Close Menu
Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest YouTube
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc
    Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    • PHẬT HỌC
      • Đức Phật
        • Thánh đản
        • Thành đạo
      • Phật học phổ thông
      • Nghiên cứu
      • Giảng luận
      • Pháp thoại
      • Ứng dụng
      • Trích dẫn Phật pháp
    • KINH – LUẬT – LUẬN
      • Kinh
        • Giới thiệu kinh
        • Giảng giải
      • Luật
        • Luật học
      • Luận
      • Kim Cang thừa
    • PHẬT GIÁO VIỆT NAM
      • Lịch sử
      • Nhân vật
        • Chư Tôn đức
        • Cư sĩ hữu công
        • Tiểu sử
      • Sự kiện
      • Tưởng niệm
    • CHUYÊN ĐỀ
      • Dân tộc
      • Giáo dục
      • Khoa học
      • Xã hội
      • Triết học
      • Biên khảo
      • Phật giáo thế giới
      • Nhìn ra thế giới
      • Chuyên mục khác
    • TUỔI TRẺ
      • Đời sống
      • Hành trang
      • Gia đình Phật tử
    • VĂN HÓA
      • Xuân Vạn Hạnh
      • Quán Thế Âm
      • Kiết hạ
      • Vu Lan
      • Nghi lễ – Phong tục
      • Mỹ thuật – Kiến trúc
      • Âm nhạc
    • VĂN HỌC
      • Văn
      • Thơ
      • Truyện
      • Tùy bút
      • Phê bình
      • Giới thiệu – Điểm sách
    • PHẬT SỰ
      • Tin tức
    • THƯ VIỆN
      • Báo chí
        • Kỷ yếu
        • Tạp chí
        • Tập san
      • Sách
      • Tham luận
      • Luận văn
      • Tư liệu
      • Media
        • Audio – MP3
        • Video Clips
      • Hình ảnh
    • NGOẠI VĂN
      • General Buddhist Studies
      • Buddhism with Youth
      • Buddhist Education
      • Buddhist History
      • Buddhist Culture
      • Buddhist Literature
      • Buddhist Sociology
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Trang chủ » Khánh Hoàng: Khái quát một số nét về chữ “Tâm” trong đạo Phật

    Khánh Hoàng: Khái quát một số nét về chữ “Tâm” trong đạo Phật

    07/02/202522 Mins Read
    meditating statue brings tranquility with candlelight lotus position generated by artificial intelligence 188544 130502
    Share
    Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

    “Tâm” là một trong những từ ngữ thường được biết, được nhắc đến nhiều nhất trong đời sống thường nhật (tâm, tâm lý , tâm linh, tâm thần, tâm niệm, tâm não, tâm tánh, tâm trạng, tâm sự, tâm tình… với biết bao nổi niềm vui buồn, thương ghét…) cũng như cũng rất phổ thông, phổ dụng trong đạo Phật. Lý do vì đạo Phật là đạo tu Tâm. Nhưng “Tâm là gì? Tâm ở đâu? Tu tâm là tu như thế nào?… lại là các điều cần được nắm vững. Ngoài ra lại có khá nhiều từ ngữ có liên hệ rất mật thiết với chữ “Tâm” như các chữ Tánh, Thức, Ý, Ý Thức, Tình Cảm, Xúc Cảm, Tư Duy, Lo Nghĩ,… Điều này khiến người học Phật khó tránh khỏi những hoang mang, mờ mịt, ngờ vực vì khó có thể phân định chuẩn xác được các phạm trù về ý nghĩa của chữ “Tâm” trong đạo Phật.

    Thông thường, có thể phân biệt tổng quát có hai thứ tâm: (1) “Tâm Vật Thể” là trái tim thịt thuộc về bộ máy tuần hoàn trong cơ thể, được gọi là “Nhục Đoàn Tâm” trong đạo Phật, và (2) “Tâm Tính Năng” là những tình cảm, xúc cảm, tư duy, phân biệt, lo nghĩ… có nơi tâm thức. Đạo Phật không đề cập nhiều đến Tâm Vật Thể , mà đặt trọng tâm vào Tâm Tính Năng” với các phần đi từ cạn cợt, vọng huyễn, phiền não như những tình cảm, xúc cảm, tư duy, phân biệt, lo nghĩ..dễ thấy biết đến các phần sâu xa vi tế , chân thật, trong sáng, thanh tịnh khó thấy biết (mà phần sâu xa vi tế nhất chính là Phật Tánh, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, Tri Kiến Phật, Như Lai Tàng Bản Thể.) nơi Tâm Tính Năng này.

