Mizutani Kosho | Thích Viên Lý dịch Việt: Phật Giáo sẽ phát triển thế nào trong thế kỷ 21

thich vien ly phat giao tk 21

PHẬT GIÁO HƯỚNG DẪN THẾ KỶ 21
Hội Nghiên Cứu Học Thuật Phật Giáo Quốc Tế
Dịch giả: Thích Viên Lý
Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới xuất bản, 2000
Lotus Media tái bản, có hiệu đính, 2020
Bìa và trình bày: Nhóm Hoa Đàm
ISBN: 978-1-6671-1950-2
© Tác giả giữ bản quyền.

VÀI LỜI CỦA DỊCH GIẢ

 

Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21 là một tài liệu gồm 12 tham luận được trình bày tại Hội Nghị Nghiên Cứu Học Thuật Phật Giáo Quốc Tế lần thứ Tám vào các ngày 27 và 28 tháng 10 năm 1995 tại Đài Loan bởi các diễn giả thuộc nhiều thành phần của nhiều quốc gia khác nhau.

 Nhằm cung cấp thêm tài liệu cho những ai đã và đang thao thức cho một nền Phật Giáo Việt Nam huy hoàng rực rỡ, chúng tôi cố gắng chuyển dịch tập sách này với mỗi một ước vọng duy nhất: Đóng góp phần nhỏ vào công cuộc phục hưng Đạo Pháp, lợi lạc quần sanh.

 Dẫu cho, đã có một số tư tưởng, quan điểm dị biệt, không hoàn toàn phù hợp với cách nhìn của người dịch, dù vậy, trong tinh thần vô tư và khách quan, chúng tôi cố gắng chuyển dịch một cách trung thực và trọn vẹn những ý kiến của các diễn giả vì chúng tôi quan niệm rằng trong một vườn hoa, sự góp mặt của nhiều hương sắc khác nhau tất nhiên sẽ giúp cho người thưởng ngoạn có được cơ hội để so sánh, bình phẩm. Ước mong quý độc giả hiểu và chia sẻ cũng như lượng thứ cho nếu cách suy tư của người dịch không phản ánh được lập trường và quan điểm của người đọc.

Cẩn bút,
Tu viện Bảo Pháp, ngày 01 tháng 01 năm 2000
Thích Viên Lý

Phật Giáo
Sẽ Phát Triển Thế Nào
Trong Thế Kỷ 21

 

1.

Thế kỷ 21 sẽ biến thành thời đại như thế nào? Muốn dự đoán bằng những từ ngữ đơn giản là chuyện khó khăn. Thậm chí có người cực đoan cho rằng nhân loại sẽ diệt vong . Quay nhìn lại mười mấy năm gần đây chúng ta thấy những tiến bộ đáng kể trong khoa học, nhất là kỹ thuật cao cấp; vì vậy, sự thay đổi của diện mạo thời đại thật là chớp nhoáng vạn biến. Từ đây về sau sẽ biến thành thời đại ra sao, thật khó mà tiên đoán.

Tuy nhiên, chúng ta có thể bàn luận về đề tài này bằng hai cách: Thứ nhất là hãy nhận xét sự phát triển của Phật giáo trong sự biến chuyển của gần 100 năm qua của thế kỷ 20; thứ nhì là hãy khảo cứu xem Phật giáo nên như thế nào trong tương lai. Đây là câu hỏi mà những người làm công tác Phật giáo hãy nên thường xuyên đặt ra. Tôi cho rằng để phát triển Phật giáo ở thế kỷ 21 chúng ta phải chú trọng vào hai điểm trên đây. Nói cách khác, ở giai đoạn hiện thời chúng ta phải đặt câu hỏi cho đề tài tương lai như thế nào?

Câu hỏi này chẳng phải lúc nào cũng có cùng một câu trả lời. Thật ra, chúng ta có thể có nhiều câu trả lời, nếu chúng ta thảo luận từ những phương diện khác nhau.

Bởi vì diện mạo của các thời đại đa loại đa dạng, Phật giáo cũng đa loại đa dạng.

