên, liên hệ đến ba đời.
Chương này, lại phân thành bốn phẩm, gồm: Đại tạo nạp tức; Duyên nạp tức; Cụ kiến nạp tức; Chấp thọ nạp tức.
6-Căn uẩn: Bàn luận Sắc pháp; Sáu căn; Năm căn, Hai mươi hai căn… liên hệ đến bốn quả và ba đời.
Chương này, phân thành bảy phẩm, gồm: Căn nạp tức; Hữu nạp tức; Xúc nạp tức; Đẳng tâm nạp tức; Nhất tâm nạp tức; Ngữ nạp tức; Nhân duyên nạp tức.
7-Định uẩn: Bàn luận các loại thiền định ở trong ba cõi và các loại thiền định khác nhau của hàng Nhị thừa.
Chương này, phân thành năm phẩm, gồm: Đắc nạp tức; Duyên nạp tức; Nhiếp nạp tức; Bất hoàn nạp tức; Nhất hành nạp tức.
8-Kiến uẩn: Bàn luận hai kiến chấp đoạn và thường của phàm phu ngoại đạo với sáu mươi hai luận giải khác nhau.
Chương này, phân thành sáu phẩm, gồm: Niệm trụ nạp tức; Tam hữu nạp tức; Tưởng nạp tức; Trí nạp tức; Kiến nạp tức; Già tha nạp tức.
Bản dịch của ngài Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm mươi quyển, có tám kiền độ, bốn mươi bốn bạt cừ.
Tám kiền độ và bốn mươi bốn bạt cừ như sau:
1-Tạp kiền độ: Kiền độ này có tám bạt cừ, gồm: Thế đệ nhất pháp; Trí; Nhân; Ái cung kính; Vô tàm quý; Sắc; Vô nghĩa; Tư.
2-Kiết sử kiền độ: Kiền độ này có bốn bạt cừ, gồm: Bất thiện; Nhất hành; Nhân; Thập môn.
3-Trí kiền độ: Kiền độ này có năm bạt cừ, gồm: Bát đạo; Ngũ chủng; Tri tha tâm; Tu trí; Trí tương ưng.
4-Hành kiền độ: Kiền độ này có năm bạt cừ, gồm: Ác hành; Tà ngữ; Hại chúng sinh; Hữu giáo vô giáo; Tự hành.
5-Tứ đại kiền độ: Kiền độ này có bốn bạt cừ, gồm: Tịnh căn; Duyên; Kiến đế; Nạp tạo.
6-Căn kiền độ: Kiền độ này có bảy bạt cừ, gồm: Căn; Hữu; Cánh lạc; Thỉ tâm; Thỉ phát tâm; Ngư tử; Duyên.
7-Định kiền độ: Kiền độ này có năm bạt cừ, gồm: Quá khứ đắc; Duyên; Giải thoát; A hàm; Nhất hành.
8-Kiến kiền độ: Kiền độ này có sáu bạt cừ, gồm: Ý chỉ; Dục; Tưởng; Trí thời; Kiến; Kệ.
* Tư tưởng chủ đạo
A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận, lấy tư tưởng của Trường phái Phật giáo Thuyết nhất thiết hữu bộ làm nền tảng để minh giải, nhằm làm sáng tỏ những luận điểm của mình.
Phật giáo bộ phái này chủ trương: “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu[4]”. Nghĩa là ba đời đều có thật thể, thể của pháp là luôn luôn tồn tại và quá khứ, hiện tại, vị lai đều có thực thể như nhau. Tất cả pháp như: sắc, tâm, tâm sở, hữu vi, vô vi… đều có thật thể.
Chủ trương rằng, sinh thân của Phật là hữu lậu. Pháp của Phật tuyên thuyết có vô ký ngữ. Chánh pháp luân lấy Bát chánh đạo làm thể.
Bộ phái này chủ trương: Bồ tát cũng tu tập ba thời kỳ, gồm đủ một trăm kiếp mới hiểu được Tứ Thánh đế, nhưng chỉ hiểu cộng tướng của Tứ Thánh đế, chứ không hiểu được biệt tướng của Tứ Thánh đế…
Phật giáo bộ phái này là phân phái từ Thượng tọa bộ, sau hật Niết-bàn khoảng ba trăm năm. Thượng tọa bộ chủ trương Pháp và Luật của Phật dạy là then chốt. Nhưng, ngài Ca-đa-diễn-ni-tử chủ trương: A-tỳ-đàm là then chốt và nỗ lực hoằng truyền A-tỳ-đàm. Do đó, từ Thượng tọa bộ, phân huyết nhất thiết hữu bộ.
Nên, Tổ sư của trường này chính là ngài Ca-đa-diễn-ni-tử (Kātyāyaniputra). Và cũng là tác giả trước tác bản luận này.
* Phát trí luận với Lục túc luận
Lục túc luận là chân của Phát trí luận và Phát trí luận là thân của Lục túc luận.
Lục túc luận, gồm:
1-A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận[5]: Có hai mươi quyển, phân thành mười hai phẩm, do Tôn giả Xá-lợi-phất soạn, Huyền Tráng dịch vào đời Đường, hiện có ở Đại chính 26, ký hiệu số 1536.
Phẩm thứ nhất của luận này nói rõ mục đích Tôn giả Xá-lợi-phất soạn luận này là phòng ngừa sự tranh cãi trong Tăng đoàn về Pháp và Luật, sau khi Phật Niết-bàn.
Phẩm thứ hai đến phẩm mười một, chỉ rõ pháp môn từ một pháp đến mười pháp.
