TINH THẦN HUYỀN TRANG
THÍCH NHUẬN CHÂU
Dịch của Dan Lusthaus
Ngài Huyền Trang sinh năm 600 ở Huyện Yển Sư (偃師-Zhenliu), ngày nay gọi là là tỉnh Hà Nam, Trung Hoa, là người nổi bật và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Phật giáo Á Châu vào thời điểm ngài thị tịch vào năm 664[1] ở tại Cung Ngọc Hoa(玉華宮, gần kinh đô Tràng An. Tên tuổi ngài xuất phát từ ba sự thành tựu liên quan:
- Mặc dù bị triều đình cấm đoán gắt gao không cho ngài sang Ấn Độ, nhưng vào năm 629, ngài mạo hiểm thực hiện cuộc hành hương sang chiêm bái đất Phật, hy vọng sưu tầm và nghiên cứu những kinh luận mà ở Trung Hoa chưa có. Cuốn du ký mà ngài biên soạn (do khẩn khoản yêu cầu của nhà vua, người đã nâng đỡ ngài sau cuộc hành hương rực rỡ và trở về năm 645), nhan đề Đại Đường Tây vực ký[2], tiếp tục cống hiến cho chúng ta những tư liệu chưa từng có về địa danh, sinh hoạt, phong tục của các nước vùng Trung Á và Ấn Độ. Nhiều miêu tả của ngài về địa danh rất chính xác với những gì khám phá được vào thế kỷ thứ IX và XX. Những nhà thám hiểm phương Tây như Ariel Stein đã dùng tập Đại Đường Tây vực ký của ngài như là kim chỉ nam để tìm kiếm lại những vùng đất đã mất dấu tích hằng thế kỷ và để nhận dạng những vùng mới phát hiện ra.
- Sau khi trở lại Trung Hoa, phần lớn do học vấn uyên bác vô song của ngài, do sự nổi bật xuất chúng ngài đã có được ở các nước vùng Trung Á và Ấn Độ, và phần nhiều là do Hoàng đế Trung Hoa đặc biệt bảo trợ, triều đình liền kiến trúc một tu viện đặc biệt để dâng cúng cho ngài và trọng thể tuyển chọn đạo tràng phiên dịch do nhà vua chỉ định để cộng tác với ngài trong việc phiên dịch kinh điển với hơn 600 bộ mà ngài đã mang từ Ấn Độ về. Ngài Huyền Trang trở thành Tăng sĩ Phật giáo kiệt xuất nhất trong thế hệ của ngài ở Đông Nam Á châu. Tăng sĩ, Phật tử từ khắp Trung Hoa cũng như Triều Tiên và Nhật Bản kéo về theo học với ngài rất đông, trong khi các sứ thần của các vương quốc vùng Trung Á và Ấn Độ lại đến để đảnh lễ, biểu hiện sự kính ngưỡng. Bên cạnh việc giới thiệu một luồng tư tưởng Phật giáo mới và nền văn học Ấn Độ vào Trung Hoa, ngài còn tạo ra một ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật và kiến trúc Trung Hoa qua những tranh tượng và đồ án kiến trúc mà ngài mang về. Một ngôi chùa được xây dựng riêng cho ngài ở Trường An (nay gọi là chùa Từ Ân) để cất giữ kinh điển và các tác phẩm nghệ thuật, nay vẫn còn là biểu tượng cho một sự kiện lịch sử chói lọi.
- Ngài là một trong những dịch giả vĩ đại, chính xác và sung mãn nhất trong số những người phiên dịch kinh điển Ấn Độ sang tiếng Hán. Một số bản dịch của ngài, như Bát-nhã tâm kinh, kinh Kim Cang, vẫn còn giữ vai trò chính trong lễ nghi Phật giáo hằng ngày cho đến ngày nay. Trình độ các bản dịch của ngài là vô song, không những đại biểu cho giáo lý của Duy thức tông[3], ngài gắn bó, mà còn bao trùm cả phạm vi rộng lớn trong văn học Phật giáo, từ thiền quán cho đến đà-la-ni[4], từ nghi thức nhật tụng, cho đến A-tỳ-đạt-ma, cho đến bộ Bát-nhã hoàn chỉnh đồ sộ (riêng bộ Bát-nhã này đã chứa trọn ba tập trong Kinh tạng Phật giáo của ấn bản Đại Chính tân tu Đại tạng kinh-Taishō), từ kinh A-hàm (Agama) cho đến kinh Đại thừa, những bộ luận giải quan trọng về các bộ kinh và luận, Luận lý học Phật giáo[5] (ngài là người duy nhất dịch những kinh điển Nhân minh học sang tiếng Hán), ngay cả Thắng luận (Vaiśeşika)[6] bằng tiếng Hindu.
Vào thời ngài Huyền Trang, Phật giáo Trung Hoa trải qua sự đua tranh phát triển giữa các tông phái và học thuyết Phật giáo, có nhiều quan điểm xung đột cơ bản với trường phái đối thủ. Phần nhiều những tông phái này dựa vào những kinh điển ngụy tạo so với nguồn gốc Ấn Độ cũng như biến những tác giả đích thực thành những dịch phẩm đáng ngờ nên đã giới thiệu những tư tưởng sai lầm, dù sao cũng đã càng trở nên thịnh hành ở Trung Hoa và Triều Tiên. Sau 16 năm từ Ấn Độ và Trung Á trở về Trung Hoa, ngài nỗ lực đưa Phật giáo Trung Hoa trở nên thích ứng với những gì ngài đã học được ở Ấn Độ. Ngài thực hiện hoài bão này bằng cách dịch lại những bản kinh quan trọng, cố gắng để có những bản dịch tốt hơn, cũng như giới thiệu những kinh văn và tư liệu trước đây không được biết đến ở Trung Hoa. Bên cạnh 74 tác phẩm dịch thuật đồ sộ bất hủ trong suốt 19 năm của ngài, một số hoàn toàn quá lớn, như bộ Kinh Đại Bát- nhã (Mahā-prajñāpāramitā sūtra) đã nói trên, dài đến vài ngàn trang. Ngài truyền dạy cho chư Tăng hệ thống Duy thức và Luận lý học Ấn Độ phức tạp, và dẫn đầu trong việc tán trợ Phật giáo trong triều đình Trung Hoa cho đến khi ngài viên tịch. Các bản dịch của ngài đánh dấu sự truyền dẫn chính yếu tư tưởng Phật giáo Ấn Độ sang các nước Đông Nam Á.