    Hầu như toàn bộ kinh điển đạo Phật (3 Thừa, 12 Bộ Kinh) đều nhằm nói về tâm. Ở đây chỉ trích một vài đoạn kinh tiêu biểu trực tiếp nói về Tâm trong các kinh thường được biết đến nhiều nhất.

    Kinh Pháp Cú (phẩm Song Yếu) xác quyết vai trò chủ yếu của Tâm trong việc tạo tác ra tội – phước: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe”, và “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịmh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự vui vẻ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bóng theo hình”.

    Kinh Hoa Nghiêm khai thị về cội nguồn Tâm của ba đời mười phương chư Phật: “Nhược nhơn dục liễu tri, Tam thế thập phương Phật, Ưng quán pháp giới tánh, Nhứt thiết Duy Tâm tạo” (Tạm dịch” Như ai muốn rõ biết, Ba đời mười phương Phật, Nên quán tánh pháp giới, Tất cả Duy Tâm tạo”).

    Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật khai thị nơi Tâm của chúng sanh đều có sẵn đầy đủ Pháp Giới thân của chư Như Lai: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Thế nên, khi tâm các ngươi tưởng Phật thì tâm ấy là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi tướng phụ của Phật. Tâm tưởng niệm Phật, tâm quán tưởng Phật thì tâm ấy chính là Phật”.

    Kinh Tâm Địa Quán cũng xác quyết vai trò căn nguồn, cội gốc chủ yếu của Tâm Tính Năng này trong tu hành giải thoát:

    “Tam giới chi trung (Tạm dịch:  Ở trong ba cõi

    Dĩ tâm vi chủ                     Lấy tâm làm chủ

    Năng quán tâm giả           Người hay quán tâm

    Cứu cánh giải thoát          Rốt được giải thoát

    Bất năng quán giả             Người không quán tâm

    Cứu cánh trầm luân         Rốt rồi trầm luân

    Chúng sinh chi tâm           Tâm nơi chúng sinh

    Du như đại địa                  Ví như ruộng đất

    Ngũ cốc ngũ quả               Các loài thực vật

    Tùng đại địa sanh             Theo đất mà sanh

    Như thị tâm pháp             Tâm pháp cũng thế

    Sanh thế xuất thế              Sanh ra thế gian

    Ngũ thú thiện ác               Năm đường thiện ác

    Hữu Học Vô Học               Thanh Văn La Hán

    Độc Giác Bồ Tát                Độc Giác Bồ Tát

    Cập ư Như Lai                  Cả đến Như Lai

    Dĩ thị nhân duyên             Bởi nhân duyên này

    Tam giới duy tâm              Ba cõi chỉ (là) Tâm

    Tâm danh vi địa..              Tên tâm gọi (là) đất…)

    Duy Thức Học dựa trên Pháp Tướng đã phân định rõ vũ trụ vạn hữu được bao gồm trong 100 pháp (Đại Thừa Bách Pháp). 100 pháp này đều có liên hệ mật thiết ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đến chữ “Tâm. 100 pháp được phối hợp và liệt kê, chỉ kể tên ra theo 5 loại là:

    1. Tâm Pháp (Pháp Tối Thắng), chính là “Bát Thức Tâm Vương”, có thể gọi nôm na là “Tám Chủ Thể Thấy Biết – Phân Biệt – Nhận Thức và Lưu Giử NghiệpThức” (“Thấy Biết” là nói gọn của “Thấy Nghe Hiểu Biết” = “Kiến Văn Giác Tri”).