Phẩm cuối nói rõ về sự ấn chứng của Phật. Tác giả luận này, các học giả có sự tranh cãi, như ngài Xứng hữu và truyền thuyết của Tây Tạng cho rằng, tác phẩm này là của ngài Chấp đại tạng. Nhưng, theo Đại chính là của Tôn giả Xá-lợi-phất.
2-A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận[6]: Mười hai quyển, phân thành hai mươi mốt phẩm, Tôn giả Đại mục kiền tạo, Huyền Tráng dịch vào đời Đường, hiện có ở Đại chính 6, ký hiệu số 1537.
Luận này, biên tập trước Tập dị môn túc luận. Luận này nói rõ về các Học xứ, Dự lưu, Tứ chứng tịnh hay Bốn bất hoại tín, Quả sa môn, Thông hành, Thánh chủng, Chính thắng, Thần túc, Niệm trú, Thánh đế, Tĩnh lự, Vô lượng, Vô sắc, Tu định, Giác chi, Tạp sự, Căn bản, Xứ, Uẩn, Đa giới, Duyên khởi.
Theo ngài Tĩnh mại, Luận này là “Then chốt của A-tỳ-đạt-ma, là nguồn lớn của Nhất thiết hữu bộ”[7].
Tác giả Luận này cũng có nhiều tranh cãi. Ở Câu xá luận thích, ngài Xứng hữu[8] cho là của Tôn giả Xá-lợi-phất và truyền thuyết Phật giáo Tây Tạng cũng đồng quan điểm này, nhưng ở Đại chính cho là của Tôn giả Mục-kiền-liên.
3-A-tỳ-đạt-ma Thức thân túc luận[9]: Gồm mười sáu quyển, lập sáu chương, phân thành mười lăm phẩm, do Tôn giả Đề thiết tạo, ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1539.
Luận này, nói rõ tâm thức và nhục thân tương ưng với nhau, nên cần phải tu tập đúng pháp.
Nội dung gồm: Quy lễ tán tụng, Tổng ốt đả nam tụng.
Chương một: Mục-kiền-liên uẩn. Chương hai: Bổ-đặc-già-la uẩn. Chương ba: Nhân duyên tụng. Chương bốn: Sở duyên duyên uẩn. Chương năm: Tạp uẩn. Chương sáu: Thành tựu uẩn.
Luận này có ba mục đích:
-Bác bỏ thuyết cho rằng: Quá khứ vô thể, hiện tại hữu thể, của Mục-kiền-liên.
-Bác thuyết hữu ngã của các nhà chủ trương có Bổ-đặc-già-la[10].
Những phẩm còn lại, nêu rõ giáo thuyết: “Ngã không pháp hữu”[11].
4-A-tỳ-đạt-ma Giới thân túc luận[12]: Gồm có ba quyển, do ngài Thế Hữu tạo, có hai chương, phân mười sáu phẩm, Huyền Tráng dịch vào đời Đường, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1541.
Luận này còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ Giới thân túc luận, nói rõ Bản sự phẩm và Phân biệt phẩm.
Bản sự phẩm là trình bày mười đại địa pháp, mười đại phiền não địa pháp, mười tiểu phiền não địa pháp, năm phiền não, năm kiến, năm xúc, năm căn, năm pháp, sáu thức thân, sáu thụ thân, sáu tưởng thân, sáu tư thân, sáu ái thân…
Phân biệt phẩm có mười sáu môn, khai triển thành 136 môn, gồm phân biệt tâm sở, năm thụ, sáu thức, vô tàm, vô quý, tương ưng, bất tương ưng, uẩn, xứ, giới, tâm sở tương ưng, bất tương ưng.
Tác giả luận này, theo ngài Xứng hữu và truyền thuyết Phật giáo Tây Tạng cho là của ngài Phú-lâu-na[13]. Đại chính ghi tác giả là ngài Thế Hữu[14].
5-A-tỳ-đạt-ma Thi thiết túc luận[15] : Luận này còn gọi là Thi thiết luận, có bảy quyển, không có ghi tác giả, do Pháp Hộ và Duy Tịnh… dịch, Tống, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1538.
Theo Phật quang đại từ điển, A-tỳ-đạt-ma Thi thiết túc luận, do Đại Ca-diễn-na soạn, chưa được truyền dịch. Bản dịch của ngài Pháp Hộ và Duy Tịnh đời Lưu Tống là lược dịch từ A-tỳ-đạt-ma Thi thiết túc luận của ngài Đại Ca-diễn-na.
Luận này, có bảy quyển, phân thành mười bốn phẩm. Phẩm một: Thế gian thi thiết môn, phần này bản Phạn bị thiếu.
Các phẩm còn lại bàn luận về “Nhân thi thiết”. Nhân duyên của Chuyển luân Thánh vương thành tựu bảy bửu; nhân duyên Bồ tát từ trời Đâu suất giáng xuống nhập mẫu thai, trú mẫu thai; xuất thai; xuất gia; thành đạo; hóa độ chúng sinh; Niết-bàn…
6-A-tỳ-đạt-ma Phẩm loại túc luận[16]: Luận này còn gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ Phẩm loại túc luận, do ngài Thế Hữu trước tác, gồm có mười tám quyển, phân thành tám phẩm, ngài Huyền Tráng dịch, đời Đường, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1542.
Nội dung, gồm: Biện ngũ sự phẩm, biện chư trí phẩm, biện chư xứ phẩm, biện thất sự phẩm, biện tùy miên phẩm, biện nhiếp đẳng phẩm, biện thiên vấn phẩm, biện quyết trạch phẩm.