I. ĐỘNG CƠ SANG ẤN ĐỘ CỦA NGÀI HUYỀN TRANG
Vào trước thế kỷ thứ VII, nền văn học Phật giáo Trung Hoa đã trở thành mặt biển mênh mông gồm những bản dịch và những tác phẩm cổ điển biểu tượng cho nhiều học thuyết và quan điểm chống đối nhau, mà tất cả đều tự nhận là ‘Phật giáo. Phật giáo Trung Hoa trong thế kỷ thứ VI, qua vài sự biện hộ, được thấy rõ đó là cuộc tranh luận giữa các bản dịch trong Phật giáo Du-già hành tông, có nghĩa là giáo lý căn cứ trên các luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân. Chi tiết của học thuyết đều rất vi tế và rất căn bản, đều ở trong tình trạng không ngớt tranh luận.
Khi còn rất trẻ, ngài Huyền Trang đã nghiên cứu và thông thạo nhiều kinh điển Phật giáo giá trị. Năm 13 tuổi, ngài đã từng giảng pháp cho tăng chúng nghe. Đời Tùy[7] sụp đổ, nạn đói và chiến tranh gieo rắc sự chết chóc khắp mọi miền Trung Hoa, nhiều học giả Phật giáo thủ lãnh và môn đệ di chuyển sang Trường An, kinh đô của nhà Đường mới hưng thịnh, nơi mà họ nhận được sự bảo trợ để tu tập và truyền bá giáo lý trong sự bảo đảm tương đối. Ngài Huyền Trang cũng đến Trường An, sau khi nghiên cứu với vài pháp sư nổi danh, ngài đạt được sự khen tặng là uyên bác và trí nhớ rất tốt. Ngài đi đến kết luận rằng những cuộc tranh luận và mâu thuẫn về bản dịch đang lan khắp Phật giáo Trung Hoa là do kết quả không thể tránh được từ các kinh luận chủ yếu qua bản dịch tiếng Hán. Đặc biệt, ngài nghĩ rằng nếu có được một bản dịch hoàn chỉnh của Du-già sư địa luận (Yogācārabhūmi-śāstra), mô tả mang tính bách khoa những giai đoạn tu tập theo pháp Du-già để đạt đến quả vị Phật do ngài Vô Trước trứ tác, thì sẽ hóa giải được mọi mâu thuẫn. Vào thế kỷ thứ VI, một vị tăng Ấn Độ sang Trung Hoa truyền giáo là ngài Chân Đế (Paramārtha), ngài cũng là một dịch giả, đã dịch một phần tác phẩm ấy. Ngài Huyền Trang quyết tâm tìm kiếm bản văn hoàn chỉnh ở Ấn Độ và đem về giới thiệu ở Trung Hoa.
II. NGÀI HUYỀN TRANG Ở ẤN ĐỘ
Mặc dù nhà vua không cho phép, ngài vẫn đi, ngài gặp nhiều gian khổ suốt đoạn đường đi qua nhiều núi non sa mạc, gặp phải nạn đói và cướp bóc, cuối cùng, sau gần một năm ngài mới đến được Ấn Độ. Khi đến đó rồi ngài mới nhận ra sự khác biệt giữa Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa rắc rối nhiều hơn là quên mất một phẩm trong cuốn kinh. Trong hơn cả thế kỷ, Phật giáo Ấn Độ đã trở nên bị thu hút bởi Luận lý học Phật giáo của ngài Trần-na, nhưng ngay cả dù có vài tác phẩm nhận thức luận của ngài Trần-na đã được phiên dịch, Luận lý học Phật giáo, vốn đã được trở thành một phần không thể thiếu của mọi hình thái tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, mà ở Trung Hoa vẫn không được biết đến. Ngài Huyền Trang còn khám phá được rằng những phạm trù trí huệ bàn trình bày trong những cuộc thảo luận Phật học và những luận giải đồ sộ và đa dạng hơn những tư liệu Trung Hoa đã biểu thị: quan điểm Phật học được tôi luyện trong những cuộc tranh luận nghiêm túc với mức độ các học thuyết Phật giáo và ngoài Phật giáo chưa được biết đến ở Trung Hoa, và thuật ngữ trong những cuộc tranh luận này đã rút ra được ý nghĩa độc đáo từ những phạm trù phong phú này. Trong khi ở Trung Hoa, tư tưởng Du-già hành tông và Như Lai tạng trở thành không thể tách rời, ở Ấn Độ, Du-già hành tông chính thống dường như quên lãng nếu như không nói là hoàn toàn từ chối hẳn tư tưởng Như Lai tạng. Nhiều ý niệm then chốt trong Phật giáo Trung Hoa.
