Nói đến Duy thức Du-già hành tông thì ai cũng biết Thế Thân và anh trai ngài là Vô Trước là những người khai sáng tông phái này. Nhưng Thế Thân vẫn là người phát triển tư tưởng Duy thức cho đến về sau.
Lịch sử ký tải, Thế Thân sinh ra đúng thời kỳ vương triều Gupta từ hưng thịnh chuyển sang suy tàn, và khi Bà-la-môn giáo không còn được những người cai trị tôn kính như trước nữa thì Phật giáo bắt đầu được phục hưng, hồi sinh. Và anh trai của Thế Thân, Vô Trước đã hoằng dương giáo lý Đại thừa tại Ayodhyā (nơi vương triều Gupta cai trị), một trong những vùng đầu tiên mà Phật giáo Đại thừa phát triển mạnh mẽ. Truyền thuyết kể rằng việc Thế Thân cải sang Phật giáo Đại thừa bắt đầu khi ông đến thăm anh trai mình ở Ayodhyā. Do đó, bối cảnh thời cuộc lịch sử và môi trường địa lý nơi Thế Thân sinh ra và lớn lên chính là những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của Phật giáo Đại thừa.
Tinh hoa tư tưởng của Thế Thân đều tập thành trong các bộ luận: Câu-xá luận, Duy thức tam thập luận tụng, Đại thừa Thành nghiệp luận v.v. Đặc biệt là học thuyết Duy thức. Khoảng năm 450 Tl., Thế Thân cô đọng giáo nghĩa Duy thức trong 30 bài thơ (thi tụng), gọi là Duy thức tam thập luận tụng (唯識三十論頌), chỉ mới viết xong phần thơ, chưa kịp viết văn trường hàng giải thích thì ngài thị tịch. Năm 557 Tl., Hộ Pháp và các vị luận sư Duy thức, chú giải Duy thức tam thập luận tụng thành 100 quyển.
Niên hiệu Hiển khánh thứ 4, Đường Cao tông (năm 659), Huyền Trang bắt tay dịch bộ luận này, lấy quan điểm của Hộ Pháp làm chính, dịch chung với tư tưởng các Luận sư khác, tập hợp thành bộ “Thành duy thức luận”. Theo chính tường thuật của Khuy Cơ trong Chương trung xu yếu, lúc khởi sự Huyền Trang chủ trương dịch tất cả mười bản sớ giải ấy, giao cho bốn vị đệ tử là Thần Phương, Gia Thượng, Phổ Quang, và Khuy Cơ nhuận sức và bút thọ. Sau vài hôm, Khuy Cơ xin rút lui. Huyền Trang vặn hỏi lý do, Khuy Cơ cho rằng toàn bộ quá dài không thể nắm hết ý nghĩa, đề nghị rút gọn lại thành một bộ. Huyền Trang đồng ý, bèn tóm thâu ý nghĩa của mười bản luận giải thành một, chia làm mười quyển.
Tại Việt Nam nói riêng, người duy nhất kế thừa tư tưởng Thế Thân cũng như dịch thuật những bộ luận nói trên chính là thầy Tuệ Sỹ. Giáo lý Đại thừa mà Thế Thân xiển dương sau này chính là giáo lý Duy Thức. Ở Việt Nam, Duy thức tông hình thành thế nào?
Phật giáo truyền vào Việt Nam khả năng thời Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II, III trước Tl., với dấu chân hoằng pháp của các nhà sư, tất nhiên họ luôn đại diện cho một tông phái nhất định nào đó. Những tông phái định hình rõ nhất là Thiền tông kể từ thời Khương Tăng Hội năm 220 Tl., tiếp đến tông Tịnh độ hưng thịnh thời Đàm Hoằng, sư đến tu tại một ngôi chùa ở núi Lạn Kha, Bắc Ninh khoảng năm 425 Tl. Tuy nhiên trước đó, giả thuyết dè dặt được chứng minh có thể là các vị Luật sư đại diện cho Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đàm-vô-đức bộ cũng đến Việt Nam bắt đầu từ nhà sư Phật Quang, tiếp nối đến Khương Tăng Hội và truyền thừa mãi về sau. Riêng đối với tông Pháp tướng (Duy thức), không có nhiều cơ sở dữ liệu để chúng ta tìm kiếm dấu vết truyền thừa trên quê hương Việt Nam. May sao, bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Giáo sư Lê Mạnh Thát biên soạn, là nguồn tài liệu duy nhất giúp chúng ta lần tìm được nguồn cội của tông phái này. Lê Mạnh Thát cung cấp cho chúng ta một nhân vật đặc biệt là nhà sư Đại Thừa Đăng, tên tiếng Phạn là Mahāyānapradvīpa.