Luận này còn có tên khác là Chúng sự phần A-tỳ-đàm luận, gồm có mười hai quyển, tám phẩm, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la và Bồ-đề-da-xá đồng dịch, đời Lưu Tống, hiện có ở Đại chính 26, số ký hiệu 1541.
Mười hai quyển, phân thành tám phẩm, gồm: Ngũ pháp, phân biệt trí, phân biệt chư nhân, phân biệt thất sự, phân biệt chư sử, phân biệt nhiếp, thiên vấn luận, trạch.
Sáu luận này, có ba bộ, trước tác thời Phật còn tại thế, như: A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn túc luận, do Tôn giả Xá-lợi-phất soạn; A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận, do Tôn giả Mục-kiền-liên soạn; và A-tỳ-đạt-ma Thi thiết túc luận, do Tôn giả Đại Ca-na-diễn-na soạn. Ba bộ còn lại, các luận sư soạn, sau khi Phật Niết-bàn.
Sáu bộ luận này, trường phái Phật giáo Nhất thiết hữu bộ y cứ để thiết lập tông yếu.
Sáu bộ luận này được các Luận sư về sau cho rằng là sáu chân của Phát trí luận. Nghĩa là Phát trí luận là thân và sáu bộ luận này là chân, giúp cho thân thành tựu một cách vững chãi đối với học lý của Nhất thiết hữu bộ.
* Phát trí luận với Đại Tỳ-bà-sa luận[17]
Phát trí luận đối với Đại-tỳ-bà-sa luận có sự liên hệ chặt chẽ với nhau.
Đại tỳ-bà-sa luận, gọi đủ là A-tỳ-đạt-ma Đại tỳ-bà-sa. Luận này do năm trăm vị A-la-hán, biên tập trải qua mười hai năm, với hai trăm quyển, dưới thời vua Ca-nị-sắc-ca khoảng 100 đến 150 sau Tây lịch, tại Ca-thấp-di-la (Kasmira), nay là vùng Kashmir ở Pakistan.
Nội dung của Đại tỳ-bà-sa là gom thâu các bản chú giải của các luận sư về Phát trí luận, biên tập thành một Thánh điển căn bản của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Nên, luận này là giải thích về Phát trí luận một cách có hệ thống.
Đồng thời, luận này dựa vào quan điểm “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu”, để phê phán đối với quan điểm của các trường phái Phật giáo, như Đại chúng bộ, Pháp tạng bộ, Hóa địa bộ, Ẩm quang bộ, Độc tử bộ, Phân biệt thuyết bộ và phê phán các quan điểm của Số luận, Thắng luận, Thuận thế luận và quan điểm của Kỳ na giáo…
Nên, Đại tỳ-bà-sa được xem như là bộ Từ điển bách khoa của Phật giáo Hữu bộ và là sách chú giải Phát trí luận.
Đại tỳ-bà-sa, do ngài Huyền Tráng dịch, vào đời Đường, hiện có ở Đại chính 27, số ký hiệu 1545. Luận Đại tỳ-bà-sa này, còn có bản dịch của ngài Phù-đà-bạt-ma[18] và Đạo Thái[19] vào đời Bắc Lương với tên là A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận, gồm sáu mươi quyển, hiện có ở Đại chính 28, số ký hiệu 1546.
* Tác giả Phát Trí luận
Tôn giả Ca-đa-diễn-ni-tử là tác giả A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận. Tên tiếng Phạn của Ngài là Kātyāyaṇī-putra. Ngài Huyền Tráng, đời Đường, phiên âm là Ca-đa-diễn-ni-tử. Các ngài Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm, đời Phù-tần, phiên âm là Ca-chiên-diên-tử. Một số vị khác phiên âm là Ca-chiên-diên-ni-tử hay Ca-đà-diễn-ni và dịch là Thế phát tộc hay Văn vẻ. Nghĩa là dòng dõi cắt tóc hay vẻ đẹp văn chương, vẻ đẹp văn nhã.
Ngài xuất hiện khoảng ba trăm năm sau Phật Niết-bàn, trong dòng dõi Bà-la-môn. Nhưng có những tư liệu cho rằng, Ngài ra đời khoảng chưa đầy năm trăm năm sau Phật Niết-bàn.
Theo Dị bộ Tôn luân luận thuật ký[20] cho rằng, Ngài xuất gia ở trong Thượng tọa bộ, nhưng theo Bà-tẩu-bàn-đậu pháp sư truyện[21], cho rằng, Ngài xuất gia ở trong Tát-bà-đa bộ[22]. Ngài là một vị Đại luận sư nổi tiếng của Phật giáo Hữu bộ, truyền bá tư tưởng Hữu bộ ở vùng Tây bắc Ấn Độ thời bấy giờ.
A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận, do Ngài biên soạn để xiển dương giáo nghĩa Hữu bộ và về sau năm trăm vị A-la-hán do vua Ca-nị-sắc-ca triệu tập, biên soạn Đại-tỳ-bà-sa để chú giải Phát trí luận do Ngài trước tác vậy.
* Dịch giả Phát trí luận
Luận này có hai bản dịch, hiện nay còn bảo lưu ở Đại chính 26.
Bản dịch của ngài Huyền Tráng, với tên: A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận.
Bản của hai ngài Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm với tên gọi: A-tỳ-đàm Bát kiền độ luận.