Ngài Huyền Trang trải qua nhiều năm học tập ở Ấn Độ với nhiều bậc thầy nổi tiếng nhất, thăm nhiều thánh tích, dự nhiều cuộc tranh luận về học thuyết Phật giáo với ngoại đạo, ngài đã thắng tất cả họ và đạt được khen tặng như là một luận sự mãnh liệt. Sau một loạt tranh luận với hai luận sự phái Trung quán (môn đệ ngài Long Thụ), ngài soạn một chuyên luận bằng tiếng Sanskrit gồm 3000 câu kệ về “Sự tương đồng giữa Trung quán luận và Du-già hành tông”[8], nay tác phẩm này không còn nữa. Sau khi hứa với ngài Giới Hiền (Śīlabhadra), vị thầy cố vấn cho ngài ở trường Đại học Tu viện Na-lan-đà (Nālandā), trung tâm nghiên cứu Phật học thời bấy giờ), là sẽ giới thiệu Luận lý học Phật giáo của ngài Trần-na (Dignāga) ở Trung Hoa, ngài trở về nước năm 645 với hơn 600 bản kinh tiếng Sanskrit.
III. DỰ ÁN CHƯƠNG TRÌNH PHIÊN DỊCH
Hi vọng rằng sẽ lấy được nhiều tin tức về chiến lược quân sự giá trị từ ngài Huyền Trang, Hoàng đế đương thời kiến trúc cho ngài một ngôi chùa đặc biệt gần kinh đô, và bổ nhiệm nhiều vị học giả danh tiếng thời bây giờ để giúp cho ngài trong dự án phiên dịch. Dù từ chối cung cấp cho nhà vua những tin tức có thể có ích cho quân sự, ngài cũng soạn một cuốn ký sự mô tả những vùng đất ngài đã đi qua, đặc biệt là những thánh tính Phật giáo mà ngài đã viếng thăm. Tác phẩm này, Đại Đường Tây vực ký, ngày nay đã cung cấp cho chúng ta những nhiều kiến thức về đời sống, phong tục, tính cách, địa lý và tình hình Phật giáo ở các nước vùng Trung và Nam Á Châu vào thế kỷ thứ VII. Phạm vi những kinh luận ngài phiên dịch bao trùm hầu hết phạm vi giáo lý đạo Phật: kinh văn Du-già hành tông với những luận giải; kinh văn Trung quán phái với những luận giải của các nhà Du-già hành tông, những kinh dùng đọc tụng cầu nguyện (ngài Huyền Trang là người đầu tiên đưa ra ý niệm “Tịnh độ – cõi giới do một vị Phật chủ trì, nguyện tiếp độ những ai sẽ vãng sinh qua đó cõi Cực lạc; s: sukhāvatī, cõi giới của Đức Phật A-di-đà). Cuối cùng tư tưởng Tịnh độ đặc biệt này trở nên thông dụng ở các nước Đông Nam Á; kinh văn Mật giáo (tantra) và đà-la-ni, cẩm nang về Luận lý học. Kinh văn A-tỳ-đạt-ma (đặc biệt là tạng A-tỳ-đạt-ma của phái Tỳ-bà-sa) cũng như A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận (Abhidharma-kośa-bhāṣya) của ngài Thế Thân; và một luận văn tiếng Hindu về Thắng Luận (Vaiśeşika). Mặc dù bao trùm nhiều lĩnh vực, nhưng các tác phẩm do ngài tuyển chọn mang về nước hoàn toàn không dựa trên ý kiến sự tuỳ hứng cá nhân, đúng hơn đó là một tổng thể trong lĩnh vực luận chiến mà quan điểm ngài đã thuyết phục được các đối thủ khác, ngài trình bày một cách chính xác các bản dịch mà qua chính nó, ngài hy vọng sẽ lập nên phương pháp ghi chép trung thực. Ngài hình như thấy rằng học thuyết trong các bản dịch của ngài Chân Đế phần nào có vấn đề. Môn đệ của ngài Chân Đế chọn Nhiếp Đại thừa luận (s: Mahāyāna-samgraha 攝大乘論) của ngài Vô Trước làm trung tâm. Ngài Huyền Trang không những dịch lại Nhiếp luận (She lun), mà ngài còn dịch toàn bộ các luận giải về Nhiếp luận, gồm cả tác phẩm của ngài Thế Thân, với hy vọng là giới thiệu cho độc giả Trung Hoa những gì mà luận văn gốc đã trình bày và những gì không đề cập đến, cũng như cách mà tác phẩm ấy được nhận thức và hiểu ở Ấn Độ. Dù bản gốc tiếng Sanskrit không còn nữa, nhưng những so sánh giữa bản dịch của ngài Huyền Trang với bản dịch Tây Tạng đã chứng tỏ rằng bản dịch của ngài sát với nguyên bản hơn bản của ngài Chân Đế (Bản dịch của ngài Huyền Trang rất giống với bản tiếng Tây Tạng trên nhiều phương diện. Trong khi bản của ngài Chân Đế mang vẻ hào nhoáng và có những điểm lạc đề đáng ngờ.)
Danh tiếng của ngài Huyền Trang nhanh chóng lan khắp các nước Đông Nam Á: rằng ngài đã sang Ấn Độ để tham học Phật pháp tận nguồn gốc; rằng ngài là người duy nhất được Hoàng đế Trung Hoa bảo trợ; rằng ngài sẽ giới thiệu thông qua các dịch phẩm của ngài một giáo lý mới mẻ và đích thực mà trước đây chưa từng có ở các nước Đông Nam Á.
Các môn đệ người Nhật Bản mang những giáo lý của ngài về nước, lập nên Pháp tướng tông (j: Hossou) Nhật Bản, trở thành một tông phái Phật giáo ưu việt ở đó cho đến khi sự phục sinh của Tông Thiên Thai Nhật Bản, qua âm mưu vận động chính trị, đã chiếm quyền lực vài thế kỷ sau đó.
Trong khi giáo lý của ngài được quan tâm sâu sắc ở Triều Tiên, cuối cùng nó được hợp nhất với giáo lý tông Hoa Nghiêm (k: Huaom; c: Huayen) và Thiền tông (k: Son, Chan, Zen) vốn đã chiếm ưu thế trong tư tưởng Phật giáo Triều Tiên suốt trong 1000 năm sau.