Sư Đại Thừa Đăng sống tại châu Ái (Thanh Hóa) vùng Cửu Chân của Hoàng đế Lê Ngọc, vào khoảng giữa những năm 620-682 Tl. Lúc nhỏ sư theo cha mẹ đến Dvarapatī, cố đô Ayutthaya của Thái Lan ngày nay, xuất gia tại một ngôi chùa của cộng đồng người Việt. Rồi sư đến Trung Hoa, thọ đại giới tại chùa Từ Ân với Tam tạng pháp sư Huyền Trang và làm việc với Huyền Trang 15 năm, cho đến khi Huyền Trang mất vào ngày 5 tháng 2 năm Giáp tý, niên hiệu Lân đức thứ hai (644).
Đại Thừa Đăng có trước tác, Câu-xá luận ký, Duy thức chỉ nguyên, Đại thừa bách pháp minh môn luận ký v.v… Khoảng năm 664, Đại Thừa Đăng rời Trường An, đi chiêm bái Phật tích, khả năng ghé Việt Nam cùng giáo đoàn Tăng-già-bạt-ma (Saṃghavarman). Không rõ ông lưu lại Việt Nam bao lâu? Mặc dầu học thuyết Du-già hành hay gọi Duy thức tông mà ông học từ Huyền Trang, không thấy lịch sử ghi chép truyền lại cho ai ở Việt Nam, nhưng theo chúng tôi đoán định, tư tưởng học thuyết của ông chắc chắn có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ về sau, cho đến cận đại. Cuối đời, Đại Thừa Đăng viên tịch tại chùa Niết-bàn ở thành Câu-thi-na, tức Kasia ngày nay.
Có lẽ tư tưởng của Đại Thừa Đăng được tiếp nối bắt đầu từ thời Lý Cao Tông (1173-1210), giữa thế kỷ thứ XII, có thiền sư Thường Chiếu (常照, ? – 1203) thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông. Sư người làng Phù Ninh, họ Phạm, triều Lý Cao Tông, làm quan Lệnh đô tào ở cung Quảng từ. Sau từ quan, đi học pháp xuất thế với thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh quả. Sau dời sang chùa Lục tổ. Sư tịch vào ngày 24 tháng 9 năm Thiên Gia Bảo Hựu thứ 2 (1203). Lúc sư thị tịch có để lại bài kệ:
Tại thế vinh nhân thân
Tâm vi Như Lai tạng
Chiếu diệu thả vô phương
Tầm chi cánh tuyệt khoáng.
(Tại thế làm thân người
Tâm là tạng Như Lai
Chiếu ngời khắp mọi cõi
Vắng bóng lúc tìm tòi).
Như Lai tạng mà Thường Chiếu nói chính là Viên thành thật tính trong học thuyết Duy thức. Thiền sư Thường Chiếu có ba người học trò nổi bật, là Hiện Quang, Thần Nghi và Thông Thiền. Ngoài ba vị này, còn nhiều người khác nữa. Theo lịch sử ký tải, họ đều là những thiền sư cư sĩ, hành đạo, nhập thế, có trách nhiệm với quốc gia. Điều này cho phép chúng ta suy đoán, tư tưởng Thiền, Tịnh độ, Duy thức chắc chắn được các thiền sư đó áp dụng nhịp nhàng đưa vào nhân gian với nhiều hình thức, hành đạo, giáo dục, giảng dạy. Sử liệu chỉ cho chúng ta hiểu biết chừng đó.
Về sau, đến thời cận đại, một số tài liệu cho rằng, Phật giáo Việt Nam kế thừa từ các nhà Phật học Trung Hoa mang học phong Duy thức hoằng pháp như Thái Hư đại sư, giai đoạn thế kỷ XIX, XX.
Thái Hư đại sư (1889-1947), tên đời là Lữ Cam Sâm, pháp danh Duy Tâm, pháp tự là Thái Hư. Người huyện Sùng Đức, tỉnh Triết Giang, Trung Hoa.