Huyền Tráng
Huyền Tráng, họ Trần, tên là Huy, sinh năm 602, vào đời Đường, ở Khu thị, Lạc châu, nay là huyện Yển sư, tỉnh Hà nam, Trung Quốc. Lại có tư liệu cho rằng, Ngài sinh năm Khai hoàng thứ 20, tức năm 600, đời Tùy. Ngài có người anh xuất gia hiệu là Trưởng Tiệp, ở chùa Tịnh Độ, Lạc Dương.
Ngài Huyền Tráng xuất gia từ bé, sau đó đã học thông các điển Phật giáo và đi tham học với các bậc cao đức bấy giờ, học Nhiếp luận và A-tỳ-đàm với các ngài Đạo Cơ, Bảo Thiên; lại học Phát trí luận với Pháp sư Chấn.
Năm 622, đời Đường, Ngài thọ Cụ túc giới và học Luật, rồi lại học Thành thực luận với ngài Đạo Thâm, Câu-xá luận với ngài Đạo Nhạc, học Nhiếp Đại Thừa luận với các ngài Pháp Thường và Tăng Biện.
Sau khi nghe các cao đức giảng dạy Phật pháp, Ngài than rằng, các Ngài diễn giảng không thống lý với nhau, và nghiên cứu Thánh điển cũng có những điểm bất đồng, từ đó Ngài phát nguyện tìm đến Thiên Trúc để tìm cầu học hỏi và tìm các nguyên bản tiếng Phạn để đối chiếu, nhằm tận tường lý nghĩa trong lời Phật dạy.
Năm 629, nhằm năm Trinh quán thứ 3, có tư liệu cho rằng Trinh quán nguyên niên, Ngài khởi hành từ Trung Quốc vượt qua nhiều gian nan thử thách, mới đến được vùng bắc Thiên trúc, rồi tiến sâu vào đất Ấn và đến được Ma-kiệt-đà, dừng lại ở chùa Na-lan-đà, vào năm 631, bấy giờ Ngài vừa đúng 30 tuổi.
Tại chùa Na-lan-đà, Ngài tôn thờ đại sư Giới-hiền làm thầy và học tập các bộ luận từ ngài Giới-hiền như: Du-già sư địa luận, Hiển dương thánh giáo luận, Tỳ-bà-sa luận, Câu-xá luận, Thuận chánh lý luận, Nhân minh luận, Thanh minh luận, Tập lượng luận, Trung luận, Bách luận,…
Sau đó, Ngài đi khắp xứ Ấn Độ bấy giờ để cầu học với các bậc cao đức và tìm cầu các bản kinh văn tiếng Phạn, suốt mười hai năm.
Ngài lại trở về, chùa Na-lan-đà, được đại sư Giới-hiền cho dạy các môn, như: Nhiếp đại thừa luận và Duy thức quyết trạch.
Bấy giờ có ngài Sư-tử-quang thuộc trường phái Trung quán, giảng Trung luận và Bách luận của Long Thọ để phản bác học lý của ngài Huyền Tráng. Lúc ấy, ngài Huyền Tráng liền làm 3.000 bài kệ, dung hội cả lý nghĩa của hai Tông Trung quán và Du già, lấy tên là “Hội Tông Luận”, để bác luận thuyết của ngài Sư-tử-quang.
Ngoài ra, Ngài còn làm 1.600 bài tụng với tên “Phá Ác Kiến” để phản bác các luận điểm của các nhà sư Tiểu thừa phá Đại thừa ở nước Ô-đồ[23].
Từ đó, danh tiếng của ngài Huyền Tráng vang lừng khắp Ấn Độ. Bấy giờ vua Giới Nhật[24] nghe danh của Ngài, liền đến xin yết kiến.
Năm 642, Ngài đã 41 tuổi, muốn trở về bản quốc, vua Giới Nhật liền tổ chức Đại pháp hội ở thành Khúc nữ, vua đề nghị ngài Huyền Tráng nhân dịp ấy, tuyên dương nghĩa Đại thừa và tranh luận với các luận sư nổi tiếng của Phật giáo Tiểu thừa, cũng như các luận sư nổi tiếng của ngoại đạo với sự tham dự của mười tám quốc vương khắp cả năm xứ Thiên trúc, với hơn 7.000 Tăng sĩ, bao gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa và các vị Giáo sĩ Bà-la-môn.
Trong Đại hội này, ngài Huyền Tráng được thỉnh mời làm Luận chủ, Ngài đề nghị lấy “Chân duy thức lượng” làm nội dung của cuộc tranh luận và treo nội dung tranh luận ở ngoài cửa hội trường, mười tám ngày đi qua, không có một ai dám đứng ra tranh luận. Nên, vua Giới Nhật và mười tám vị quốc vương rất tôn kính và xin quy y với Ngài.
Đại hội xong, Ngài quyết định trở về bản quốc, vua Giới Nhật cầu thỉnh Ngài tiếp tục ở lại và mở Đại hội Vô giá tại thành Bát-la-na đến bảy mươi lăm ngày, với sự tham dự của mười tám vị quốc vương, sau đó tiễn đưa Ngài về nước.
Năm 643, Trinh quán 17, Ngài chính thức từ biệt vua Giới Nhật và hồi hương. Cuộc hành trình tham học và hoằng pháp của Ngài từ khi đi đến khi về mất hết mười bảy năm.
Năm 645, Trinh quán 19, Ngài về đến Trường An, vua Đường, sai trăm quan văn võ, như Lương Quốc Công, Phòng Huyền Linh… tổ chức lễ đón rước Ngài một cách trân trọng. Kinh, tượng, xá lợi do Ngài mang về rất nhiều, trong đó 657 bộ kinh bằng tiếng Phạn.