IV. THÀNH DUY THỨC LUẬN VÀ NGÀI KHUY CƠ
Năm 659, ngài cho ra đời tác phẩm đặc sắc nhất. Dự định sẽ dịch 10 luận giải riêng biệt về Duy thức Tam thập tụng của ngài Thế Thân theo sự cầu thỉnh kiên định của môn đệ chính của ngài là Khuy Cơ, thay vì vậy, ngài phối hợp những bản dịch và chú giải lại thành một luận văn duy nhất, khi đọc những luận giải sau này của ngài Khuy Cơ viết về tác phẩm này, nó trở thành một cẩm nang cho học thuyết Du-già hành tông của Nhật Bản và Trung Hoa. Sau khi ngài Huyền Trang viên tịch, ngài Khuy Cơ lập Duy thức tông, lấy Thành Duy thức luận làm luận văn nền tảng. Ngài Khuy Cơ viết vài luận giải về tác phẩm này, phần nhiều hiện còn đang lưu hành, những tư tưởng và kiến giải và trình bày của ngài đã được tuân theo suốt trong lịch sử các nước Đông Nam Á như là một hiểu biết chính thống về kinh điển. Có một số nghi ngờ nguyên do từ tuyên bố của ngài Khuy Cơ, tuy nhiên:
- Trong khi đối với ngài Khuy Cơ, luận giải này là bản văn quan trọng nhất, không có chứng cứ nào nó lưu giữ ý nghĩa đặc biệt nào đối với ngài Huyền Trang, người mà trong thực tế đã có sự hối tiếc về về sự pha tạp hơn là dịch trung thành bản luận giải gốc. Bộ kinh chính yếu ngài dịch sau cùng là Kinh Đại Bát-nhã (Mahā-prajñāpāramitā sūtra). Do tầm vóc bộ kinh quá đồ sộ và sức khỏe ngài yếu dần, nên ngài rút ngắn cô đọng lại bản dịch, nhưng bị cảnh tỉnh qua sự báo mộng cho ngài biết là dù có bỏ quên một chữ nhỏ cũng sẽ có tội rất lớn. Điều này có thể phản ảnh rất trung thực những sám hối thêm của ngài khi ‘thờ ơ’ luận giải Duy thức Tam thập tụng nếu ngài không dịch một cách trung thành trong khi biên soạn Thành Duy thức luận.
- Mặc dù sự nổi tiếng của ngài Huyền Trang là không thể bác bỏ, uy tín của ngài không thể nào truyền sang một cách tự nhiên cho ngài Khuy Cơ, người còn phải chen vai với vài đối thủ dai sức, như ngài Pháp Tạng (Fazang), nhà tư tưởng nền tảng của sau này trở thành Hoa Nghiêm tông. Về mặt lịch sử, ngài Pháp Tạng chứng tỏ rằng đã chiến thắng ngài Khuy Cơ, vì ảnh hưởng giáo lý chính thống của ngài Huyền Trang đã sút giảm nhanh chóng vào thời ngài Khuy Cơ.
- Ngay cả trong số môn đệ của ngài Huyền Trang, có một số tranh cãi ai là người được truyền pháp chính thức, và điểm then chốt chứng tỏ giao cho ngài Khuy Cơ và các cộng sự qua lời tuyên bố sẽ tiếp tục truyền bá sự nghiệp của ngài Huyền Trang, do ngài Khuy Cơ đã tiếp truyền được mật ý của ngài Huyền Trang, qua sự suy đoán mà riêng ngài Khuy Cơ đã có được để đưa vào Thành Duy thức luận. Nhân vật thừa kế đối thủ là một Tăng sĩ Triều Tiên là ngài Viên Trắc (Wonch’uk), có một luận giải về Thành Duy thức luận. Ngài Khuy Cơ có những lời bút chiến chỉ trích rất cay độc về chuyên luận này.
Ngài Khuy Cơ xem Thành Duy thức luận như là một cẩm nang, ngài bác bỏ một số học thuyết sai lầm được gán cho một vài luận sư trong khi xiển dương những kiến giải đúng đắn, trong đó, theo ngài Khuy Cơ là quan niệm bất biến của ngài Pháp Hộ (s: Dharmapāla), một nhà Du-già hành tông Ấn Độ thế kỷ thứ VI. Trong khi Thành Duy thức luận tự nó không bao giờ được gán thêm một điều gì cho một tác giả tiếng Sanskrit nào cả (thực vậy, điều ấy không bao giờ được đề cập hoặc ghi đâu đó trong Thành Duy thức luận), ngài Khuy Cơ đã kén chọn sự gán ép ấy, nhưng, ít nhất trong trường hợp một luận giải tiếng Sanskrit hiện đang còn lưu hành lại ngược với những gì chúng ta có thể kiểm chứng được, đó là luận giải của ngài An Huệ (s: Sthiramati), một nhà Du-già hành tông Ấn Độ quan trọng thế kỷ thứ V-VI, sự gán buộc của ngài Khuy Cơ là sai lạc.
Một bản miêu tả ngài Khuy Cơ đưa ra về sự bí mật khi truyền trao một luận giải của ngài Pháp Hộ cho ngài Huyền Trang bởi một cư sĩ đệ tử của ngài Pháp Hộ khi ngài Huyền Trang ở Ấn Độ, điều này có phần mâu thuẫn và ngược với những dữ kiện đương thời, cho biết sự chuyển giao như vậy không hề xảy ra. Ngài Khuy Cơ có khả năng sáng chế ra chuyện này để bênh vực cho tuyên bố riêng của ngài về trách nhiệm, vì lẽ ra ngài phải được kế thừa từ bản văn ‘bí mật’ này từ ngài Pháp Hộ đến Huyền Trang.
