nguyen du

Mặc Không Tử: Cái đẹp vượt thời gian & thuyết nghiệp báo qua Truyện Kiều của Nguyễn Du

Cuộc sống đẹp không thể thiếu thơ. Là thơ thì phải hay và đẹp. Nhưng nếu chỉ chuyên chú ở văn chương mà thiếu hẳn cái tâm thì khó có thể làm nên tác phẩm có giá trị, chỉ chuyên chú ở con người mà không có tài năng thì không thể có thơ văn hay và đẹp để lại cho đời. Có thể nói chính nhờ chiều sâu nhân bản ở nội dung, lại được thể hiện dưới ngòi bút tài tình của thi hào Nguyễn Du nên tác phẩm của ông đã làm xúc động trái tim nhân loại.

Thơ văn Nguyễn Du tựa như một kim tự tháp sừng sững giữa đất trời mênh mông. Nếu thơ chữ Hán cho thấy trực tiếp sự khám phá tài tình của ông về cái thế giới sâu thẳm ẩn náu trong đáy tâm hồn nhà thơ, thì Truyện Kiều là công trình nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du về nỗi đau, niềm vui của những kiếp người. Với chủ nghĩa cảm thương trong sáng tác và mối đồng cảm đặc biệt đối với người phụ nữ tài hoa bạc mệnh mà “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như có máu rỏ trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy” (Mộng Liên Đường). Tác phẩm Truyện Kiều óng ánh sắc màu với “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Thúy Kiều như một tượng trưng cho tất cả những gì là đẹp, là tinh hoa của con người. Một con người như thế lẽ ra phải được sống một cuộc đời đẹp, hạnh phúc. Thế nhưng chính những phẩm chất cao quý nhất của nàng lại trở thành tai họa đối với nàng. Tại sao vậy? Nhà thơ thật tài tình khi kết chuyện đúng theo ý thức “văn dĩ tải đạo” của người xưa:

“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du đã chuyển hóa “trời” và “mệnh” thành ra “nghiệp” trong Phật giáo:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”.

Nghiệp là những hành động và tư tưởng mà ta đã làm hoặc đã có trong kiếp trước hay kiếp này, có tác động quyết định đối với tương lai chúng ta. Nghiệp ở đây: “đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”. Thúy Kiều một con người tài sắc vẹn toàn lại phải trải qua mười lăm năm lưu lạc. Phải chăng là vì nghiệp mà Kiều đã tạo ở kiếp trước? Vậy lấy gì để cân nhắc nghiệp duyên? Những gì đã góp phần tạo nên điều kiện chuyển nghiệp cho Thúy Kiều? Những điều ấy là:

“Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm”.

“Đừng điều nguyệt nọ hoa kia
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai”.

Hay:

“Bấy lâu đáy bể mò kim

Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”.

Những hành động trên đây của Thúy Kiều chứng minh được rằng Kiều tuy là con người đa tình nhưng không phải hạng người tà dâm. Cái đức tính ấy, cái chung thủy kia đã góp phần vào việc chuyển nghiệp của Kiều rồi vậy.

 Điều thứ hai góp phần chuyển nghiệp cho Kiều là:

“Lấy tình thâm trả tình thâm
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời”.

Thúy Kiều vì mối “phụ tử tình thâm” mà bán mình chuộc tội cho cha, làm hư hỏng cả cuộc đời xuân sắc của mình thì thật là một người con hiếu thảo khó ai sánh bằng. Mặc dù nặng tình với Kim Trọng nhưng nàng đã dám bỏ tình mà chọn hiếu, nhận định rằng: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Chính lòng hiếu thảo ấy là điều kiện căn bản chuyển nghiệp cho nàng sau này.

Điều thứ ba:

“Hại một người, cứu một người
Biết điều khinh trọng, biết lời phải chăng”.

Kiều khuyên Từ Hải ra hàng vì quyền lợi cá nhân ích kỷ cũng có mà vì sợ cảnh chiến tranh tàn sát cũng có. Nàng đã nói với Từ:

“Ngẫm từ dấy nghiệp binh đao
Đống xương vô định đã cao bằng đầu”.