    “Bát Thức Tâm Vương’ gồm có:

    Nhãn thức (Thấy Biết, Phân Biệt Sắc Trần nơi Mắt)

    Nhĩ thức (Thấy Biết, Phân Biệt Thanh Trần nơi Tai),

    Tỷ thức (Thấy Biết, Phân Biệt Hương Trần nơi Mũi),

    Thiệt thức (Thấy Biết, Phân Biệt Vị Trần nơi Lưỡi),

    Thân thức (Thấy Biết, Phân Biệt Xúc Trần nơi Thân),

    Ý thức (còn gọi là Thức 6, = Liễu Biệt Cảnh thức = Phân Biệt Sự thức = Phân Ly thức) (= Thấy Biết, Phân Biệt Pháp Trần nơi Ý Thức). Sự phân biệt Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) trội bật nhất là ở nơi Ý Thức, vì Ý Thức có công năng phân biệt mạnh mẽ nhất. Năm thức trước (Tiền Ngũ Thức = Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân ) chỉ có công năng chính là tiếp thu trần cảnh, còn công năng phụ là phân biệt về Tánh Cảnh của cảnh trần (sự phân biệt này xuất phát từ Ngũ Câu Ý Thức = phần Ý Thức chuyên biệt có nơi 5 căn Nhãn Nhĩ Tỹ Thiệt Thân).

    Mạt Na thức (còn gọi là Thức 7, = Ý = Ý Căn, Căn của Ý Thức = Tư Lương thức) = dòng tư lương vi tế bất tận với thấy biết vướng chấp nặng về Năng – Sở, về Ngã – Ngã Sở Hữu, = Ngã – Pháp.

    A Lại Da thức (còn gọi là Thức 8 = Tàng Thức = A Đà Na Thức = Dị Thục Thức = Tâm Sanh Diệt) = kho chủng tử, tàng chứa tất cả thành quả của Thấy Biết, Nhận Thức thức từ bảy Thức trước. Thành quả này được gọi là Nghiệp Thức, cấu chất của chủng tử).

    Ba chữ thường được nhắc đến nhiều là “Tâm”, “Ý”, và “Ý Thức” đến đây đã được Duy Thức Học minh định rõ: Tâm là A Lại Da thức = thức 8, Ý là Mạt Na thức = thức 7, và Ý thức = thức 6. Điều này đã được xác quyết ở Luận Đại Thừa Khởi Tín.

    1. Tâm Sở Hữu Pháp (Tâm Vương Chi Sở Hữu Pháp = Các pháp từ Tâm Vương khởi, tương ưng với Tâm Vương và hệ thuộc nơi Tâm Vương), gồm 51 pháp, có thể xem là 51 sản phẩm được tạo thành từ công năng hoạt động từ 8 thức Tâm Vương nêu trên. Tâm Sở Hữu Pháp này chính là những tình cảm của các loài hữu tình, trong đó nổi bật nhất chính là những tâm sở phiền não, thường được nhắc đến là “Thất Tình” = Hỷ, Nộ, Ai, Cụ, Ái Ố, Dục (mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn) và Lục Dục = những tình cảm phát sinh từ lục căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý) khi tiếp thọ với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp). Những tình cảm này chi phối mạnh mẽ vào đời sống thường nhật, có khi còn được tôn vinh, ngợi ca (như tình yêu nam nữ) nơi Tục Đế, nhưng qua lăng kính Duy Thức Học, đây chỉ là những phiền não, và quan trọng hơn chỉ là những Tâm Sở, sản phẩm của Tâm, không phải là Tâm, mà nhiều người thường tưởng lầm cho rằng chúng chính là Tâm của họ.

     51 Tâm Sở pháp này gồm có:

    5 món Biến Hành (Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư),

    5 món Biệt Cảnh (Dục, Thắng Giải, Niệm, Định, Tuệ),

    11 món Thiện (Tín, Tinh Tấn, Tàm, Quí, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả, Bất Hại),

    6 Căn Bản Phiền Não (Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến),

    20 Tùy Phiền Não (Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Siễm, Hại, Kiêu, Vô Tàm, Vô Quí, Bất Tín, Giải Đải, Phóng Dật, Hôn Trầm, Trạo Cử, Tán Lọan, Thất Niệm, Bất Chánh Tri),

    và 4 món Bất Định (Hối, Miên, Tầm, Từ).