Như vậy, dù truyền thống các nước Đông Nam Á vẫn trước sau như một dựa vào luận giải của ngài Khuy Cơ để dịch, nhưng vẫn thừa nhận nó đã trình bày và thách thức quan điểm của ngài Pháp Hộ, điều này có lẽ là sự cường điệu, nếu không nói là hoàn toàn hư cấu. Ngài Khuy Cơ đã có nhiều điều để được hoặc ngài nghĩ như thế khi thu nạp thêm độc quyền về Thành Duy thức luận, nhưng ngài có lẽ đã quá hăng hái và hơi quá mức khi phê phán sự vận dụng những quyền này.
V. LUẬN ĐIỂM QUAN TRỌNG TRONG THÀNH DUY THỨC LUẬN
Lấy Duy thức Tam thập tụng của ngài Thế Thân để làm cấu trúc bộ khung, Thành Duy thức luận là một bách khoa hạng mục của giáo lý Du-già hành tông chính thống. Luận bao gồm những thảo luận chi tiết về 8 thức, 100 pháp, ba tự tánh, thuyết duyên sanh Phật giáo, Duy thức tu đạo ngũ đạo vị, cũng như nhiều đề tài khác liên quan đến Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII. Do vì luận văn này không chỉ là bản dịch, dù các bản dịch của ngài Khuy Cơ có được tuân thủ, nó chỉ lưu lại cho chúng ta nguồn gốc triết học và học thuyết mà ngài Huyền Trang đã dựa vào (ngoài Đại Đường Tây vực ký – Record of Western Landsra, còn có chất cảm hứng hơn là chất học thuyết và triết lý, và cuốn Bát thức quy củ tụng (c: Bashi guizhu song; Verses on the Structure of the Eight Consciousnesses) là tác phẩm thể thi kệ súc tích cô đọng bao trùm một vài đề tài như Thành Duy thức luận, và, ngoài Thành Duy thức luận cùng ngoài Đại Đường Tây vực ký ra, đó chính là tác phẩm bằng tiếng Hán do ngài Huyền Trang soạn chứ không phải là bản dịch). Có vài ý tưởng chủ đạo rất trái ngược với những ý tưởng thường được Phật giáo Trung Hoa chấp nhận trong thời đó. Trong khi thuật ngữ Như Lai tạng Tathāgata-garbha chưa bao giờ xuất hiện trong Thành Duy thức luận (dù ngài Huyền Trang thường đề cập nhiều lần A-lại-da thức (ālayavijñāna) là tàng thức[9]. Thuật ngữ Như Lai tạng trong tiếng Hán là do so sánh tính chất ‘thanh tịnh,’ ‘vô vi’ của Như Lai tạng với hư không[10], bao trùm khắp nơi, trong khi chẳng có gì ngăn ngại nó cũng chẳng ngăn ngại cái gì. Thành Duy thức luận tranh cãi rằng ‘hư không’ là một cấu trúc tâm linh phát sinh bởi tập quán quán sát vào hình tượng của hư không vốn đã từng nghe nói đến. Tất cả pháp ‘vô vi’ đều tương tự với ngôn ngữ hư cấu, kể cả một trong những từ đồng nghĩa quan trọng nhất của Như Lai tạng là Chân như[11] (đối với trong Phật giáo Trung Hoa, thuật ngữ Chân như gợi lên nhiều ý niệm siêu hình, đối mặt với thực tại, rõ ràng là chỉ có thể tiếp cận với giác ngộ. Thành Duy thức luận nói: “Các pháp vô vị chỉ là giả danh[12], an lập trên nền tảng của chân như, và chân như cũng là giả danh… Chúng ta không phải như những tông phái khác, tuyên bố rằng ngoài sắc, tâm…có một pháp có thật, thường hằng được gọi tên là ‘chân như. Thay vì vậy, (chúng ta nói rằng các pháp vô vị hoàn toàn không hiện hữu thực sự.”
Thành Duy thức luận phản đối ba ‘mức độ’ của thực tại:
- Biến kế sở chấp: gồm những ảo tưởng luận lý học, những tưởng tượng sai lầm (ví dụ như ảo giác).v…
- Giả danh: là những khái niệm ngôn ngữ hư dối được tạo ra thay vì các pháp hiện hữu thực sự. Đối với Thành Duy thức luận, đây là con dao hai lưỡi, vì những hư giả này có thể dẫn dắt con người tin và chấp trước vào các pháp hư vọng, các pháp giả tạm (ví dụ như ý niệm chân như) có thể giúp con người thoát khỏi những khái niệm giả tạm khác.
- Thực hữu: Thành Duy thức luận định nghĩa sát-na sinh khởi do nhân duyên, và tạo ra một kết quả đáng kể. Thế nên cái gì thường hằng và không thể quán sát được như Thượng đế, Chân như, là không có thật, trong khi sát-na của thức nhận biết là thực. Tất cả 3 tầng bực này đều được định nghĩa sâu hơn là ‘chân lý quy ước’.[13] Còn ‘chân lý tối hậu’ hoặc ‘chân lý cứu cánh’[14] chính là dòng chảy của trùng trùng duyên khởi, là duyên khởi tính.[15]
Tư tưởng Như Lai tạng, đặc biệt được xiển dương bởi nhà phiên dịch Chân Đế (s: Paramārtha), cụ thể hóa Tâm là chân thực, là nguyên nhân thường hằng của vạn pháp, được thừa nhận là thành phần cấu thành giác ngộ. Thành Duy thức luận phân biệt rõ ràng riêng cách dùng của thuật ngữ ‘Duy thức’ và ‘Duy tâm’ từ tư tưởng ấy. “Để khiển trừ kiến chấp sai lầm khi quan niệm rằng tâm và tâm sở pháp[16] là những danh từ nhận thức thực sự tồn tại, chúng ta cho rằng chỉ có thức là hiện hữu. Nếu quý vị chấp rằng ‘chỉ có thức là thực sự hiện hữu, thì chẳng khác gì chấp trước vào trần cảnh, có nghĩa là, chấp vào pháp khác.” Trần cảnh bị khiển trừ để tập chú vào nhận thức luận với thực tế là bất kỳ cái gì được nhận thức trực tiếp đều diễn ra trong thức; đó là chúng ta bị mắc bẫy trong tấm kính tự khen mình, đó là vấn đề, chứ không phải là cách giải quyết. Phá vỡ sự kết thúc nhận thức luận bằng cách chuyển thức thành trí[17] là mục đích của Thành Duy thức luận.