Vua Đường Thái Tông và Đường Cao ông rất tôn sùng Ngài, thiết lễ cúng dường Ngài ở trong cung và ban tặng Ngài danh hiệu “Tam Tạng Pháp Sư”.
Trong thời gian ấy, Ngài đã ở các chùa như: Hoằng Phúc, Đại Từ Ân, Ngọc Hoa và mở dịch trường dịch kinh điển, suốt mười chín năm. Ngài đã dịch 75 bộ kinh, gồm 1335 quyển kinh luận.
Các Kinh luận do Ngài dịch như: Đại bát nhã 600 quyển, Đại-tỳ-bà-sa luận 200 quyển, Du-già sư địa luận 100 quyển, Câu-xá luận 30 quyển, A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận bản tụng, A-tỳ-đạt-ma chánh lý luận, A-tỳ-đạt-ma tạng hiển tông luận, Ngũ sự Tỳ-bà-sa luận, Nhập A-tỳ-đạt-ma luận, A-tỳ-đạt-ma Thi thiết túc luận, A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận, A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận, Phật địa kinh luận, A-tỳ-đạt-ma Thức thân túc luận, A-tỳ-đạt-ma Giới thân túc luận, A-tỳ-đạt-ma Phẩm loại túc luận, A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận, Quảng bách luận bản, Đại thừa quảng bách luận thích luận, Đại thừa chưởng trân luận, Thành Duy thức luận, Duy thức tam thập luận tụng, Nhiếp Đại thừa luận bản, Nhiếp Đại thừa luận thích, Biện trung biên luận, Biện trung biên luận tụng, Hiển dương Thánh giáo luận, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận, Đại thừa thành nghiệp luận, Vương pháp chánh lý luận, Quán sở duyên duyên luận…
Ngoài dịch kinh luận, Ngài còn biên soạn Đại Đường Tây Vực ký 12 quyển, tường thuật hành trình mười bảy năm Tây du cầu pháp, trải qua 138 nước. Trong đó, gồm: lịch sử, địa lý, tôn giáo, văn hóa, phong thổ, sơn xuyên, sản vật, con người… của những nơi Ngài đã từng lưu trú và đi qua. Bộ sách này là tài liệu rất quý cho các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, địa lý… và đóng góp rất lớn cho các nhà khảo cổ học hiện tại trên thế giới. Sách đã dịch ra rất nhiều thứ tiếng.
Ngày mồng 5 tháng 2 niên hiệu Lân đức nguyên niên, tức năm 664, Ngài an nhiên thị tịch, thọ 63 tuổi. Có tư liệu ghi ngài thọ 65 tuổi hoặc 69 tuổi. Nghe Ngài tịch vua Đường Cao Tông đau buồn, bãi triều ba ngày và ban tặng Ngài với thụy hiệu là “Đại Biến Giác” và sắc lệnh xây tháp ở phía bắc Phiền xuyên để phụng thờ Ngài.
Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm
Ngài Tăng-già-đề-bà và Trúc Phật Niệm dịch A-tỳ-đàm Bát kiền độ luận, vào đời Phù Tần. A-tỳ-đàm Bát kiền độ luận là phiên bản khác của Phát trí luận, dịch bản này dịch sớm hơn bản dịch của ngài Huyền Tráng, khoảng trên dưới ba trăm năm.
Tăng-già-đề-bà
Ngài Tăng-già-đề-bà là phiên âm từ Saṃghadeva của tiếng Phạn. Hán dịch là Chúng-thiên. Ngài người nước Kế Tân, Bắc Ấn, không rõ năm sinh. Ngài là bậc Cao tăng, kiêm đại học giả A-tỳ-đàm của Phật giáo Hữu bộ.
Ngài đến Trung Quốc vào thời Đông Tấn. Trong những năm 365-384, đời Tiền Tần. Ngài đến Trường An, vào tháng tư năm Kiến Nguyên thứ 9, nhận lời thỉnh cầu của Tỷ-kheo Pháp Hòa[25], Ngài và Ngài Trúc Phật Niệm dịch A-tỳ-đàm Bát kiền độ luận, ba mươi quyển. Sau đó, Ngài và Tỷ-kheo Pháp Hòa đến Lạc Dương, giảng dạy kinh A-hàm, dịch A-tỳ-đàm tâm luận, Tỳ-bà-sa luận. Ngài lại nhận lời của ngài Tuệ Viễn đến ở Lô Sơn.
Năm Thái Nguyên thứ 16, năm 391, dịch A-tỳ-đàm tâm luận bốn quyển; Tam pháp độ luận hai quyển, tại đài Bát Nhã ở Lô sơn.
Năm 397, tức Long An nguyên niên, Ngài đến Kiến nghiệp giảng dạy A-tỳ-đàm luận và dịch Trung A-hàm.
Theo Xuất tam tạng ký tập 2, liệt kê đối với kinh luận do Ngài dịch, gồm 6 bộ, 116 quyển. Không có thông tin về năm mất của Ngài.
Trúc Phật Niệm
Ngài Trúc Phật Niệm và ngài Tăng-già-đề-bà cùng dịch A-tỳ-đàm Bát kiền độ luận, ba mươi quyển, là tên gọi khác của Phát trí luận, hiện có ở Đại chính 26.