Tôi không có ý nói rằng sự thảo luận trừu tượng là chuyện vô nghĩa, nhưng tôi muốn đề nghị sự thảo luận cụ thể. Một mặt, tôi muốn xác nhận ý nghĩa sự hiện hữu của Phật giáo trong xã hội hiện đại; mặt khác, tôi muốn vạch ra một phương hướng thực hành cho các Phật tử làm công tác Phật sự.

Tôi muốn xét xem điều gì là nguyên tắc và chỉ đạo của hành động để xã hội hóa Phật giáo khi bước sang thế kỷ 21. Phật tử ở những quốc gia khác nhau, ở những thời đại khác nhau và thuộc những tông phái khác nhau, hẳn là phải có những ý kiến khác nhau. Do đó, tôi muốn đưa ra một nguyên tắc chung. Tôi tin rằng nguyên tắc chung đó phải là “tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh” (“làm cho đất Phật – tức là thế gian – trở thành thanh tịnh và khiến cho chúng sanh trở thành hoàn hảo, giải thoát, giác ngộ”), và đó cũng là mục tiêu để xã hội hóa Phật giáo trong tương lai.

2.

“Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh,” câu nói quan trọng này nằm trong Đại Phẩm Bát Nhã Kinh, là tiêu điểm của Bồ Tát Đạo. Điều này có nghĩa là sau khi Bồ Tát thành Phật họ sẽ thanh tịnh hóa vùng đất sanh sống (thế gian) và giáo hóa chúng sanh để khiến họ được thành tựu. Trong Duy Ma Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Pháp Hoa Kinh cũng có nói; đương nhiên cũng liên hệ với tư tưởng “tịnh độ” của tông phái Tịnh Độ. Đây là biểu thị tinh thần lợi tha của Phật giáo Đại Thừa. Đem lại lợi ích, giúp đỡ, thành thục, dưỡng dục, cứu hộ chúng sanh có nghĩa là “thành tựu chúng sanh.” Giả sử áp dụng cách đảo ngữ, mang thứ tự câu nói thuận này đảo ngược lại: “Thành tựu chúng sanh, tịnh Phật quốc độ”, trong nhiều kinh sách cũng nói đảo ngược như vậy: Thanh tịnh hóa đất của Phật tức là khiến cho chúng sanh được hoàn hảo, hoặc giúp cho chúng sanh được hoàn hảo cũng chính là thanh tịnh hóa đất của Phật.

Chúng ta nên diễn dịch câu đó như thế nào trong thời hiện đại? Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể coi “tịnh Phật quốc thổ” là phước lợi xã hội, “thành tựu chúng sanh” là giáo dục nhân loại. Vậy thì chủ đề của việc hiện đại hóa Phật giáo tức là giáo dục và phước lợi

Nhưng điều đó không nhất thiết là chỉ hạn định trong Phật giáo. Cho dù nếu không dùng những chữ “giáo dục và phước lợi,” chúng ta có thể nói rằng từ khi có nhân loại đến nay, hoặc ít nhất là từ khi có lịch sử đến nay, giáo dục vá phước lợi là mục tiêu của bị đời sống nhân loại. Kiến thức, nghệ thuật, chánh trị, kinh tế, bảo vệ môi sinh, và kỹ thuật y khoa, cùng với tất cả sinh hoạt khác của nhân loại đều được bao gồm trong giáo dục nhân loại và phước lợi xã hội, cũng tức là thành tựu chúng sanh và tịnh Phật quốc độ. Bất cứ thời đại nào cũng đều lấy thành tựu chúng sanh, tịnh Phật quốc độ làm mục tiêu. Đây chính là phước lợi nhân loại và hoà bình thế giới.

Ai cũng đều biết rằng động cơ, mục đích Đức Phật Thích Ca xuất gia là để giải quyết tứ khổ “sanh, lão, bệnh, tử”. Tứ khổ này, thậm chí ngay cả bát khổ, là những cái khổ của đời sống nhân loại. Giải quyết những cái khổ trong cuộc nhân sinh tức là “thành tựu chúng sanh,” cũng tức là “tịnh Phật quốc độ.” Đây chính là mục đích của Phật giáo. Việc đào sâu thêm tư tưởng này về mặt lý luận tức là tư tưởng siêu hình của Phật giáo. Việc xã hội hóa Phật giáo không dựa trên lý thuyết và tư tưởng siêu hình mà là đặt cơ sở trên đời sống hằng ngày.