Lấy tình thương người phải họa binh đao mà Kiều khuyên Từ nên ra hàng để cho muôn người khỏi cảnh chiến tranh chết chóc. Lời nói ấy tuy đã đưa họ Từ đến chỗ chết nhưng đã cứu được muôn người thoát khỏi hỏa ngục lửa binh. Cân nhắc công và tội, Kiều vẫn có công hơn tội. Thế nên hành động này cũng là một điều kiện chuyển nghiệp cho nàng.

Không sa đọa, đặt hiếu trên tình, cứu nạn cho nhân sinh. Đó là ba điều phản ảnh cái “tâm sáng tỏ” của Thúy Kiều, đó là những điều thiện quyết định cái nghiệp mới cho nàng.

Kiều vì nghiệp trước mà phải trải qua bao cơ sự tang thương, dâu bể suốt mười lăm năm. Nhưng trong mười lăm năm ấy, Kiều đã rửa sạch túc khiên (tội ở kiếp trước) nên được nhẹ cái nợ trước mà tạo nên duyên lành sau này:

“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Cụ Nguyễn Du đã thấy trong lòng chúng ta có những hạt giống thiện, chịu khó trở về vun xới những hạt giống đó thì tâm của chúng ta sẽ thiện và ta sẽ được nhờ vả vào đó rất nhiều, vì “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ở đây, chữ tâm dùng theo nghĩa thiện tâm. Nếu mình không có tài mà có thiện tâm thì mình vẫn có hạnh phúc và hạnh phúc hơn những người có tài mà không có thiện tâm. Đó là triết lí của cụ Nguyễn Du.

Nhìn chung, Truyện Kiều là một tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc. Thúy Kiều sau mười lăm năm lưu lạc lại được hưởng cảnh đoàn tụ vui vầy. Bao nhiêu cơ sự tang thương và dâu bể của cuộc đời Kiều cũng vì “chữ tài” mà mang lấy “chữ tai” cuối cùng phải nhờ “thiện tâm” mà chuyển nghiệp. Tư tưởng Phật giáo được chứng minh thật là cụ thể vậy.

Về phần tư tưởng, ta còn thấy phát hiện một nhận thức mới: Nghiệp báo không phải chỉ chuyển biến từ kiếp này sang kiếp khác mà chuyển biến ngay trong hiện tại. Cuộc đời không khép lại với khổ đau mà từ trong khổ đau nẻo giải thoát vẫn mở ra do chính con người.

Cái thiên tài và cái nghệ thuật cao siêu tuyệt vời của Nguyễn Du là cách sử dụng ngôn ngữ và ý tứ thơ và có một sợi tơ mong manh làm cho mọi sự được xoáy tròn nhẹ nhàng. Chỉ cần đồng tâm lắng nghe “nhịp thở” đều đặn của mấy câu sáu tám ta cũng đủ thấy cái gọi là “dân tộc tính” và “sinh lực tính” của thể thơ dân tộc. Truyện Kiều đã đem lại lòng tin cho mọi người về khả năng phong phú của tiếng Việt, và Truyện Kiều đã có công khai sáng cho nhiều nhà văn, nhà thơ đời sau về phương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chương. Quả như lời nhận xét của Mộng Liên Đường: “Nếu không phải con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì không tài nào có được cái bút lực ấy”.

Nguyễn Du đã vĩnh viễn ra đi, thân cát bụi rồi lại trở về với cát bụi. Nhưng những gì là thơ, là văn, những gì là tinh túy nhất của một đời người sẽ vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn để sống mãi với thời gian.

[Tập san Pháp Luân số 10, PL 2548]

Xem thêm

xuan ha thu dong

Mặc Không Tử: Chân thường giữa dòng biến dịch

Bốn mùa luân chuyển, hoa nở rồi tàn, trăng tròn lại khuyết… Dòng biến dịch …

nguyen du

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: Cái lo của Nguyễn Du

Nhân “Ngày Sách và Bản quyền Thế giới” 23 tháng 4  Sè sè “đống sách” …

truyen kieu

Thanh Tâm: Tư tưởng tài mệnh trong truyện Kiều

Những con sóng bạc trường giang lắng mình, trở về hội ngộ cõi uyên nguyên …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.