Ngài là Cao Tăng của Trung Quốc, vào đời Đông Tấn, người Lương Châu, nay là huyện Vũ Uy, tỉnh Cam Túc, xuất gia độ tuổi ấu thời. Học thông kinh luận, vào khoảng năm 365-384, đã từng đóng vai trò truyền ngữ cho ngài Tăng-già-bạt-trừng khi dịch Bà-tu-mật-sở-tập luận và ngài Nan-đề dịch Vương tử pháp ích hoại mục nhân duyên kinh; Tăng nhất A-hàm kinh; Trung A-hàm kinh…
Theo Lương cao tăng truyện 1, năm Hoằng Thủy, đời Tần (399-416), Ngài đã dịch các kinh, như: Bồ tát anh lạc, Thập trụ đoạn kết, Xuất diệu kinh, Bồ tát xử thai kinh, Trung ấm kinh. Theo Xuất tam tạng ký tập 2, vào thời kỳ Phù Tần, Diêu Tần, Ngài còn dịch các kinh, như: Đại phương đẳng vô tướng, Bồ tát phổ xứ kinh, Thập tụng tỳ-kheo-ni giới sở xuất bản mạt, gồm 12 bộ, 74 quyển.
Một số kinh do Ngài dịch hiện còn ở Đại chính và một số đã bị thất lạc. Thời bấy giờ, Ngài được tặng mỹ hiệu: “Dịch Kinh Tông Sư”.
Ngài thị tịch ở Trường An, nhưng không có thôn ngày tháng và năm mất.
Chùa Phước Duyên, Huế,
Mùa An Cư PL.2569-TL.2025
Thích Thái Hòa
[1] Skt: Sāsrava-jñāna. Hữu lậu trí, còn gọi là Tục trí, Thế trí, Thế gian trí, Thế tục trí. Nghĩa là trí đang ở trong phiền não. Hữu lậu trí là chỉ cho sinh đắc tuệ. Nghĩa là tuệ khi sinh ra đã có. Tuệ này cũng quán chiếu các pháp nhân duyên, sinh diệt vô thường, hữu vi, vô vi… nhưng còn mê lầm, không nhận rõ chân lý, nên chưa đủ năng lực dứt trừ phiền não, các lậu hoặc ở trong sinh tử.
[2] Skt: Anāsrava-jñāna. Ấy là trí tuệ chứng kiến Tứ Thánh đế, xả ly hết thảy phiền não, mọi sự hiểu biết không còn có sự lỗi lầm. Đối với Phật giáo bộ phái, chứng kiến Tứ Thánh đế gọi là Vô lậu trí. Trí chứng được Tứ Thánh đế ở Dục giới, gọi là Pháp trí. Trí chứng được Tứ Thánh đế ở Sắc giới, Vô sắc giới, gọi là Loại trí. Vô lậu trí theo Phật giáo bộ phái, cho rằng đến giai vị kiến đạo, mới bắt đầu phát sinh và tăng trưởng dần. Và đối với Thánh giả vô học, trí này chia hai loại, gồm: Tận trí, Vô sinh trí. Tận trí (Kṣaya-jñāna), ấy là trí do đoạn tận phiền não mà thành tựu. Vô sinh trí (Anutpāda-jñāna) hấy rõ các pháp bất sinh, ấy là trí tuệ tột cùng của bậc Thánh giả vô học, xa lìa hết thảy các pháp sinh diệt. Đối với Tứ Thánh đế đã tri khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Và biết rõ không còn khổ để biết, không còn tập để đoạn, không còn diệt để chứng, không còn đạo để tu. Lại nữa: “Biết đúng như thật rằng, ta đã biết khổ, không còn có khổ nào cần phải biết nữa; ta đã đoạn tập, không còn tập nào phải đoạn nữa; ta đã chứng diệt, không còn diệt nào để chứng nữa; ta đã tu đạo, không còn đạo nào để tu nữa. Từ đó, sinh ra trí, kiến, minh, giác, giải, tuệ, quang, quán, gọi là Vô sinh trí”. (A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 3, tr. 376a, Đại chính 26).
Đại thừa Duy thức giải thích Vô lậu trí có hai loại, gồm: Căn bản trí và Hậu đắc trí. Căn bản trí (Mula-jñāna) gọi là chân trí, Như lý trí, Vô phân biệt trí, Thực trí, Chính thể trí. Trí này là thể tính chân thật của trí, trí ấy là trí vô phân biệt, do chứng chân như tính nơi vạn hữu mà sinh khởi. Nhiếp đại thừa luận thích 8, cho rằng: “Trí này là tuệ chính chứng, vì xa lìa mọi hoạt động tìm hiểu, tư duy, tự thân của trí chiếu soi và thích ứng với chân lý, không cần phải khởi dụng phân biệt, nên gọi là trí tuệ chính chứng. Hậu đắc trí (Pṛṣṭha-labdha-jñāna) là trí từ nơi căn bản trí mà sinh khởi, ấy là trí biết rõ nhân duyên hiện khởi. Trí này cũng gọi là Như lượng trí, Quyền trí, Tục trí. Ấy là trí suy xét, chọn lựa… Trí này tu tập đến hàng Sơ địa Bồ tát mới bắt đầu phát khởi và tăng trưởng dần dần lên. (Thế Thân, Nhiếp đại thừa luận thích 8, Đại chính 31. Thân Quang, Phật địa kinh luận 3, Đại chính 26. Thành duy thức luận 10, Đại chính 31).
[3] Skt: Survāsti-vādin. Pāli: Sabbattiāda. Bộ phái phân ra từ Thượng tọa bộ, sau 300 năm kể từ khi Phật Niết-bàn.