Tuy nhiên, để đặt lý tưởng của nó vào thế giới siêu thế tục, hoặc để đặt cơ sở của nó trên sự giác ngộ nội tâm của cá nhân, thì thế giới quan và nhân sinh quan – đã được hệ thống hóa từ nguồn gốc siêu hình của đời sống qua sự siêu việt của thời gian và không gian – đã trở thành cốt tủy của Phật giáo. Nói cách khác, những thứ có tính cách siêu việt và nội tại đã trở thành trung tâm của tư tưởng Phật giáo. Chúng ta có thể nói rằng những thứ có tính cách xã hội đã được lý tưởng hóa. Khi Phật giáo lại được xã hội hóa thì nảy sinh ra ý niệm về sự thanh tịnh hóa Phật quốc độ ( tức thế gian).

Khi chúng ta nói về giáo dục và phước lợi, có vẻ như đó là sự đại cương hóa. Nhưng “tịnh Phật quốc độ” bao hàm toàn bộ tư tưởng Phật giáo. Đương nhiên điều đó cũng có nghĩa là “thành tựu chúng sanh.” Nói cách khác, hệ thống giáo lý được coi là lý tưởng của Phật giáo. Một người trở thành Phật chẳng những người đó đã khai ngộ mà còn đoạn trừ được tất cả đau khổ để đạt được hạnh phúc, ngừng làm điều ác và chỉ làm điều thiện.

3.

Cùng là tôn giáo, nhưng so sánh với Cơ Đốc Giáo, thì việc xã hội hoá Phật giáo tiêu cực hơn; đây là điều thường bị các tín đồ Cơ Đốc giáo chỉ trích.

Như người ta thường nói, Cơ Đốc giáo coi việc thực hành những hành vi đạo đức và xã hội như là thực hành bác ái theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, những hành vi thực hành bác ái trong xã hội được coi là sứ mạng phải thực hiện để được lên thiên đàng. Họ bảo rằng, so với điều này, Phật giáo là “chủ nghĩa xuất thế” từ bỏ đời sống thế tục, và cũng tiêu cực đối với sự tham gia xã hội lịch sử, có nghĩa là phủ nhận thực tại.

Thí dụ, theo Bác Sĩ Albert Schweitzer (1875–1965) thì Phúc âm Chúa Giê–Su là Hãy trở thành tự do đối với thế giới và chính ta để khiến ta sinh hoạt trên thế giới như là động lực của Đức Chúa Trời. Traí lại, Đức Phật khuyên chúng ta hãy trở thành “người dập tắt lửa” lãnh đạm đối với sự vật trên thế gian và sống trong thế giới thuần túy tinh thần.

Ngoài ra, lý tưởng của Phật giáo là phủ định thế giới và nhân sinh, sống trong trạng thái lãnh đạm và vô vi, làm suy yếu công tác xã hội. Mặt khác, điều mà Cơ Đốc giáo hy vọng đạt được là nhiệt tình về luân lý cao nhất, về sự quan tâm đối với tha nhân sinh sống trong thế giới hiện tại, và về chuyện tôn giáo phục vụ nhân loại. Vì vậy, Phật giáo chỉ thích hợp với những người nào muốn xa lánh thế gian và có thể sống trong trạng thái “tự viên mãn” và vô vi. Đối với những người canh tác ngoài ruộng, hoặc làm việc trong các cơ xưởng, Phật giáo chỉ có thể hứa hẹn và an ủi họ rằng trong những kiếp sau họ sẽ có thể đạt tới trạng thái cao hơn của tâm thức và do đó thoát ra khỏi thế gian, nơi đầy dẫy những đau khổ.