    1. Sắc Pháp (Pháp Sở Hiện Ảnh) gồm 11 món, gồm có 5 món về Căn (Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân) và 6 món về Cảnh Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) được hình thành từ sự phối hợp của Tâm Vương và Tâm Sở.
    2. Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp (Pháp Tam Vị Sai Biệt) gồm 24 món không là Tâm Sở vì không có tương ưng với Tam Hòa Hợp (Căn- Trần- Thức) nên không có biểu hiện nơi Ý thức mà chỉ xuất hiện nơi Mạt Na thức và A Lại Da thức. Đó là: Đắc, Mạng Căn, Chúng Đồng Phận, Dị Sanh Tánh, Vô Tưởng Định, Diệt Tận Định, Vô Tưởng Báo, Danh Thân, Cú Thân, Văn Thân, Sanh, Trụ, Lão, Vô Thường, Lưu Chuyển, Định Vị, Tương Ưng, Thế Tốc, Thứ Đệ, Thời, Phương, Số, Hòa Hợp Tánh, và Bất Hòa Hợp Tánh.
    3. Vô Vi Pháp (Pháp Tứ Sở Hiển Hiện) là các pháp vô tướng, vô tác rất vi tế nên không thuộc vào bốn loại pháp vừa nêu trên. nhưng lúc nào cũng có hiện diện, không thiếu vắng nơi bốn pháp này. Vô Vi pháp gồm có 6 món là: Hư Không, Trạch Diệt, Phi Trạch Diệt, Bất Động Diệt, Tưởng Thọ Diệt, và Chơn Như.

    Qua Duy Thức Học, có thể thấy A Lại Da thức chính là cội nguồn chủ yếu của tâm thức phàm phu nơi chúng ta. Khi A Lại Da thức được tinh sạch, không còn bị vướng chấp phiền não che phủ, nó sẽ trở thành Bạch Tịnh thức (Bản thể Như Lai Tàng thanh tịnh). Đó chính là Pháp Thân Như Lai, Giác Thể vô thủy – vô chung, vô tại – vô bất tại, Đệ Nhất Nghĩa Đế, cõi Phật Vô Động, tự đầy đủ thanh lương bất biến, soi chiếu khắp pháp giới hằng nhiên tự tại. Thông thường, chúng ta chỉ biết sống với “Tâm Vật Thể” và với các Sắc pháp, chỉ biết nhiều và sống thường xuyên cùng với các phần thô phù, cạn cợt của “Tâm Tính Năng” như với 6 món Tâm Vương đầu tiên (Tiền Lục Thức: Nhãn Thức , Nhĩ Thức, Tỹ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức và Ý Thức) cùng các món Căn Bản Phiền Não, và các món Tùy Phiền Não, ..Do vậy chúng ta quan tâm nhiều đến các món Sắc Pháp và các món Tâm Sở Phiền Não, quan tâm ít hơn đến các món Tâm Sở Thiện và các món Tâm Sở khác, và hầu như rất xa lạ với các pháp Vô Vi. Điều này đưa đến sự hình thành, phát triển tự nhiên, và tồn tại lâu dài của vô minh phiền não, chủng tử hữu lậu, chìa khóa phát khởi nghiệp thức dẫn đưa vào sáu đường sinh tử luân lưu, bất tận trong ba cõi.

    Kinh Pháp Cú (phẩm “Tâm”) có câu “Tâm phàm phu cứ xoay vần theo ngũ dục, xao động, không dễ nắm bắt. Chỉ những người nào đã điểu phục được tâm mình mới được an vui”. Do đây, tâm ý phàm phu thường được ví như khỉ, như ngựa (“Tâm viên, ý mã”).