[4] Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu: Có bốn cách giải thích, gồm:
-Ngài Pháp Cứu cho rằng: “Loại hữu dị”. Các pháp trong ba đời chỉ khác nhau về hình loại, còn thực thể thì giống nhau.
-Ngài Diệu Âm cho rằng: “Tướng hữu dị”. Các pháp chuyển biến, trong mỗi pháp đều có tướng của ba đời. Khi an trú ở quá khứ thì hợp với tướng quá khứ và xa lìa hai tướng của hiện tại và vị lai.
-Ngài Thế Hữu cho rằng: “Vị hữu dị”. Các pháp trải qua ba đời do vị trí khác nhau mà có tác dụng khác nhau, chứ thể không có khác nhau.
-Ngài Giác Thiên cho rằng: “Đãi hữu dị”. Các pháp do đối đã trước sau khác nhau, chứ thể của chúng không khác nhau. Trong bốn quan điểm này, quan điểm “Vị hữu dị” của ngài Thế Hữu là chính thống của Bộ phái Thuyết nhất thiết hữu bộ. (Đại tỳ bà sa 77, Đại chính 27).
[5] Skt: Abhidharma-saṇgati-paryāya-pāda śāstra. Hán: 阿毘達磨集異門足論
[6] Skt: Abhidharma-dharma-skandha-pāda śāstra. Hán: 阿毘達磨法蘊足論
[7] Pháp uẩn túc luận giả, cái A-tỳ-đạt-ma chi quyền dư, nhất thiết hữu bộ chi hồng nguyên dã = 法蘊足論者 蓋阿毘達磨之權輿 一切有 部之 洪源也 Tĩnh Mại, Pháp uẩn túc luận hậu tự, Tr 513c, Đại c Ngài Tĩnh Mại, Cao tăng Trung Quốc, đời Đường, sống cuộc đời tĩnh lặng, nghiên cứu kinh điển sâu xa, là một trong mười một vị đại đức chứng nghĩa của dịch trường ngài Huyền Tráng. Ngài đã để lại các tác phẩm như: Cổ kim dịch kinh đồ kỷ, bốn quyển; Bát nhã tâm kinh sớ, một quyển; Phật địa kinh luận sở, sáu quyển; Thập luận kinh sớ, tám quyển. Năm sinh và mất của Ngài không có thông tin.
[8] Xứng Hữu, Câu xá luận thích (Phạn văn), Phật quang đại từ điển 1, tr 81, Thích Quảng Độ, Hội Văn Hóa Giáo Dục, Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, năm 2000.
[9] Skt: Abhidharma-vijñāna-kāya-pāda-śāstra. Hán: 阿毘達磨識身足論
[10] Bổ-đặc-già-la. Skt: Pudgala. Hán: 補特伽羅. Dịch là nhân, chúng sinh, sổ thủ thú. Nghĩa là chủ thể người hay chúng sinh, đi lại nhiều lần ở trong sinh tử. Độc tử bộ, Kinh lượng bộ, Chính lượng bộ thừa nhận có bổ đặc la. Các bộ phái khác thì không chấp có bổ đặc
Pháp uẩn túc luận giải thích bổ-đặc-già-la, ở trong “Tứ song bát bối”. (Pháp uẩn túc luận 2, Đại chính 26). Phát trí luận giải thích bổ-đặc-già-la liên hệ đến mười hai chi duyên khởi ở trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Và liên hệ đến chuyển sinh ở trong các thú. Và cho rằng, có năm loại bổ-đặc-già-la, gồm: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín thắng giải, Kiến chí, Thân chứng. (Phát trí luận 3, 932a, Đại chính 26). Và Phát trí luận 4 lại nêu lên tám bổ-đặc-già-la, gồm: Hướng dự lưu, Quả dự lưu, Hướng nhất lai, Quả nhất lai, Hướng bất hoàn, Quả bất hoàn, Hướng A-la-hán, Quả A-la-hán. (Phát trí luận 4, tr 940a, Đại chính 26).
[11] Ngã không pháp hữu 我空法有. Chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ: ngã không có thật, nhưng thực thể của các pháp là thực có. (Phật quang đại từ điển 3, tr 3241, Thích Quảng Độ, Hội Văn Hóa Giáo Dục, Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, năm 2000.)
[12] Skt: Abhidharma-dharma-dhātu-kāya-pāda-śāstra. Hán: 阿 毘 達 磨 界身蘊足論
[13] Phú-lâu-na = Skt. Pūrṇa
[14] Xứng Hữu, Câu-xá luận thích (Phạn văn), Phật quang đại từ điển 1, tr 81, Thích Quảng Độ, Hội Văn Hóa Giáo Dục, Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, năm 2000.
[15] Skt: Abhidharma-prajāpti-pāda-śāstra. Hán: 阿毘達磨施設足論
[16] Skt: Abhidharma-prakaraṇa-pāda-śāstra. Hán: 阿毘達磨品類足論
[17] Skt: Abhidharmamahāvibhāsā-śāstra. Hán: 阿毘達磨大毘婆沙論
[18] Skt: Buddhavarman. Phiên âm: Phù-đà-bạt-ma; Phật-đà-bạt-ma. Hán là Giác Khải. Người Tây vực, đến Trung Quốc vào thời Lưu-Tống. Ấu thời rất thông minh và có hạo khí. Xuất gia từ nhỏ, học làu thông Tam tạng, nhất là A-tỳ-đàm tỳ-bà-sa luận. Ngài thường trì tụng luận này và lấy luận này làm tông chỉ tu tập. Năm Nguyên gia, Ngài đến Bắc Lương. Bấy giờ, ngài Đạo Thái, tìm được mười vạn bài kệ bản tiếng Phạn của A-tỳ-đạt-ma tỳ-bà-sa luận ở vùng Thông Lãnh phụ cận và cầu thỉnh Ngài dịch sang Hán văn.
