Close Menu
Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest YouTube
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc
    Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    • PHẬT HỌC
      • Đức Phật
        • Thánh đản
        • Thành đạo
      • Phật học phổ thông
      • Nghiên cứu
      • Giảng luận
      • Pháp thoại
      • Ứng dụng
      • Trích dẫn Phật pháp
    • KINH – LUẬT – LUẬN
      • Kinh
        • Giới thiệu kinh
        • Giảng giải
      • Luật
        • Luật học
      • Luận
      • Kim Cang thừa
    • PHẬT GIÁO VIỆT NAM
      • Lịch sử
      • Nhân vật
        • Chư Tôn đức
        • Cư sĩ hữu công
        • Tiểu sử
      • Sự kiện
      • Tưởng niệm
    • CHUYÊN ĐỀ
      • Dân tộc
      • Giáo dục
      • Khoa học
      • Xã hội
      • Triết học
      • Biên khảo
      • Phật giáo thế giới
      • Nhìn ra thế giới
      • Chuyên mục khác
    • TUỔI TRẺ
      • Đời sống
      • Hành trang
      • Gia đình Phật tử
    • VĂN HÓA
      • Xuân Vạn Hạnh
      • Quán Thế Âm
      • Kiết hạ
      • Vu Lan
      • Nghi lễ – Phong tục
      • Mỹ thuật – Kiến trúc
      • Âm nhạc
    • VĂN HỌC
      • Văn
      • Thơ
      • Truyện
      • Tùy bút
      • Phê bình
      • Giới thiệu – Điểm sách
    • PHẬT SỰ
      • Tin tức
    • THƯ VIỆN
      • Báo chí
        • Kỷ yếu
        • Tạp chí
        • Tập san
      • Sách
      • Tham luận
      • Luận văn
      • Tư liệu
      • Media
        • Audio – MP3
        • Video Clips
      • Hình ảnh
    • NGOẠI VĂN
      • General Buddhist Studies
      • Buddhism with Youth
      • Buddhist Education
      • Buddhist History
      • Buddhist Culture
      • Buddhist Literature
      • Buddhist Sociology
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Trang chủ » Thích Nguyên Sĩ: Tư tưởng Duy Tâm trong kinh Lăng-già

    Thích Nguyên Sĩ: Tư tưởng Duy Tâm trong kinh Lăng-già

    09/05/202415 Mins Read
    zen stones garden meditation with dark background ai generative 123827 24269
    Share
    Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

    1. DẪN NHẬP

    Kinh Lăng-già tên gọi đầy đủ là Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già, cuối chương १० सगाथकम्। (10-sagāthakam), biên tập bởi Nanjō Bunyū 南條文雄 (laṅkāvatāra sūtra, kyoto, 1923) được ghi chép như sau:

    Nanjō. 375:
    इत्यार्यसद्धर्मलङ्कावतारो नाम महायानसूत्रं सगाथकं समाप्तमिति॥
    ityāryasaddharmalaṅkāvatāro nāma mahāyānasūtraṃ sagāthakaṃ samāptamiti ||

    (Kết thúc chương chỉnh cú của bản kinh đại thừa tên là Thể nhập chánh pháp Lankā)[1].

    Tư tưởng cốt lõi của Kinh Lăng-già chính là đạo lý duy tâm (cittamātra), toàn bộ nội dung của bản kinh tập trung vào việc giải thích ý nghĩa của tâm và duy tâm, đồng thời trình bày, phê phán mọi vấn đề của Phật giáo và ngoài Phật giáo dưới ánh sáng của tư tưởng này. Kinh vận dụng nguyên lý duyên khởi để xem xét các vấn đề trong cuộc sống của thế gian và xuất thế gian, qua hệ thống nhận thức gọi là tâm-ý-thức (cittamanovijñāna). Đây là giáo lý căn bản của trường phái Du-già (yogācāravāda) thể hiện qua năm yếu tố của nhận thức gồm danh (nāma), tướng (nimitta), biến kế (saṃkalpa), chánh trí (samyajjñāna) và chân như (tathatā).