    Ngài Thần Quang (về sau là Nhị Tổ Huệ Khả) thưa với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Tâm con không an xin Thầy dạy con pháp an tâm”. Sơ Tổ nói: Hãy đem tâm của ông ra đây, ta sẽ an cho”. Thần Quang đáp “Con tìm tâm mà chẳng thấy”. Sơ Tổ bảo “Vậy là ta đã an tâm cho ông rồi”. Từ đây, ngài Thần Quang đã được pháp an tâm. (= Cái tâm mà Ngài ban đầu tưởng là không an chỉ là những tâm sở thô phù, là phiền não, là pháp sanh diệt, chợt có chợt mất, chợt đến chợt đi theo các duyên trần. Khi tâm ta còn phan duyên và bị vướng mắc vào phiền não, tâm chỉ thấy hiện ra có phiền não nên ta dễ có ý cho rằng phiền não chính là bản tâm ta. Chỉ cần lời dạy đơn giản là “hãy đem tâm ra đây” và “Vậy là ta đã an tâm cho ông rồi” khiến ngài Thần Quang xoay lại quán chiếu nơi bản tâm và dứt bặt tư duy phân biệt nên thấy phiền não huyễn hóa tự nhiên biến mất, liền được trở về với tâm thanh tịnh bản nhiên tự sẵn đầy đủ nên gọi là được pháp an tâm vậy).

    Luận Đại Thừa Khởi Tín xác minh sự khởi phát của ba thức cơ bản của Bát Thức Tâm Vương là A Lại Da Thức, Mạt Na Thức, và Ý Thức như sau:

    1. Ban đầu tạm gọi là có bản thể Giác Tánh thanh tịnh, viên mãn (Đây chính là Bản Giác vô thủy, vô chung).
    2. Do tác động từ cảnh trần, Bản Giác bị chao động (Đây chính là Vô Minh Nghiệp Tướng, Tế 1 của Tam Tế) nên có xuất hiện A Lại Da thức (đây là giai đoạn khởi phát và xuất hiện Thức 8).
    3. Từ đó tiếp tục sinh ra có Năng Kiến Tướng (còn gọi là Chuyển Tướng, tức là Kiến Phần của A Lại Da thức, Tế 2 của Tam Tế)
    4. Rồi có thêm Cảnh Giới Tướng (còn gọi là Hiện Tướng, tức là Tướng Phần của A Lại Da thức, Tế 3 của Tam Tế). Từ đây đã có sự xuất hiện của Mạt Na thức (đây là giai đoạn khởi phát và xuất hiện Thức 7) với chấp mắc về Năng – Sở, Ngã – Pháp (Ngã Sở Hữu), Có -Không.

    (Ba tướng Vô Minh Nghiệp, Kiến Phần, và Tướng Phần này được gọi chung là Tam Tế trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Tế 1 minh định sự hình thành A Lại Da thức; hai tế sau: tế 2 và tế 3, minh định sự hình thành Mạt Na thức).

    1. Mạt Na thức xuất hiện sẽ tiếp tục phát triển ra Lục Thô bao gồm Thô 1 =Trí Tướng (có thêm phân biệt tốt-xấu, thương-ghét) , Thô 2 =Tương Tục Tướng (vọng niệm tiếp nối liền lạc theo nhau không dứt), Thô 3 = Chấp Thủ Tướng (khiến tâm trở nên chấp luyến, thủ đắc sự vật), Thô 4 = Kế Danh Tự Tướng (và khiến tâm giả đặt ra danh tự gọi tên sự vật), Thô 5 = Khởi Nghiệp Tướng (rồi tâm gây tạo nghiệp lành dữ) và Thô 6 = Nghiệp Hệ Khổ Tướng (tâm phải thọ chịu quả khổ). Hai Thô đầu của Lục Thô còn thuộc về Mạt Na thức, còn bốn Thô sau của Lục Thô chính là Tướng và Dụng của Ý Thức (khởi phát và xuất hiện Thức 6). Như thế, Tam Tế Lục Thô chính là quá trình chuyển biến từ bản thể Như Lai Tàng thanh tịnh qua các thức A Lại Da, Mạt Na và Ý thức cấu nhiễm, cơ sở cho các tác nhân gây tạo nghiệp khổ luân hồi.