Cuối cùng, ý tưởng người Trung Hoa có nhiều tranh cãi xuất phát từ cách dùng ẩn dụ chủng tử trong Thành Duy thức luận. Trong luận cho rằng mỗi dòng nghiệp thức đều có ‘chủng tử’ vốn được thừa kế từ vô thỉ cũng như những chủng tử mà nó huân tập được do mới trải nghiệm (huân tập và hiện hành).
Thành Duy thức luận phân loại giáo lý Đại thừa thành năm chủng tánh[18]. Mỗi chúng ta được kế thừa quyết định năng lực tâm linh của mỗi hữu tình. Ba chủng tính biểu tượng cho ba hình tượng của bậc giác ngộ trong truyền thống đạo Phật: A-la-hán (người giác ngộ qua tu tập theo Phật pháp), Bích chi Phật (người giác ngộ nhờ tự mình nhận ra lý duyên sinh vận hành và chi phối vạn hữu) và Bồ-tát (người giác ngộ qua tu tập pháp Đại thừa). Mỗi chủng tánh này đều có, nhưng không phải là tất cả mọi chủng tử thanh tịnh dẫn đến giác ngộ, vậy nên mức độ giải thoát dứt khoát phải tuỳ thuộc theo đó. A-la-hán có ít, Bồ-tát có nhiều, Bích chi Phật ở khoảng giữa. Mọi hữu tình có được chủng tử hoàn toàn thanh tịnh đều có thể thành Phật. Cuộc tranh cãi về bất kỳ hữu tình hoàn toàn không chủng tử thanh tịnh này thì không có khả năng thành Phật. Điều này đã xâm phạm đến ý niệm cố hữu của Phật giáo Trung Hoa vốn xuất phát từ Kinh Niết-bàn và những bộ kinh thông dụng khác ở Trung Hoa, chủ trương rằng Phật tánh trùm khắp, thế nên mọi chúng sinh đều có năng lực giác ngộ. Không có học thuyết nào trong Thành Duy thức luận bị tấn công kịch liệt bởi các đối thủ như học thuyết này.
VI. DI SẢN CỦA NGÀI HUYỀN TRANG VỚI SỰ NGHIỆP PHIÊN DỊCH VÀ TÁC PHẨM
Trong tất cả các tác phẩm dịch thuật của ngài Huyền Trang, bộ kinh duy nhất vẫn thông dụng, được đọc tụng hằng ngày trong các chùa chiền, tu viện khắp các nước Đông Nam Á suốt hơn ngàn năm nay đó là Bát-nhã Tâm kinh. Câu kinh nổi tiếng là: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, đó cũng là lời mà ngài tụng lúc sắp viên tịch.
- Năm 645
- ĐẠI BỒ-TÁT TẠNG KINH
大菩薩藏經 Ta p’u-sa tsang ching (20 quyển) (s: Bodhisattva pițaka-sūtra; e: Sutra of the Scriptural-basket of the Great Bodhisattva). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.11.310 (kinh số 12, phần 35-54). Dịch tại chùa Hoằng Phước (弘福寺; c: Hung-fu; e: Vast Prosperity Monastery).
Ghi chú: Đây là một phần của kinh Đại Bảo tích Ratnakūta sūtra. Phần lớn kinh này được dịch bởi ngài Bồ-đề Lưu-chi (706) và Trúc Pháp Hộ (Dharmarakşa) năm 313, dù nhiều tác giả khác cũng đã góp phần trích dịch từng chương. Theo truyện ký của ngài Huyền Trang, bộ kinh sau cùng ngài được thỉnh ý dịch là bộ kinh Đại Bảo tích (Ratnakūta sūtra) hoàn chỉnh. Ngài đã chấp bút, nhưng tuổi già và bệnh tật đã làm trở ngại công trình. Vì ĐẠI BỒ-TÁT TẠNG KINH là bản kinh đầu tiên ngài dịch từ khi trở về nước, nên bản kinh này được lưu truyền rộng rãi khắp nơi.
- HIỂN DƯƠNG THÁNH GIÁO LUẬN TỤNG
顯揚聖教論頌 Hsien-yang sheng-chiao lun sung (1 quyển) (s: Prakaraņāryavākā; e: Exposition of the arya Teachings, Verse Treatise). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.31.1603. Dịch vào ngày 8 tháng 7 tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Ngài Vô Trước.
Ghi chú: Đây là luận văn của ngài Vô Trước, lập nền tảng trên bộ Du-già sư địa luận – Yogācābhūmi (xem mục số 10 dưới đây). Tương truyền ngài Trần-na (Dignāga) có viết luận giải về chương thứ IX của bản này có tên Nhập Du-già luận (Yogāvatāra), nay đã thất lạc.
- PHẬT ĐỊA KΙΝΗ
佛地經 Fo ti ching (1 quyển) (s: Buddha-bhūmi sūtra; e: Buddha-Stage Sutra). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.16.680. Dịch ngày 12 tháng 8 tại chùa Hoằng Phước.