    Kinh Lăng-già một mặt xác định vai trò của nhận thức trong việc hiển thị thông tin về đời sống con người, cũng như duy trì và tiếp diễn dòng tương tục của đời sống ấy qua những hoạt động của nó. Mặt khác, kinh cũng cho thấy khả năng tích cực của nhận thức trong việc tự chuyển hóa mình, tùy thuận với chân như, tức tánh viễn ly danh tướng do nó biểu hiện, bản chất tuyệt đối của mọi pháp duyên khởi, để thể hiện đời sống giải thoát, đem lại an lạc vĩnh viễn, lợi ích thánh thiện cho mình và người.

    Giáo lý về Duy tâm đúng ra sẽ có hai nội dung chính gồm: tâm là gì và duy tâm là thế nào. Trong phần tâm là gì, sẽ gồm chức năng vận hành, trạng thái vận hành và lãnh vực vận hành của tám thức. Tuy nhiên vì giới hạn cho phép, vì thế người viết chỉ khảo sát vào ý nghĩa về duy tâm (cittamātra). Ý nghĩa về duy tâm có hai phương diện là phương diện thường nghiệm và phương diện siêu nghiệm.

    2.1. PHƯƠNG DIỆN THƯỜNG NGHIỆM

    Tâm là một hệ thống phản ảnh thông tin về mọi sự vật tiếp nhận, mà nó còn sử dụng thông tin ấy để tái hiện hình ảnh của sự vật qua nguyên lý duyên sinh. Những gì biểu hiện ở trong tâm đó là danh (nāma) và tướng (nimitta), khi y tha khởi (paratantra-svabhāva) hoạt động cho ra ấn tượng về sự vật; vikalpa hoạt động, tâm dấy lên danh và tướng; bộ ba gồm căn-trần-thức (trisamgati) tạo ra xúc (sparśa) và nó sẽ phát sanh ra nhận thức (tưởng) cùng với tâm lý (thọ) của con người, tức là tướng được kí hiệu bằng một tên gọi (danh). Cấu trúc nhận thức (vikalpa) cho chúng ta biết danh, tướng và sự vật; danh và tướng đó do hệ thống căn-cảnh-thức biểu hiện ra, chính chúng không phải là sự vật.

    Vì vậy, những gì được chúng ta gọi là nhận biết chỉ là thông tin biểu hiện ở trong tâm, hệ thống nhận thức này là sự tập hợp của duyên khởi được biểu hiện ra bằng hai tướng gọi là sở tướng (lakṣya-tướng phần) và năng tướng (lakṣaṇa/vikalpa-kiến phần). Trong đó, những gì được nhận biết gọi là sở tướng và chủ thể nhận biết đối tượng là năng tướng. Ấn tượng về hai phần này chỉ cho đối tượng và chủ thể nhận thức còn riêng về sự vật thì bản thân nó không có hai phần này.

    Đức Phật xác định rằng, kiến thức về tồn tại không phải chính bản thân nó tồn tại, tất cả những gì con người nhận biết về tồn tại như một hiện hữu cá biệt (svabhāva) cùng hình tướng và tính chất của nó (lakṣaṇa), chúng chỉ là những ấn tượng tồn tại ảnh hiện trong hệ thống nhận thức, đó là những kiến thức đều do tự tâm biểu hiện. Như vậy, về mặt nhận thức, những gì con người ghi nhận về mọi sự vật, chúng chỉ là những thông tin kiến thức về các sự vật ấy, chứ không phải chính bản thân sự vật. Lăng-già xác định ý nghĩa này qua định cú svacittadṛṣyamātrāḥ sarvadharmāḥ (mọi pháp chỉ là cái được tự tâm biểu hiện) và nó chỉ là tâm.