Tháng 5, năm 1904, Thái Hư xuất gia ở chùa Tiểu cửu hoa, sau đó thọ giới với Pháp sư Ký Thiền. Ngài học kinh Pháp hoa, Lăng-nghiêm, nghiên cứu Thiền, thấu triệt Bát-nhã. Sau khi theo học tại Học đường “Tinh xá Kỳ-hoàn” của Dương Nhân Sơn, ông gặp Âu Dương Tiệm, Mai Quang Hy, được truyền cảm hứng từ những tư tưởng của thời đại, ông chủ trương xóa bỏ những tiêu cực tích tụ trong Phật giáo, tổ chức lại quy tắc nếp sống sinh hoạt của Tăng-già. Thái Hư cách mạng thiết lập về giáo lý (教理), chế độ tôn giáo (教制giáo chế) và quyền sở hữu tôn giáo (教產 giáo sản). Dù nghiên cứu nhiều kinh, luận, nhưng Thái Hư vẫn chủ trương giáo nghĩa hai tông: Duy thức và Tam luận.
Mùa xuân năm Canh Thìn 1940, một phái đoàn Tăng sĩ Trung Hoa sang thăm Việt Nam, trong đó có hai Pháp sư Thái Hư và Đế Nhàn. Với Pháp sư Thái Hư, tuy đây là lần đầu tiên tới Việt Nam, nhưng pháp danh của ông rất quen thuộc đối với Phật giáo Việt Nam trong mấy chục năm trước đó. Trong lúc phái đoàn nghỉ tại một lữ quán, có cư sĩ Văn Quang Thùy tìm đến cầu pháp tu thiền với Thái Hư. Pháp sư liền nói:
“Tôi thấy Việt Nam toàn tu Tịnh độ, cư sĩ nên vâng theo”.
Thái Hư trao giới Bồ-tát cho Thùy, ban pháp danh là Tuệ Nhuận và tặng một mảnh giấy với lời thơ có ý nghĩa giải thích pháp danh mà ông đặt cho:
“Nhập Như Lai tạng
Văn tự Quang minh Thùy vũ trụ.
Phật ngôn Tuệ trạch Nhuận sinh linh.
Thời tại Canh thìn niên xuân
Tam nguyệt nhị thập lục nhật.
Lữ Hà Nội – Thái Hư.
Nói về cư sĩ Tuệ Nhuận – Văn Quang Thùy (1887-1967).
Cư sĩ Văn Quang Thùy sinh ngày 17 tháng 3 năm Đinh hợi (1887). Ông giỏi tiếng Hán, tiếng Pháp, thi đỗ làm Thông phán tại Nha quan thuế Hà Nội.
Năm 1928, cụ thân sinh mất, ông ngộ lý vô thường, bắt đầu tìm hiểu về Phật giáo rồi trở thành một Phật tử. Thọ giới Bồ-tát với Thái Hư. Kể từ năm 1935, dành trọn thời gian phụng sự Tam bảo và dịch kinh sách từ chữ Hán sang tiếng Việt, như kinh A-di-đà, Dược sư v.v… Về sau Tuệ Nhuận cùng với các bạn đồng chí hướng xuất bản tờ bán nguyệt san Bồ-đề, phổ biến Phật học từ năm 1949 đến năm 1954. Trên các trang báo này, ông đích thân phiên dịch, chú giải luận Duy thức tam thập tụng, Thập mục ngưu đồ v.v. Duy thức tam thập tụng, bản dịch xuất bản 1949, với tên “Duy thức – Vạn pháp duy thức”.
Sau hiệp định Genève 1954, cư sĩ Tuệ Nhuận – Văn Quang Thùy vào miền Nam, xin xuất gia làm đệ tử Hòa thượng Thích Thiện Hòa. Từ đó ông lấy việc chuyên tu làm chính. Ông mất năm Đinh mùi 1967 tại Sài Gòn, hưởng thọ 80 tuổi.
Theo chúng tôi, Tuệ Nhuận – Văn Quang Thùy không hẳn là người kế thừa Duy thức từ Thái Hư. Bởi vì chính Thái Hư công nhận Việt Nam lúc bấy giờ là hưng thịnh pháp tu Tịnh độ và khuyên Thùy nên tiếp tục theo giáo lý này. Do vậy, từ đây cho phép chúng ta đoán định:
Phật giáo Việt Nam kể từ thời Khương Tăng Hội trở về sau, tư tưởng Thiền, Tịnh, Duy thức, Luật tông luôn được tiếp nối, cho dù dấu vết thầy truyền trò, hay hệ thống tông phái không rõ ràng, đứt đoạn, thì tư tưởng cũng như học thuyết Duy thức vẫn được truyền đạt, dạy dỗ. Và giáo lý Duy thức ảnh hưởng chính từ Đại Thừa Đăng. Nó đã mặc định trở thành phương thức sống trong sinh hoạt xã hội Việt Nam từ lâu đời. Nếu có ảnh hưởng từ phía phong trào chấn hưng của Thái Hư hay từ Trung Hoa thì chỉ một phần nào đó thôi. Văn Quang Thùy chỉ là một trong số “Thiền sư cư sĩ” tiếp tục kết nối tư tưởng của các Thiền sư Việt Nam trước đó.