Năm Thừa Hòa thứ 5 (437 năm Nguyên Gia 14, đời Lưu Tống). Ngài đáp ứng lệnh của chúa Bắc Lương bấy giờ là Thư cừ-Mục kiền, đến chùa Nhàn dự ở trong cung, tại thành Lương Châu, dịch bộ Đại tỳ-bà-sa này. Ngài Đạo Thái bút thụ, các Sa-môn: Tuệ Trung, Đạo Lãng cùng với 300 vị Tăng, chuyên về nghĩa học, hiệu đính văn nghĩa. Đến năm Thừa Hòa thứ 7 (439), thì dịch xong bộ luận này, gồm 100 quyển. Không bao lâ nhà Ngụy nổi lên, diệt nhà Lương, bao nhiêu kinh sách đều bị đốt hết, bản luận này cũng bị thất lạc. Ngài trở về Tây vực tỵ nạn và không có thông tin gì về sự viên tịch của Ngài.
Về sau, Lương vương cho sao chép được 60 quyển, truyền đến Tống Triều, ngài Đạo Đĩnh làm bài tựa, bản này là Đại-tỳ-bà-sa luận bản cũ. (Tuệ Kiểu-497-554-Lương cao tăng truyện 3, Đại chính 50; Phí Trường Phòng, Tùy, Lịch Đại tam bảo Kỷ 9, 49).
[19] Đạo Thái: Cao Tăng đời Đông Tấn cùng với ngài Phật-đà-bạt-ma dịch Đại tỳ-bà-sa luận. Năm sinh và mất không có thông tin.
[20] Dị bộ tôn luân luận thuật ký, do ngài Khuy Cơ soạn, đời Đường, là sách chú thích Dị bộ tôn luân luận, nói rõ lịch sử phân chia của 20 bộ phái Phật giáo. Hiện có ở Tục tạng kinh 83.
[21] Bàn-tẩu-bàn-đậu pháp sư truyện, một quyển, do Chân-đế dịch, vào đời Trần thuộc Nam triều, truyện nói về ngài Vasubandhu, tức là ngài Thế-thân, hiện có ở Đại chính 50.
[22] Skt: Sarvāsti-vāda. Hán. 薩婆多部. Bộ phái Phật giáo Nhất thiết hữu bộ, truyền thừa Thập tụng luật.
[23] Ô-đồ: Skt. Oḍra, tên của một đất nước ngày xưa ở miền đông Ấn Độ, vùng đất tương đương với Orīssa ngày nay. Nước này vào thời ngài Huyền Tráng đến Ấn Độ là một nước rất cường thạnh, Phật giáo rất thạnh hành ở đất nước này. Năm Trinh Nguyên 11 (795) vua nước Ô-đồ, tự tay chép bản kinh Hoa Nghiêm 40, bản tiếng Phạn dâng tặng vua Đường Cao Tông. (Đại Đường Tây Vực Ký 10).
[24] Giới Nhật: Skt. Śiladitya, nguyên tên vua là Harsa-vardhana. Vua lên ngôi khoảng thế kỷ VII. Vua quy y Tam bảo, hết lòng hộ trì và hoằng dương Phật pháp, cho xây dựng hàng trăm ngôi chùa ở khắp thành thị, nông thôn của Ấn Độ bấy giờ. Vua thường dự trữ lương thực thuốc thang để cấp ban cho những người nghèo khổ, tật bệnh. Vua thường tổ chức lễ cúng dường cho các Sa môn khắp nước hai mươi mốt ngày và năm năm mở đại hội vô giá một lần. Vua đề cao văn hóa và học thuật. Vua sáng tác rất nhiều tác phẩm trong đó có ba Hỷ khúc nổi tiếng ảnh hưởng đậm đà chất liệu Phật giáo, ba tác phẩm ấy, gồm: Viên ngọc báu trang sức ở ngực (Ratnāvalī=Lạp tháp-nạp-lợi); Dáng dấp người đàn bà (Pryadarśikā=Thanh nhân phụ nhân); Niềm vui rồng chúa (Nāgānanda=Nạp-gia-nan-đà). Tác phẩm Pryadarśikā là một kiệt tác tiếng Phạn cùa vua (Huyền Tráng, Đường Tây vực ký 5).
[25] Pháp Hòa: Cao Tăng Trung Quốc, sống vào đời Tiền Tần, người Huỳnh Dương – Hà Nam. Thuở nhỏ theo học với ngài Đạo An, thờ ngài Phật Đồ Trừng làm thầy. Thời chiến tranh, Ngài lánh nạn ở đất Thục, sau đó đến Quan Trung trú ở chùa Dương Bình và dịch kinh điển ở Trường An do ngài Đạo An chủ trì. Sau đó đến Lạc Dương cùng với ngài Tăng-già-đề-bà dịch kinh, nhuận sắc văn dịch A-tỳ-đàm tâm luận, A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận, lại nhận lời thỉnh mời của Tấn vương là Diệu Tự đời Tiền Tần, Ngài đến Boorphanr (Sơn Tây) giảng dạy kinh điển và mất vào năm 80 tuổi. (Tuệ Kiểu, Lương cao tăng truyện 1, Đại chính 50).

