(Những giai thoại trong nhà chùa)
Thời Phật còn tại thế, các tỳ-kheo đã vâng lời Phật dạy, đi khắp nơi lưu bố giáo pháp. Sau khi Phật nhập diệt, công cuộc truyền giáo dưới sự chủ trì của vua A-dục, Phật giáo lan rộng khắp Châu Á và xa hơn nữa, phát triển thành nhiều truyền thống khác nhau, với các phương pháp thực hành và cách diễn giải khác nhau. Việc thờ cúng Phật giáo, mặc dù khác nhau giữa các truyền thống, nhưng nhìn chung bao gồm các nghi lễ, lễ vật và lòng sùng kính đức Phật, Bồ-tát và Tam bảo: Phật, Pháp và Tăng. Trong đó việc thờ cúng “Pháp” là một nét đẹp, mật ý việc làm này nhắc nhở những người con Phật luôn nuôi dưỡng trí tuệ, lòng từ bi và sự giải thoát khổ đau như giáo pháp Phật dạy.
Tuy vậy, việc thờ cúng ấy phải đi đôi với thực hành và cần đọc, nghiền ngẫm, xem thư tịch huyền vi ấy giảng giải điều chi? Lịch sử quá khứ đã trôi qua, lịch sử cận đại đã thay đổi, lâu dần, kinh điển theo tháng năm trở thành “trơ lì”, “sinh lờn” trong con mắt của người phụng thờ, bởi thiếu sự tri hành hợp nhất, cũng như thiếu kiến thức, không hiểu kinh sách nói gì trong đó. Dẫn đến một tín hiệu “hình thức truyền thống suy thoái”, để lại ấn tượng vài giai thoại buồn trong nhà chùa.
Năm 1997, Ni viện Diệu Quang Nha Trang, Khánh Hòa, có một bộ Đại tạng gọi là tạng Tích sa (磧砂藏) được khắc vào thời nhà Tống (Nam Tống Lý Tông 理宗), in trên giấy dó. Ni chúng ở đây biết chùa Long Sơn là trung tâm dịch thuật Đại tạng kinh, họ thưa với Hòa thượng Đỗng Minh muốn cúng cho Ban dịch thuật. Hòa thượng và tôi đến Ni viện nhận về. Hai thầy trò vô cùng vui mừng. Mừng nhất là Hòa thượng Đỗng Minh. Hòa thượng giao cho tôi cất vào thư viện, khi dịch sẽ đối chiếu với tạng Đại chánh. Năm 2005, Hòa thượng Đỗng Minh viên tịch, tôi cũng không quản thủ thư viện nữa. Cách đây một tuần, trung tâm dịch thuật Hán Nôm ở Sài Gòn, liên lạc với tôi hỏi về bộ Đại tạng cổ này. Tôi nói, ra Nha Trang tìm ở thư viện. Họ đến tận thư viện tìm kiếm, thấy còn một ít để trong hai thùng giấy nhỏ, mất 43 quyển. Họ báo lại với tôi như thế. Từ khi tôi trả thư viện tính đến nay hơn 20 năm…, nghe chuyện thoáng chạnh lòng, ngọc Minh châu mà ở trong tay người làm nông thì đành chịu. Đó là giai thoại thứ nhất.
Khoảng từ năm 1996 đến 1997, Hòa thượng Đỗng Minh mở một lớp đào tạo phiên dịch trong vòng 9 tháng. Chương trình giảng dạy, học dịch, viết văn v.v… Có mời một vị tiến sĩ Hán Nôm, dạy môn Văn thơ Lý-Trần. Thời ấy, bộ “Phật quang đại từ điển” Hán-Hán được Ban phiên dịch dùng làm tư liệu tra khảo là chính. Vị tiến sĩ Hán Nôm kia, thưa với Hòa thượng, muốn mượn về tra cứu để dạy cho Tăng, Ni phiên dịch. Ban phiên dịch có 2, 3 bộ, cho vị ấy mượn 1 bộ không vấn đề gì. Sau một thời gian dài, cũng kết thúc chương trình đào tạo. Hòa thượng Đỗng Minh dạy tôi, đến nhà vị tiến sĩ xin phép lấy lại bộ từ điển. Lúc tôi đến nhà hỏi, thì vị tiến sĩ mới sực nhớ đến bộ sách, vội đến kệ sách lấy ra. Hỡi ôi! Mối mọt làm ổ trong bộ từ điển 7 quyển, quyển nào chúng cũng “đánh chén” hả hê. Đây là giai thoại thứ hai.