    Vậy bản thể của tâm là Giác Tánh thanh tịnh luôn có sẵn, chỉ vì Tâm bị chao động trước cảnh trần mà khiến có Bất Giác. Bất Giác chính là sự Động Tâm, cũng chính là Vô Minh vi tế nhất, sâu xa nhất so với các Vô Minh thô phù bên ngoài (như các Tâm Sở phiền não Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến)… Các tông phái đạo Phật đều có cứu cánh nhắm đến chổ loại trừ, buông bỏ Vô Minh vi tế về sự động tâm này. Như Tịnh Độ tông với pháp môn “Niệm Phật nhất tâm bất loạn”, Mật Tông với pháp môn Tam Mật Tương Ưng, Thiền Tông với pháp môn Chỉ Quán…

    Mỗi động thái của Bản Giác đưa đến sinh khởi của một tướng trạng tâm. Có nhiều tướng trạng khác nhau nên tên gọi (danh xưng) của các tướng trạng này cũng khác nhau. Từ chổ Tâm bị động, vọng niệm được phát khởi, mỗi vọng niệm phát khởi lại là một dạng tâm sở, mỗi tâm sở lại có thể tương ưng với một dạng loại phiền não, nên thực tế không phải chỉ có 51 tâm sở như Duy Thức Học đã tổng quát hóa, tóm gọn lại, mà có vô lượng tâm sở, vô lượng phiền não rồi. Điều an ủi là dù có vô lượng phiền não, nhưng chúng sanh cũng có vô lượng Bồ Tát sẵn sàng cứu giúp vượt qua chúng. Vô lượng phiền não thường được tượng trưng với con số 84,000 trong đạo Phật như nếu có 84,000 phiền não thì cũng có 84,000 vị Bồ Tát hoặc có 84,000 pháp môn giải thoát…Các Bồ Tát này quí hóa thay lại có sẵn đủ, ở ngay nơi cội nguồn tâm thức của mỗi chúng sanh nên chúng sanh chỉ cần “Hồi Đầu”, thì tức khắc “Thị Ngạn” ngay. Mỗi một niệm Giác là một Bồ Tát, từ nơi có “Hữu Tình Giác’ mà khiến có nên “Giác Hữu Tình”. Do vậy Lục Tổ đã nói “Không ngại niệm khởi chỉ e giác chậm”. Đây cũng là ý nghĩa của phẩm “Tòng Địa Dõng Xuất” trong kinh Pháp Hoa (có vô số Bồ Tát từ cõi đất của tự tâm vọt lên để hộ trì kinh, không cần đến các Bồ Tát ở các phương khác, cõi đất khác).

    Kinh Duy Ma Cật phân biệt về các tâm với tên gọi khác nhau có được trên tiến trình tu tập, dựng xây cõi Tịnh Độ, kể tên sơ lược một số tên gọi: thứ nhất là Trực Tâm = tâm không cong vạy, thẳng hướng về bản thể Chơn Như, thứ hai là Thâm Tâm = tâm tinh tấn đi sâu vào Chơn Như, thứ ba là Bồ Đề Tâm = tâm thể phát sáng, cảm nhận được chất liệu trí tuệ – an lạc nơi Chơn Như, thứ tư là Hồi Hướng Tâm = tâm dụng từ Chơn Tâm hướng đến lợi ích cho chúng sanh…để dần dà có Thanh Tịnh Tâm rồi có cõi Tịnh Độ (Phật quốc). Ở đây, kinh Duy Ma Cật xác minh tu tâm không dừng lại ở phương tiện phá dẹp, buông bỏ phiền não nơi các Thức vì đây chỉ giống như hớt bọt trên mặt biển nổi sóng mà không biết đến nguyên nhân sâu xa khiến phát sinh bọt biển chính là do nước biển yên lành đã bị chao động theo những cơn gió từ các duyên trần cảnh từ bên ngoài. Kinh đã nhấn mạnh đến nơi cứu cánh, nổ lực hướng thẳng đến Chơn Tâm bản tánh, tinh tấn cho đến khi thành Phật.