    N.62:
    svacittadṛśyagocarānabhijñā bāhyacittadṛśyagocarābhiniviṣṭāḥ | te saṃsāragaticakre punar mahāmate caṃkramyante || punar aparaṃ mahāmate anutpannān sarvadharmānatītānāgatapratyutpannās tathāgatā bhāṣante | tat kasya hetoḥ? yaduta svacittadṛśyabhāvābhāvāt sadasator utpattivirahitatvān mahāmate anutpannāḥ sarvabhāvāḥ

    “Tham đắm cái ngoại cảnh mà vốn là cảnh giới hiện trong tự tâm, này Đại Huệ! họ lại lăn lóc trong vòng quay của những lối mòn sanh tử. Tham đắm cái ngoại cảnh mà vốn là cảnh giới hiện trong tự tâm. Này Đại Huệ! họ lại lăn lóc trong vòng quay của những lối mòn sanh tử. Lại nữa, Đại Huệ! Chư vị Như lai trong quá khứ hiện tại và vị lai đều nói hết thảy mọi pháp là vô sanh. Tại sao? này Đại Huệ, đó là vì, không có một thể tồn tại nào của những cái do tự tâm biểu hiện, không có một sự phát sinh nào từ có hoặc không, nên hết thảy mọi pháp đều vô sanh”[2].

    N.112:
    kṛdṛṣṭilakṣaṇapatitāśayānāṃsvacittadṛśyamātrānavadhāriṇāṃ hetupratyayakriyotpattilakṣaṇābhiniviṣṭhānāṃ nivāraṇārthaṃ māyāsvapnasvabhāvalakṣaṇān sarvadharmān deśayāmi| ete bālapṛthagjanāḥ kudṛṣṭilakṣaṇāśayābhiniviṣṭā ātmānaṃ paraṃ ca sarvadharmā yathābhūtāvasthānadarśanādvisaṃvādayiṣyanti | tatra yathābhūtāvasthānadarśanaṃ mahāmate sarvadharmāṇāṃ yaduta svacittadṛśyamātrāvatāraḥ

    “Có tâm trí bị đọa lạc trong các hình thức ác kiến, không hiểu chúng chỉ là những sở kiến hiện trong tự tâm, mà chỉ cho họ thấy hình tướng tự tính của hết thảy các pháp đều như huyễn mộng, để họ xa lìa những hình tướng tự tính của sự vật, ngăn chặn họ tham đắm các hình tướng hoạt động và sanh khởi của nhân duyên. Những kẻ phàm phu này một khi tâm trí tham đắm thiết kế các hình tướng bằng ác kiến, họ sẽ vì không thấy được trạng thái chân thật của hết thảy các pháp mà tự lừa dối mình và ngưới khác. Ở đây, này Đại Huệ! Thấy được trạng thái chân thật của hết thảy các pháp tức là hiểu rằng chúng chỉ là những sở kiến hiện trong tự tâm”[3].

    Tham chiếu Triṃśikā-v.17 of Vasubandhu:
    vijñānapariṇāmo ’yaṃ vikalpo yad vikalpyate |
    tena tan nāsti tenedaṃ sarvaṃ vijñaptimātrakam || 17 ||

    玄奘 T31n1586_p61a2-3.
    是諸識轉變 分別所分別
    由此彼皆無 故一切唯識

    “Sự chuyển biến của thức này là cấu trúc nhận thức. Cái gì được cấu trúc bởi nó cái đó không có thật, tất cả cái này chỉ là hiển thị của thức”.

    Về mặt tái hiện, những hoạt động của tâm khi bị thúc đẩy bởi khát vọng hạnh phúc và sinh tồn theo một ngã kiến do mạt-na thủ trước, chúng sẽ chuyển biến các dữ liệu được lưu trữ trong A-lại-da thành một định mệnh và đường đi của con người. Cuộc đời là một mô hình do tâm tái hiện, ý nghĩa này được Lăng-già mô tả qua cú nghĩa tribhavacittamātra (ba cõi chỉ là tâm).