Chùa Pháp Bảo, quận Thủ đức, Sài Gòn, Hòa thượng Tịnh Hạnh trụ trì. Nơi đây cũng là trung tâm hiệu đính kinh tạng. Năm 1992, Hòa thượng Tịnh Hạnh, đứng ra tổ chức, đài thọ mọi chi phí, cho các dịch giả, dịch từ tạng Đại chánh tiếng Hán sang Việt ngữ. Tại Nha Trang, nhận trách nhiệm dịch Kinh, Luật. Dịch đến năm 2001 là xong. Có một lần, tôi không nhớ rõ năm nào, trong giai đoạn Ban phiên dịch Nha Trang còn cộng tác với Hòa thượng Tịnh Hạnh; tôi đến chùa Pháp Bảo thăm thầy Bảo Quang, thầy đang công tác hiệu đính tại đây. Hôm ấy, tôi thấy sân sau chùa, chất một đống kinh sách đủ loại, chuẩn bị “trà-tì” chúng. Có rất nhiều sách quý bị mọt ăn, như bộ tùng thư của Lữ Trưng, Thành duy thức luận do Wei Tat (Vi Đạt 韋達) chuyển ngữ sang Anh từ bản Hán của ngài Huyền Trang: The Doctrine of Mere-consciousness (成唯識論 Ch’eng Wei-Shih Lun). Bản này ấn hành vào năm 1973. Tôi cầm bản Thành duy thức luận lên xem, thấy có thể cứu vãn được, xin đem về, đem đến chỗ sửa chữa sách, cắt phần xung quanh bị mọt ăn, giữ lại nội dung khá tốt. Bản này rất giá trị, trong khi thầy Tuệ Sỹ chỉ có bản photocopy. Giai thoại thứ ba là như thế.
Ngôi chùa nọ ở Sài Gòn, to lớn vĩ đại, là nơi hội tụ nhiều kinh sách quý hiếm. Năm 2011, tôi đến đây thăm chơi, thấy nhà chùa đang lựa những sách giáo lý chữ Hán mang tư tưởng Tịnh độ thì giữ lại. Còn lại cho đi, họ cho các bộ giá trị như Diệu vân tập, Hoa vũ tập v.v… của Ấn Thuận. Những bộ này tôi đã có, tôi chỉ xin một quyển “A History of Indian Buddhism” của Hirakawa Akira. Tác phẩm này hiện nay Phật học viện ở Singapore dùng làm tư liệu chính để giảng dạy cho sinh viên Tăng. Đó là giai thoại thứ tư.
Còn nhiều giai thoại nữa, tôi không thể kể hết được. Viết chỉ muốn chia sẻ nỗi lòng với các Phật tử mà hiện nay, chưa sở hữu được bộ Đại tạng Thanh văn do Ân sư tôi – Thích Tuệ Sỹ dịch thuật. Nhiều người tìm kiếm khổ nhọc, thở than: Dù có tiền mua cũng không ra.
Đại tạng Thanh văn vừa qua đã in đợt thứ nhất, Kinh: 4 bộ A-hàm, Luật: Tứ phần luật, Luận: Câu-xá, Duy thức… Nếu vị nào không mua được trọn bộ Đại tạng thì có thể mua lẻ ở các nhà sách với kinh, luật, luận tôi đã nêu. Không gì phải ưu tư, hờn tủi.
Nên nhớ, có sở hữu được nó cũng phải đọc và chiêm nghiệm. Tham có Đại tạng mà không hiểu, đem về trưng trong tủ kính thì vô nghĩa. Như trong luận Câu-xá nói đến hai loại pháp Hư không hữu vi và vô vi:
Hư không hữu vi thuộc sắc pháp, tức thuộc vật chất vì có thể bị hủy. Khoảng trống giữa hai điểm là một không gian thường nghiệm; khi có một vật thể khác chen vào giữa, không gian này bị hủy. Không gian thường nghiệm có thể được tạo ra bằng cách phá hủy hay dịch chuyển một vật thể ra khỏi vị trí của nó. Vật thể không thể di chuyển trong không gian này. Vì nơi mà vật thể xuất hiện thì không gian bị hủy; nơi đó nếu vật thể biến mất, không gian được tác thành. Vì có sinh, có diệt, được tạo tác và bị hủy, có thể uốn cong, có thể co giãn, không gian này được định nghĩa là hữu vi.
Ví dụ, hiện tại có cửa sổ bị đóng, thành ra khoảng không gian này bị cánh cửa sổ cắt đôi, trở thành Hư không hữu vi. Khi đập hay mở cửa sổ ra, có cả hai thứ trong đó: Hư không vô vi và hữu vi. Tuy nhiên người giác ngộ mới nhận thức được hư không siêu nghiệm: “Hư không vô vi”.
Hư không vô vi, hay không gian siêu nghiệm, là bản thể mà trong đó các nguyên tố vật chất di chuyển. Hư không vô vi, tồn tại nhưng không thể được nhận thức bằng bất cứ quan năng nhận thức thường nghiệm nào. Nó tồn tại, không sinh không diệt. Không gian siêu nghiệm này có khi gọi là Hư không giới. Hư không giới này là Niết-bàn giới.
Nói chừng ấy, để mọi người nghiệm lại, trưng sách hay đọc sách; nên thờ kinh hay đọc kinh.
Hoàng Đình Kiên (黃庭堅) thời Tống nói: “Ba ngày mà không đọc sách, cảm giác nói năng vô vị, nhìn mặt (mình) đáng ghét” (三日不讀書,便覺言語無味,面目可憎).
Tâm Nhãn