    Một vị tăng hỏi thiền sư Thiên Nhan: “Thế nào là Lý Bản Thường”. Thiền sư Thiên Nhan đáp: “Động”.. Vị tăng lại hỏi “Khi động thì sao?” Ngài đáp: “Chẳng phải Lý Bản Thường”. Ở đây, câu trả lời của thiền sư Thiên Nhan không nhằm giải đáp cho chính câu hỏi (phát khởi từ nguồn thức 6, thức 7 và thức 8 của học tăng) mà đã rốt ráo hơn, cụ thể hơn, từ bi thiết thực hơn nhổ đinh, tháo chốt thẳng vào ngay nơi động thái của Bản Giác nơi người nêu ra câu hỏi vậy. Thiền Sư sau đó đã khai thị tiếp về việc “Nhận” và “Chẳng Nhận” (động thái vi tế hơn ở nguồn tâm của học tăng): “Nhận tức chưa thoát khỏi căn trần, còn chẳng nhận thì còn hằng chìm trong sanh tử”.

    Kinh Duy Ma Cật, phẩm 12 “Kiến A Súc Phật” khai thị về cõi nước Diệu Hỹ cũng nhằm vào ý nghĩa này: khi tâm thức không bị chao động trước cảnh trần, quán chiếu thấu được “Thực Tướng” ngay nơi tự thân sẵn đủ thì chính lúc đó là quốc độ Diệu Hỷ rồi. Tâm “Hỷ Lạc” ở đây có ý nghĩa thắng vượt qua các tâm Hỷ Lạc nơi Tục Đế thế gian (tâm vui thích vì được thành toại tham dục với cảnh trần bên ngoài), cũng thắng vượt qua các tâm Hỷ Lạc của thiền cảnh cõi trời Sắc Giới (Ly Sanh Hỷ Lạc = Xa rời ngũ dục thế gian mà tâm được vui thích, Định Sanh Hỷ Lạc = Tâm không còn chao động với ngũ dục thế gian mà được vui thích.), nên được gọi là Diệu Hỷ (cái vui mầu nhiệm bất khả tư nghì mà ai cũng sẵn có đầy đủ nhưng lại thường hay bị bỏ quên nên không thể biết về nó và không thể sống với nó).

    Cuộc vấn đáp giữa ngài Triệu Châu (người hỏi) và thầy mình là Tổ Nam Tuyền (người đáp) minh định tâm Vô Động (gọi là Tâm Bình Thường ở đây) với ý nghĩa Tâm Bình Thường không phải là tâm hằng ngày thường khiến ta bận bịu, phiền não vướng chấp theo duyên trần, nghĩ ngợi lăng xăng phải -quấy, tốt xấu, khen chê, thương- ghét) mà Tâm Bình Thường chính là Đạo, là tâm ở nơi cội nguồn thanh tịnh, nơi đó không còn có vọng động, khiến tâm xa lìa các ý niệm về tiến – lùi, nghĩ ngợi, nhận biết theo duyên trần của Ý thức, Mạt Na thức, A Lại Da thức:

    – Thế nào là đạo?

    – Tâm bình thường là đạo.

    – Lại có thể nhằm tiến đến chăng ?

    – Nghĩ nhằm tiến đến là sai rồi.

    – Vậy khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo ?

    – Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy?

    Ngay câu nói này, thiền sư Triệu Châu được ngộ lý.

    Như trên đã nói, đạo Phật chính là đạo về Tâm. Nhưng nếu cho rằng đạo Phật là đạo Duy Tâm thì cần khéo hiểu ý nghĩa của chữ Tâm này, chữ Tâm với ý nghĩa trọn vẹn, bao trùm đầy đủ các pháp giới từ thô đến tế, từ cạn cợt đến vào sâu suối nguồn ẩn kín, chữ Tâm vượt qua khỏi các phạm trù “Duy” và “Chẳng Duy” với nhậm vận diệu dụng “Bất Biến mà Tùy Duyên”, và tuy là “Tùy Duyên nhưng lại Bất Biến”.