- LỤC MÔN ĐÀ-LA-NI KINH
六門陀羅尼經 Liu-men t’o-lo-ni ching (1 quyển) (s: Sanmukhi-dhāranī; e: Six Gates Dharanī Sutra). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.21.1360. Dịch ngày 11 tháng 10 tại chùa Hoằng Phước.
Ghi chú: 6 cửa chính là 6 giác quan; Đà-la-ni (Dhāranī), cũng như các thần chú, dùng trong nghi lễ tụng niệm hoặc để cầu nguyện.
- HIỂN DƯƠNG THÁNH GIÁO LUẬN
顯揚聖教論 Hsien-yang sheng-chiao lun (20 quyển) (e: Exposition of the Arya Teachings). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.31.1602. Dịch từ tháng 10 năm 645 đến tháng 2 năm 646 tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Ngài Vô Trước (Asanga 無著).
Ghi chú: Đây là luận giải Hiền dương thánh giáo luận tụng (顯揚聖教論頌;s: Prakaraņāryavākā) của ngài Vô Trước.
- Năm 646
- ĐẠI THỪA A-TỲ-ĐẠT-MA TẠP TẬP LUẬN
大乘阿毗達摩雜集論 Ta-sheng a-p’i-t’a-mo tsa-chi lun (16 quyển) (s: Abhidharmasamuccaya-vyākhyā; e: Mahāyāna Abhi dharma Mixed-Collection Treatise). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.31.1606. Dịch từ ngày 7 tháng 3 đến ngày 19 tháng 4 tại chùa Hoằng Phước, Hung-fu Monastery. Tác giả: An Huệ (Sthiramati 安慧).
Ghi chú: Là chú giải của ngài An Huệ nhan đề Tạp tập luận (Tsa-chi lun 雜集論), luận giải về A-tỳ-đạt-ma tập luận Abhidharmasamuccaya của ngài Vô Trước, gọi tắt là Tập luận (c: Chi lun 集論). Đây là tác phẩm duy nhất của ngài An Huệ được ngài Huyền Trang dịch. Ngài Khuy Cơ có viết luận giải về tác phẩm này. Tây Tạng xem ngài Tối Thắng tử (Jinaputra) là tác giả bộ luận này.
- ĐẠI ĐƯỜNG TÂY VỰC KÝ
大唐西域記 Great T’ang Record of Western Regions (12 quyển) (c: Ta-T’ang Hsi- yü chi). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.51.2087. Viết tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Huyền Trang 玄奘.
Ghi chú: Tác phẩm này viết theo lệnh của Hoàng đế, đây là kí sự của ngài Huyền Trang về chuyến hành hương sang các nước vùng Trung Á và Ấn Độ, đến nay vẫn còn là một kí sự có giá trị nhất về những vùng đất này trong thế kỷ thứ VII. Tác phẩm bao gồm những tư liệu về phong tục, sự tích Phật giáo, dân số v.v… Đại Đường (Great T’ang) chỉ cho triều đại nhà Đường, và trong ý nghĩa rộng hơn thì đây là tên gọi của nước Trung Hoa thời bấy giờ.
- Năm 647
- ĐẠI THỪA NGŨ UẨN LUẬN
大乘五蘊論 Ta-sheng wu-yun lun (1 quyển) (s: Pańcaskandhaka-prakaraņa, e: Mahāyāna Treatise on the Five Skandhas). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.31.1612. Dịch từ ngày 4 tháng 4 tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Thế Thân 世親).
Ghi chú: Là một bộ luận Tiền Du-già hành tông của ngài Thế Thân.
- NHIẾP ĐẠI THỪA LUẬN VÔ TÁNH THÍCH
攝大乘論無性釋She ta-sheng lun wu-hsing shih (10 quyển) (s:
Mahāyānasangrahopani-Bandhana; e: Asva bhāva’s commentary on the Mahāyānasangraha). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.31.1598. Dịch từ ngày 10 tháng tư năm 647 đến ngày 31 tháng 7 năm 649. Tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Vô Tánh (s: Asvabhāva 無性).
Ghi chú: Là chú giải của ngài Vô Tánh về Nhiếp Đại thừa luận (s: Mahāyāna- samgraha 攝大乘論) của ngài Vô Trước, một trong vài bản dịch của Nhiếp Đại thừa luận do ngài Huyền Trang dịch như là nỗ lực điều chỉnh lại những sai lầm trong Phật giáo Trung Hoa xuất phát từ bản dịch của ngài Chân Đế. Nhiếp Đại thừa luận (s: Mahāyāna-samgraha 攝大乘論) hay gọi tắt là Nhiếp luận (She-lun 攝論), là luận văn căn bản của nhóm đệ tử của ngài Chân Đế.[19]
- DU GIÀ SƯ ĐỊA LUẬN
瑜伽師地論 Yü-ch’ieh shih-ti lun (100 quyển) (s: Yogācārabhūmi śāstra; e: Stages of Yoga Practice Treatise). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.30.1579. Dịch từ ngày 3 tháng 7 năm 646 đến ngày 11 tháng 6 năm 648 tại chùa Hoằng Phước và chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Bồ-tát Di-lặc (Maitreya 彌勒). Ghi chú: Tác phẩm đồ sộ này, trong truyền thống Trung Hoa được gán cho ngài Di-lặc, và theo truyền thống Tây Tạng thì xem là của ngài Vô Trước. Đối với ngài Huyền Trang thì xem đó như là bộ bách khoa toàn thư về Du-già hành tông, ngài sang Ấn Độ vốn cũng vì cố tìm được toàn văn bộ luận này. Ngài Chân Để cũng đã dịch một phần bộ luận này (T.30.1584).
- GIẢI THÂM MẬT KINH
解深密經 Chieh shen mi ching (5 quyển) (s: Sandhinir mocana sūtra; e: Sutra Explaining the Deep Secret). T.16.676. Dịch từ tháng 8 tại chùa Hoằng Phước.