    N.208:
    mama tu mahāmate na nityā nānityā | tat kasya hetoḥ? Yaduta bāhyabhāvānabhyupagamātribhavacittamātropadeśādvicitralakṣaṇānupadeśān na pravartate na nivartate mahābhūtasaṃniveśaviśeṣaḥ | na bhūtabhautikatvādvikalpasya dvidhā pravartate grāhyagrāhakālakṣaṇatā | vikalpasya pravṛttidvayaparijñānādbāhyabhāvābhāvadṛṣṭivigamāt svacittamātrāvabodhādvikalpo (N.209) vikalpābhisaṃskāreṇa pravartate nānabhisaṃskurvataḥ |

    “Này Đại Huệ, đối với Như lai, các pháp chẳng phải thường hay vô thường. Tại sao? Vì rằng Như Lai không nắm bắt ngoại cảnh, Như lai dạy ba cõi chỉ là tự tâm, không dạy các thứ hình tướng sai biệt, nên sự sai biệt giữa các hiện tượng của các đại chủng không khởi lên, không biến mất, sự nhận biết rằng chủ thể và đối tượng của cấu trúc nhận thức không khởi lên theo hai phần từ tính chất đại chủng và các sản phẩm do đại chủng tạo ra. Nhờ hiểu rõ hiểu rõ hai phần biểu hiện ấy của cấu trúc nhận thức, nhờ viễn ly cái thấy có không đối với ngoại cảnh, và nhờ giác ngộ trạng thái chỉ là tự tâm, nên cấu trúc nhận thức phát khởi bằng chủ ý cấu trúc, chứ không phải do vô ý”[4].

    Tùy theo ý chấp thủ ấn tượng sắc hoặc thọ nào là tự ngã của mình, khối năng lượng tới hạn, được tích lũy trong hệ thống nhận thức qua hoạt động, nó chuyển hiện thành định mệnh tương ứng trong các con đường; và các con đường này thường gọi là ba cõi, sáu đường hay chín hữu. Kinh Lăng-già mô tả sự chuyển hiện này là tâm hiện thành thân thể tài sản và trú xứ, không những thế, bằng năng lực tái hiện kiến thức, tâm tiếp tục tái hiện những cảnh đời được định hướng bởi sự chấp thủ kiến thức về tự ngã của nó, trong dòng lưu chuyển bất tận của vòng quay sanh tử và tử sanh. Nghĩa này được xác định qua định cú dehabhogapratiṣṭhānaṃ cittamātram (thân thể, tài sản, và trụ xứ chỉ là tâm).

    N.62:
    |dehabhogapratiṣṭhāgatisvabhāvalakṣaṇaṃ mahāmate ālayavijñānaṃ grāhyagrāhakalakṣaṇena pravartamānaṃ bālā utpādasthitibhaṅgadṛṣṭidvayapatitāśayā utpādaṃ sarvabhāvānāṃ sadasator vikalpayanti |

    “Đại Huệ! Thân thể tài sản và trú xứ chính là tự thể và hình tướng ở trong các cõi, hiện hành bởi hình tướng năng thủ và sở thủ của thức A-lại-da. Nhưng các phàm phu, những kẻ có đầu óc bị đọa lạc vào hai mặt của các quan điểm về sanh trú diệt, họ cho nó là sự phát sinh từ tính có hoặc không của tất cả các pháp”[5].

    N.70:
    samāropāpavādo hi cittamātre na vidyate |
    dehabhogapratiṣṭhābhaṃ ye cittaṃ nābhijānate |
    samāropāpavādeṣu te caranty avipaścitaḥ || 2.135 ||

    “ở trong duy tâm
    không hề có sự
    áp đặt, bác bỏ.
    Những ai mù quáng
    không hiểu rõ tâm
    là cái hiển hiện
    thân thể tài sản,
    cũng như trú xứ
    họ đi lạc vào
    cái sự áp đặt
    hoặc sự bác bỏ”
    //135// [6].