    Còn nếu cho rằng đạo Phật là đạo Vô Thần, thì cần khéo hiểu ý nghĩa về bản thể và diệu dụng của nguồn tâm thể bản hữu. Chính ngay từ ngữ “Vô Thần” đã bị vướng chấp vào hai ý niệm: thứ nhất là ý niệm về Vô – Hữu (Có – Không), thứ hai là ý niệm về “Là (Thần) – Chẳng Là (Thần)”. Hai ý niệm này còn thuộc phạm trù của các Thức (Ý thức, Mạt Na thức, A Lại Da thức), chưa chạm vào đến nơi cội nguồn bản thể thanh tịnh của A Lại Da thức là Bản Giác hằng nhiên thanh tịnh mà chiếu soi cùng khắp, vượt qua tất cả ý niệm về không gian và thời gian, về Có –Không, về Là-Chẳng Là. Đó là diệu dụng bất khả tư nghì của cội nguồn Chơn Tâm Thường Trú “thanh tịnh bản nhiên, “tùy chúng sanh tâm ứng sở tri lượng, chu biến pháp giới” (kinh Thủ Lăng Nghiêm). Cội nguồn này là nơi xuất sanh và cũng là nơi trở về (sanh hay diệt tùy theo các nhân duyên tụ tán) của vô lượng sanh thể, sanh khí, sanh tướng của chúng sanh , bao gồm tất cả dạng loài chúng sanh trong ba cõi ( Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới), trong sáu đường (Trời, Người, thần A Tu La, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục), và cả mười pháp giới (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và sáu đường nêu trên).

    Như thế, gán ép cho “Tâm” nói riêng và cho đạo Phật nói chung bất kỳ một danh hiệu nào, một nhãn hiệu nào… đều không chuẩn xác và xứng hợp hoàn toàn. Bởi vì Tâm nơi cứu cánh chính là nguồn sống thiên sai vạn biệt của tất cả chúng sinh mà ở tận cùng nguồn sống ấy lại là giác thể thanh tịnh bản hữu chung cùng, bản vị bình đẳng nơi mỗi sinh linh. Đây cũng chính là điểm tinh yếu vô cùng đặc sắc và độc đáo của đạo Phật Đại Từ – Đại Bi – Đại Hỷ – Đại Xả vậy.

    Khánh Hoàng

    Plano_ February 22, 2017

    Khánh Hoàng
    Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
    Previous ArticleĐồng Thiện: Niệm Phật dễ hay khó?
    Next Article Đạo Hy: Tánh Không – Thực tại phi bản thể

    Xem thêm

    Khánh Hoàng: Sơ quát về Trí tuệ trong đạo Phật qua Duy Thức Học

    20/04/2026

    Thích Nhuận Giác: Các loại hình Tịnh độ trong Phật giáo Đại thừa

    16/04/2026

    Khánh Hoàng: Tiễn bạn

    03/04/2026
    Add A Comment
    Leave A Reply Cancel Reply

    Bài mới

    Daisetz Teitaro Suzuki | Đỗ Kim Thêm giới thiệu và dịch: Bàn về thuyết luân hồi

    24/06/2026

    Lãng Thanh: Nguyện cầu Phật lực từ bi

    21/06/2026

    Thích Chúc Xuân: Tỉnh thức trước vô thường

    18/06/2026

    GHPGVNTNHK Cáo bạch: Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Thuận viên tịch

    18/06/2026

    Uyên Nguyên: Người đã đi rồi. Núi còn đây…

    15/06/2026

    Đạo Sinh: (LUẬN CÂU-XÁ) Chương 8: Phân biệt định [Phần 27]

    02/06/2026

    Nguyệt san Chánh Pháp số 175 | tháng 6.2026

    02/06/2026

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Paul Dahlke | Đỗ Kim Thêm dịch: Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 

    29/05/2026

    Lãng Thanh: Tháng năm hoa tràn đồng

    28/05/2026
    Mạng xã hội
    • Facebook
    • Twitter
    • Pinterest
    • Instagram
    • YouTube
    • Soundcloud
    Website Phật giáo

    Hội Đồng Hoằng Pháp | GHPGVNTN

    Phật Giáo Úc Châu

    Viên Giác Pagoda

    Quảng Ðức Homepage

    Thư Viện Hoa Sen

    Làng Mai

    Hoa Vô Ưu

    Hương Tích Phật Việt

    Đạo Hy

    Chung Huong Institute

    GÐPTVN Trên Thế Giới

    GÐPT Việt Nam (Quốc nội)

    Sen Trắng | BHD GĐPTVN tại Hoa Kỳ

    Copyright © 2026 | Phật Việt tùng thư
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc

    Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.