Tư tưởng này tiếp tục tiếp nối trước hết phải kể đến Hòa Thượng Huyền Cơ, sau khi du học ở Trung Hoa, ngài đã mở trường dạy Duy thức học tại chùa Hưng Ký – Hà Nội. Tiếp theo có Hòa thượng Thích Trí Độ (1894-1979) dịch Bách pháp minh môn luận, Bát thức quy củ tụng v.v. Hòa thượng Thiện Hoa dịch Đại thừa bá pháp minh môn luận. Hòa Thượng Khánh Anh, Thuyền Ấn dịch Duy thức tam thập tụng v.v… . Số Phật tử cư sĩ thì có Lê Đình Thám (1897-1969) là bác sĩ, người sáng lập Gia đình Phật tử Việt Nam. Ông dịch Bát thức quy củ tụng, Đại thừa khởi tín luận v.v…
Nói chung, thời cận đại, tư tưởng truyền bá Duy thức với phong trào dịch thuật và giảng dạy do các vị Trưởng lão hòa thượng cũng như cư sĩ Phật giáo đóng góp rất nhiều, nhưng dấu ấn đại biểu cho sự truyền thừa tông phái cần nói đến là “thầy truyền trò” và tác phẩm “Thành duy thức luận”. Tác phẩm này là cơ sở luận lý quan trọng mà tông Duy thức từ thời Huyền Trang cho đến sau này, dù tông phái được truyền thừa bất cứ nơi đâu đều phải y cứ. Trong giai đoạn về sau tại Việt Nam, chỉ có hai vị Tôn trưởng dịch nó, là Hòa thượng Thiện Siêu và thầy Tuệ Sỹ.
Hòa thượng Thiện Siêu dịch Thành duy thức luận vào mùa An cư Pl. 2539 – 1995. Bản dịch này, Hòa thượng dịch sát nghĩa Hán văn, không có lời chú giải. Có thể đây là lý do mà thầy Tuệ Sỹ đã dịch lại. Khi thầy dịch, thầy đối chiếu nhiều bản, bản chính là Thành duy thức luận thuật ký của Khuy Cơ. Và so sánh thêm Phạn bản của An Huệ v.v. Vì thế mà bản dịch Thành duy thức luận của thầy Tuệ Sỹ trở thành định bản, có giá trị nghiên cứu Hàn lâm. Cách làm của thầy với mục đích xếp vào “Đại tạng Thanh văn” mà thầy dự tính hoàn thành khi đặt bút phiên dịch.
Năm 2004, thầy Tuệ Sỹ tổ chức lớp học đạo tào tại Quảng Hương Già-lam (Sài Gòn), truyền đạt tư tưởng, học thuyết, cơ sở nghiên cứu lấy Thành duy thức luận làm chuẩn; có chúng môn sinh theo học, ghi chép, tương tự “mô hình” làm việc trong trường dịch thời Huyền Trang – thầy truyền trò. Dòng truyền thừa này xem như lịch sử ghi nhận, mạng mạch được tiếp nối. Trong phong trào phục hưng, kể từ sau năm 1998, chúng ta thấy chỉ có một mình thầy Tuệ Sỹ làm cả Đại tạng Thanh văn, truyền bá tư tưởng tông phái, không thể nói “một con chim én không làm nên mùa xuân”. Cho nên, chúng ta cứ hy vọng, nếu có một con “chim én” khác xuất hiện, là tín hiệu báo tin một mùa xuân rộn rã đang đến với chúng ta. Mạng mạch tiếp tục “truyền đăng tục diệm”.
Tâm Nhãn
Tài liệu tham chiếu:
- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam 1, 2024, tr. 33.
- Cf. Lê Mạnh Thát, ibid., tr. 667;
- Tâm Nhãn, Lịch sử Luật tông – dấu vết dòng truyền thừa từ đất Ấn đến Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2025.
- Cf. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam 2, 2024, tr. 183, 207, 223, 230.
- Cf. Lê Mạnh Thát, ibid., 3, 2024, tr. 616-619, 621, 631.
- 佛光大辭典, p. 1373.
- https://chuaxaloi.vn/…/cu-si-tue-nhuan-van-quang-thuy….
- http://chuamaisonvinhan.org/tong-quan-lich-su-truyen…/