    Tham chiếu Triṃśikā-v.2b,3.19 of Vasubandhu:
    tatrālayākhyaṃ vijñānaṃ vipākaḥ sarvabījakam || 2 ||
    asaṃviditakopādisthānavijñaptikaṃ ca tat |
    sadā sparśamanaskāravitsañjñācetanānvitam || 3 ||
    karmaṇo vāsanā grāhadvayavāsanayā saha |
    kṣīṇe pūrvavipāke ’nyadvipākaṃ janayanti tat || 19 ||

    玄奘 T31n1586
    初阿頼耶識 異熟一切種 (p_60b4, kệ 2b)
    不可知執受 處了常與觸
    作意受想思 相應唯捨受 (p_60b5-6, kệ 3)
    由諸業習氣 二取習氣倶
    前異熟既盡 復生餘異熟 (p_61a10-11, kệ 19)

    “Trong đó, dị thục là thức có tên là a-lại-da, nhất thiết chủng (cái chứa hạt giống của tất cả) (2b). Và nó là cái có tiềm năng tiếp nhận và duy trì không thể biết, và liễu biệt xứ không thể biết. Thường tương ưng với xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư (3). Khi dị thục trước diệt mất thì các tập khí của nghiệp cùng với nhị thủ tập khí khiến sinh ra dị thục khác đó” (19).

    2.2. PHƯƠNG DIỆN SIÊU NGHIỆM

    Lăng-già cho thấy, tâm vốn là pháp duyên sinh mà bản chất thực sự của nó luôn luôn viễn ly mọi ấn tượng, ngôn ngữ và tâm sở mà nó biểu hiện. Nếu tùy thuận với sự thật này, con người không nhận lầm thông tin là sự vật, biết năng tướng và sở tưởng chỉ là hình ảnh do tự tâm biểu hiện. Nơi đây họ không vướng mắc, không chấp thủ chúng, họ vượt qua mọi tâm hành và ngôn ngữ (ngôn ngữ đạo đoạn-tâm hành xứ diệt), để thể nhập vào trạng thái chân thật của tâm. Lăng-già gọi trạng thái này là Duy tâm (cittamātra), đó là trạng thái của bình yên và sáng suốt, cội nguồn của giải thoát và tuệ giác. Duy tâm trong nghĩa này còn được gọi là tâm nhất cảnh tánh (ekāgratā), vô tướng, vô phân biệt, viên thành thật tánh, vô sanh, tánh không, Như Lai tạng. Nó là trạng thái vô tưởng, vắng lặng và sáng suốt của tâm, nền tảng cho đời sống giải thoát. Tự thân thể nhập trạng thái chân thật này là siêu thoát khỏi dòng sinh tử của thế gian, chứng nghiệm Niết bàn, phát huy tuệ giác, và từ bi.

    N.88:
    |punar aparaṃ mahāmate svacittadṛśyamātrānusāritvād vividhavicitralakṣaṇabāhyabhāvābhāvād vāgvikalpaḥ paramārthaṃ na vikalpayati |tasmāt tarhi mahāmate vāgvicitravikalparahitena te bhavitavyam ||

    “Lại nữa Đại Huệ, vì đệ nhất nghĩa là trạng thái chân thật của các pháp chỉ do tự tâm biểu hiện, trạng thái không có đủ thứ hình tướng sai biệt được xem là những thực thể tồn tại ngoài tâm, nên ngôn ngữ và tư duy không mô tả được đệ nhất nghĩa. Do đó, Đại Huệ! ông nên viễn ly ngôn ngữ và đủ thức tư duy sai biệt”[7].

    N.169: kathaṃ hy abhāvo bhāvānāṃ kurute samatāṃ katham || 3.56 ||
    yadā cittaṃ na jānāti bāhyamādhyātmikaṃ calam |
    tadā tu kurute nāśaṃ samatācittadarśanam || 3.57 ||
    punar api mahāmatir āha| yatpunaridamuktaṃ yadā tvālambyamarthaṃ nopalabhate jñānaṃ tadā vijñaptimātravyavasthānaṃ bhavati| vijñapter grahyābhāvād grāhakasya apy agrahaṇam bhavati |

    Trạng thái bình đẳng (56)?
    Khi nào tự tâm
    Không còn nhận thấy
    sự xao động nào
    trong tâm ngoài cảnh,
    bấy giờ nó sẽ
    biến sự lắng diệt
    trở thành trạng thái
    của sự bình đẳng
    nội tâm biểu hiện
    . (57) 
    Bồ tát Đại Huệ lại hỏi: Đức Thế tôn đã dạy điều này: “Khi trí không nắm bắt đối tượng sở duyên thì nó an trú trong duy thức, vì không có sở thủ của thức nên năng thủ không còn nắm bắt”[8].