Để trả lời cho sự thẩm định Phật giáo như trên đây của Bác Sĩ Albert Schweitzwer, chúng ta có thể hỏi một cách một cách không do dự: Phải chăng Phật giáo chỉ đưa ra 84,000 pháp môn mà thôi? Ông ấy đánh giá những vị hành vi lợi tha của các vị Bồ Tát Phật giáo Đại Thừa như thế nào? Dù sao, sự hiểu biết về Phật giáo của ông ấy tùy thuộc vào sự hiểu biết của những người Cơ Đốc Giáo đi trước mình. Ngày nay (ở Tây Phương) sự khảo cứu về tư tưởng Phật giáo Đại Thừa rất thịnh hành. Cho nên Phật giáo đã được lý giải như là một tôn giáo thích hợp với những người đang sống trong thế giới hiện thực, một tôn giáo thực hành công tác xã hội, thậm chí có thể nói rằng nó là tôn giáo duy nhất có thể chỉ đạo nhân loại trong thế kỷ 21.

Dù sao, nếu nhìn vào những hoạt động của những người làm công tác Phật giáo ngày nay, chúng ta không khỏi phản tỉnh về những lời phê bình rằng Phật giáo thiếu quan tâm tới xã hội và thiếu công tác xã hội; và khi quay nhìn lại lịch sử chúng ta phải công nhận rằng Cơ Đốc giáo thực sự có ưu điểm trên phương diện này.

Tuy rằng siêu việt tánh và nội tại tánh là trung tâm tư tưởng Phật giáo, mặt khác Phật giáo cũng thường được coi như là một khoa học về nhân loại. Chúng ta phải thấu hiểu rằng Phật giáo là khoa nhân loại học để thực hiện Bồ Tát Đạo. Hơn nữa, chúng ta phải thấu hiểu rằng nguyên lý cụ thể của Phật giáo là “tịnh Phật quốc độ và thành tựu chúng sanh.” Chỉ từ khía cạnh này chúng ta mới có thể hiểu được ý nghĩa của Phật giáo như là khoa nhân loại học. Trên phương diện này chúng ta phải học hỏi thêm từ Cơ Đốc giáo.

Dĩ nhiên chúng khỏi cần phải nói rằng Phật giáo đặt căn bản trên sự tự giác nội tâm của cá nhân. Vì nhấn mạnh vào tự giác nội tâm của cá nhân cho nên người ta dễ lầm tưởng rằng trong lịch sử Phật giáo nó là một tôn giáo không quan tâm tới xã hội. Điều gọi là “tự giác nội tâm” chẳng phải là tự giác để khiến cho chính mình siêu việt mà là sự tra tấn nghiêm khắc về vấn đề đạo lý, như ý thức về tội ác, thuyết nhân quả, và coi thuyết nghiệp báo như là một nguyên tắc cho cách cư sử của mình.

Nói cách khác, những giáo lý về tội ác, nghiệp báo v.v…. chẳng phải dùng để phê bình người khác mà là để nghiêm khắc phản tỉnh về bản thân mình để tạo hy vọng cho tương lai. Nếu không hiểu rõ điều trọng yếu cơ bản này mà bàn luận về thuyết nhân quả, về tư tưởng nghiệp báo, hoặc giả thuyết về địa ngục, thì sẽ sai lầm rất lớn. Chúng ta có thể nói rằng việc thực hành đạo Phật là sám hối những hành vi sai lầm của mình.

4.

Nguyên động lực của việc xã hội hóa Phật giáo bắt đầu từ sự phản tỉnh đối với bản thân, rồi từ đó nảy sanh lòng biết ơn đối với tha nhân. Nếu chúng ta thảo luận từ lập trường của Phật giáo Tịnh Độ tông thì có những bước như sau:

  1. Mỗi cá nhân phải ý thức rằng mình sống nhờ sự hỗ trợ của tất cả mọi người khác và tất cả sự vạn vật bên ngoài mình.
  2. Mỗi người phải trân quí đời sống của tất cả tha nhân và sự vạn vật.
  3. Chúng ta phải bảo vệ và giúp đỡ lẫn nhau.
  4. Mỗi người phải luôn luôn sống với niềm vui và niềm hy vọng đối với tương lai

Theo cách này, chúng ta sẽ có thể thực hiện “tịnh Phật quốc độ và thành tựu chúng sanh.” Điều này là tinh túy của giáo dục Phật giáo và phước lợi Phật giáo.

Bài tiểu luận này là sự đóng góp khiêm tốn của tôi vào cuộc hội nghị.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.