    Tham chiếu Triṃsikā-v. 28
    yadālambanaṃ vijñānaṃ naivopalabhate tadā |
    sthitaṃ vijñānamātratve grāhyābhāve tadagrahāt || 28 ||

    玄奘 T31n1586_61b14-15.
    若時於所縁智都無所得
    爾時住唯識 離二取相故

    Chỉ khi nào trí không nắm bắt sở duyên, bấy giờ nó trụ trong duy thức tánh, trạng thái không tồn tại sở thủ, vì không còn nhận thức sai lầm về nó. (28)

    Đoạn: “yadā tvālambyamarthaṃ nopalabhate jñānaṃ tadā vijñaptimātravyavasthānaṃ bhavati vijñapter grahyābhāvād grāhakasya apy agrahaṇam bhavati” của Lăng-già rất giống tụng triṃsikā 28 Vasubandhu không những về ý nghĩa mà còn cả cách dùng từ.

    N.170:
    bhagavān āha| na hi tan mahāmate evamajñānaṃ bhavati | jñānam eva tan mahāmate, nājñānam | na caitatsaṃdhāyoktaṃ mayā| yadā tvālambyamarthaṃ nopalabhate jñānaṃ tadā vijñaptimātravyavasthānaṃ bhavatīti | kiṃ tu svacittadṛśyamātrāvabodhāt sadasator bāhyabhāvābhāvājjñānam apy arthaṃ nopalabhate | tadanupalambhājjñānajñeyayor apravṛttiḥ | vimokṣatrayānugamāj jñānasyāpyanupalabdhiḥ|

    “Đức Thế tôn dạy: Đại Huệ: Cái trí như Như lai đã nói hẳn không thể là sự vô tri. Nó chính là trí tuệ chứ không phải sự vô tri. Như lai không có ẩn ý gì khi nói điều này: “Khi trí không nắm bắt đối tượng sở duyên thì nó an trú trong duy thức”. Nhưng vì biết rõ đối tượng sở duyên chỉ là sở kiến hiện trong tự tâm, vì không hề có sự thể ấy ở bên ngoài, nên trí cũng không nắm bắt đối tượng cho là có hay không. Nhờ không vin vào nó, nên năng tri và sở tri không phát khởi. Nhờ tùy thuận với ba giải thoát, nên trí tuệ không có sự nắm bắt”[9].

    Tham chiếu Triṃsikā-v. 29
    acitto ’nupalambho ’sau jñānaṃ lokottaraṃ ca tat |
    āśrayasya parāvṛttir dvidhā dauṣṭhulyahānitaḥ || 29 ||

    玄奘 T31n1586_61b18-19.
    無得不思議是出世間智
    捨二麁重故 便證得轉依

    Điều này là vô tâm, vô đắc và đó là trí xuất thế gian. Nhờ xả bỏ hai thứ thô trọng, nên có sự chuyển y. (29)

    Trên mặt siêu nghiệm thể nhập chân tướng (jātilakṣaṇā) của thức, Lăng-già gọi đây là chuyển y (āsrayaparavṛitti), tức là chuyển trạng thái thác loạn của tâm bị ô nhiễm bởi chướng ngại phiền não và sở tri chướng, trở về trạng thái trong sáng chân thật của nó. Nhân tố để khởi động quá trình này chính là mạt-na, tùy thuận chân tướng của tâm, nó không nắm bắt ấn tượng sở duyên hiện trong tự tâm như là thực thể cá biệt tồn tại ngoài tâm. Bấy giờ, cả năng tướng và sở tướng không còn tồn tại, mạt-na hiện chứng trạng thái vô tướng của tâm và được gọi là vô phân biệt trí (nirvikalpajñāna), hay bình đẳng tánh trí (samatājñāna). Nhờ năng lực tịnh hóa và sự định hướng chân thật của vô phân biệt trí, các tập khí ô nhiễm thuộc nhận thức (sở tri) và tâm lý (phiền não) được lưu trữ từ vô thỉ bị loại bỏ, tâm an trú trong trạng thái chân thật của nó mà phát huy trí lực hiển thị ảnh tượng như huyễn của mọi pháp, trên con đường thực hành Bồ-tát hạnh để đạt đến quả vị Phật.

    N.42:
    |mahākaruṇopāyakauśalyānābhogagatena mahāmate prayogena sarvasattvamāyāpratibimbasamatayā anārabdhapratyayatayā adhyātmabāhyaviṣayavimuktatayā cittabāhyādarśanatayā animittādhiṣṭhānānugatā anupūrveṇa bhūmikramasamādhiviṣayānugamanatayā traidhātukasvacittatayā adhimuktitaḥ prativibhāvayamānā māyopamasamādhiṃ pratilabhante |

    “Đại Huệ! Khi công hạnh đạt đến mức tự nhiên nhờ thành thạo các phương tiện của đại bi, họ tùy thuận với sự an trú trong vô tướng, bằng trạng thái xem chúng sanh như huyễn, như ảnh, không nắm bắt các duyên, trạng thái thấy ngoại cảnh là tự tâm, thanh thoát với các sự kiện ở trong cũng như ngoài tâm, rồi dần dần thấu hiểu một cách xác tín ba cõi chỉ là tự tâm, bằng cách thuận hành cảnh giới thiền định cảnh giới trong từng cấp bậc của các quả vị Bồ-tát và đạt được chánh định như huyễn”[10].

    3. LỜI KẾT

    Đạo lý duy tâm như được trình bày ở trên cho thấy, Lăng-già không xem tâm là một nguyên tố vật chất hay tinh thần tạo ra vũ trụ. Duy tâm (cittamātra) là từ viết tắc của hợp từ bahuvrīhi “Duy tự tâm sở kiến (svacittadṛṣyamātra)”nghĩa là, “chỉ là những cái được tự tâm nhìn thấy”hay “chỉ là những cái được biểu hiện trong tự tâm”. Trong đó, ta thấy rằng tự tâm (svacitta) chỉ cho hệ thống nhận thức của mỗi người, gồm ba trạng thái chuyển tướng (pravṛttilakṣaṇa), nghiệp tướng (karmalakṣaṇa), và chân tướng (jatilakṣaṇa); với hai chức năng gồm hiện thức (khyātivijñāna) và phân biệt sự thức (vastuprativikalpavijñāna). Định nghĩa này cho thấy tâm không phải là một tự thể cá biệt (svabhāva), một bản nguyên (prakṛti), linh hồn (pudgala) hay bản ngã (ātman) sinh ra mọi pháp như những người theo thuyết duy tâm tuyệt đối (absolute idealism) đã nhào nặn và tưởng tượng ra.

    Như trên đã đề cập, tùy theo ý chấp thủ ấn tượng sắc hoặc thọ nào là tự ngã của mình, khối năng lượng được tích lũy trong hệ thống nhận thức qua hoạt động của nó, chuyển hiện thành định mệnh tương ứng trong các con đường tương ứng gọi là ba cõi, sáu đường hay chín hữu. Lăng-già mô tả sự chuyển hiện này là tâm hiện thành thân thể tài sản và trú xứ, không những thế, bằng năng lực tái hiện kiến thức, tâm tiếp tục tái hiện những cảnh đời được định hưởng bởi sự chấp thủ kiến thức về tự ngã của nó trong dòng lưu chuyển bất tận của sanh tử. Tùy theo cách thức con người xử lý những gì mà hệ thống nhận thức đã ghi nhận, thì nó sẽ biểu hiện và tác thành cuộc sống như thế đó. Vai trò trong việc định hình cùng tác thành đời sống, được Lăng-già xác định và mô tả rất rõ, những ý nghĩa này được người viết ghi chú và cước dẫn đầy đủ ở các mục trên.


    * Tỳ kheo Thích Nguyên Sĩ, Tăng sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, khóa XV, khoa Phật học Sanskrit.

    Tài liệu tham khảo:
    The Laṅkāvatārasūtra, edited by Bunyiu Nanjio, 1923, Kyoto (梵文入楞伽經, 南絛文雄校訂, 大谷大學. v. 1).
    1. Saddharma-laṅkāvatārasūtra, edited by P.L. Vaidya. — Mithila Insttitute of PostGraduate Studies and Research in Sanskrit Learning, 1963. — (Buddhist Sanskrit texts; no. 3).
    2. Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già, Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023.
    3. Taishō Shinshū Daizōkyō 大正新脩大藏經.
    4. https://www2.hf.uio.no/polyglotta/index.php?page=fulltext&vid=236&view=fulltext


    [1] Dẫn theo bản Devanāgarī biên tập bởi Nanjō. Phiên âm ký hiệu la-tinh theo nguồn Sanskrit Buddhist Canon. Bản Việt Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.599.

    [2] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.83-84.

    [3] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.135.

    [4] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.254.

    [5] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.84.

    [6] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.92.

    [7] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.109.

    [8] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.205.

    [9] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.206.

    [10] Thể Nhập Chánh Pháp Lăng-già (1), Nguyên Giác dịch & lược giải. Nxb. Hồng Đức 2023; tr.63.

    Kinh Lăng-già Thích Nguyên Sĩ
    Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
    Previous ArticleHT Thích Mãn Giác: Ý niệm về chân như
    Next Article Thanh Nguyễn: Mừng sinh nhật Phật

    Xem thêm

    Thích Nhuận Giác: Các loại hình Tịnh độ trong Phật giáo Đại thừa

    16/04/2026

    Thích Nhuận Châu: Nét đặc trưng tư tưởng của Thiền phái Liễu Quán

    02/01/2026

    Tâm Nhãn: Tuệ Sỹ và Dịch Lý

    28/11/2025
    Add A Comment
    Leave A Reply Cancel Reply

    Bài mới

    Daisetz Teitaro Suzuki | Đỗ Kim Thêm giới thiệu và dịch: Bàn về thuyết luân hồi

    24/06/2026

    Lãng Thanh: Nguyện cầu Phật lực từ bi

    21/06/2026

    Thích Chúc Xuân: Tỉnh thức trước vô thường

    18/06/2026

    GHPGVNTNHK Cáo bạch: Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Thuận viên tịch

    18/06/2026

    Uyên Nguyên: Người đã đi rồi. Núi còn đây…

    15/06/2026

    Đạo Sinh: (LUẬN CÂU-XÁ) Chương 8: Phân biệt định [Phần 27]

    02/06/2026

    Nguyệt san Chánh Pháp số 175 | tháng 6.2026

    02/06/2026

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Paul Dahlke | Đỗ Kim Thêm dịch: Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 

    29/05/2026

    Lãng Thanh: Tháng năm hoa tràn đồng

    28/05/2026
    Mạng xã hội
    • Facebook
    • Twitter
    • Pinterest
    • Instagram
    • YouTube
    • Soundcloud
    Website Phật giáo

    Hội Đồng Hoằng Pháp | GHPGVNTN

    Phật Giáo Úc Châu

    Viên Giác Pagoda

    Quảng Ðức Homepage

    Thư Viện Hoa Sen

    Làng Mai

    Hoa Vô Ưu

    Hương Tích Phật Việt

    Đạo Hy

    Chung Huong Institute

    GÐPTVN Trên Thế Giới

    GÐPT Việt Nam (Quốc nội)

    Sen Trắng | BHD GĐPTVN tại Hoa Kỳ

    Copyright © 2026 | Phật Việt tùng thư
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc

    Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.