Ghi chú: Kinh Giải thâm mật (s: Samdhinirmocana) được xem thường được xem là bộ kinh đầu tiên diễn bày giáo lý Du-già hành tông một cách đặc biệt rõ ràng, như các ý niệm ‘Duy thức – vijñapti-mātra’, ‘Tam tự tính-tri – svabhāva, v.v… Kinh này được dịch sang tiếng Hán nhiều lần, gồm có bản dịch của ngài Bồ-đề Lưu-chi (trong 514, T.16.675), bản của ngài Chân Đế (trong 557, T.16.677), và bản của ngài Cầu-na-bạt-đà-la (Gunabhadra) (trong 557, T.16.677), và (trong 435- 43, T.16.678 và 679).
- NHÂN MINH NHẬP CHÍNH LÝ LUẬN
因明入正理論 Yin ming ju cheng-li lun (1 quyển) (s: Nyāyapraveśa; e: Introduction to Logic). Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.31.1630. Dịch từ ngày 10 tháng 9 tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Thương Yết La Chủ (Sankarasvāmin商羯羅主).
Ghi chú: Là bản văn về Luận lý học Ấn Độ đầu tiên được dịch sang tiếng Hán. Trình bày khái quát Luận lý học của ngài Trần-na (Dignāga). Mười Tăng sĩ Phật giáo viết luận giải về tác phẩm này không tương xứng nhau. Một vị triều thần theo Đạo Lão tên Lü Tsai, khi viết về ứng dụng âm dương vào trong nguyên lý vũ trụ Trung Hoa, đã xúc phạm đến Phật giáo, dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong triều chính, chuyện này được dẹp yên chỉ nhờ vào khi ngài Huyền Trang được vua thỉnh vẫn và xác quyết rằng luận giải của Lũ hoàn toàn sai lầm.
- Năm 648
- THIÊN THỈNH VẤN KINH
天請問經 T’ien ch’ing-wen ching (1 quyển) (s: Devatā sūtra; e: Questioning Devas Sutra). T.15.593. Dịch xong ngày 17 tháng 4 tại chùa Hoằng Phước.
- THẬP CÚ NGHĨA LUẬN
十句義論 Shih-chü yi lun (1 quyển) (s: Vaiśeşika- daśapadārtha śāstra; e: Treatise on the Ten Padarthas). T.54.2138. Dịch xong ngày 11 tháng 6 tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Huệ Nguyệt (s: Maticandra 慧月). Ghi chú: Là một luận văn của phái Thắng luận (Vaiśeşika) Ấn Độ. Cú (句; s: Padārthas) ở đây có nghĩa là thành phần cơ bản của thực tại (e: reality). Phái Thắng luận thường đề ra Cửu cú nghĩa hơn là Thập cú nghĩa.
- DUY THỨC TAM THẬP LUẬN
唯識三十論 Wei-shih san-shih lun (1 quyền) (s: Trimśikā; e: Thirty Verses on Vijñapti-mātra Treatise) T.31.1586. Dịch xong ngày 25 tháng 6 tại chùa Hoằng Phước. Tác giả: Thế Thân (Vasubandhu 世親).
Ghi chú: Là bản gốc của luận văn mà Thành Duy thức luận dùng làm cơ sở. Nhan đề tiếng Hán của luận văn này được dịch sang tiếng Sanskrit là Trimśikā vijñapti-mātra śāstra.
- KIM CANG BÁT NHÃ KΙΝΗ
金剛般若經 Chih-kang po-lo ching (1 quyển) (s: Vajracchedikā sūtra; e: Diamond Sutra). T.7.220. Dịch tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Có nhiều bản dịch Kinh Kim Cương, gồm bản của ngài Cưu-ma-la-thập (năm 401), Bồ-đề Lưu-chi (năm 509), ngài Chân Đế (năm 558), ngài Nghĩa Tịnh (I-ching, năm 703), nhưng bản dịch của ngài Huyền Trang trở thành thông dụng nhất tại các nước Đông Nam Á.
- BÁCH PHÁP MINH MÔN LUẬN
百法明門論 Pai -fa ming-men lun (1 quyển) (s: Mahāyāna śatadharmā- prakāśamukha śāstra; e: (Lucid Introduction to the One Hundred Dharmas). T.31.1614. Dịch xong ngày 7 tháng 12 tại viện Hoằng Pháp (c: Hung Fa Hall 弘 法院). Tác giả: Thế Thân (Vasubandhu 世親).
Ghi chú: Ngài Thế Thân phân loại 100 pháp theo quan điểm của Du-già hành tông.
- NHIẾP ĐẠI THỪA LUẬN THẾ THÂN THÍCH
攝大乘論世親釋 She ta-sheng lun shih-ch’in shih (10 quyển) (s: Mahāyānasangraha-bhāṣya; e: Vasubandhu’s commentary on the Mahāyānasangraha). T.31.1597. Dịch tại Điện Bắc Quyết (Northern Palace 北闕) và chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thế Thân (Vasubandhu 世親).
- Năm 649
- NHIẾP ĐẠI THỪA LUẬN BẢN
She ta-sheng lun pen攝大乘論本 (3 quyển) (s: Mahāyānasangraha; e: Encyclopedia of Mahāyāna). T.31.1594. Dịch từ ngày 14 tháng 1 đến ngày 31 tháng 7 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Vô Trước 無著
Ghi chú: Bản dịch của ngài Chân Đế về luận này rất thông dụng vào thế kỷ thứ 6 ở Trung Hoa và ảnh hưởng của nó vẫn còn lan tỏa cho đến thời ngài Huyền Trang. Việc ngài Huyền Trang chọn để dịch toàn bộ luận giải về Nhiếp luận (She lun 攝論) – mục 9 và 18 ở trên – trong đó có một bản của ngài Thế Thân, trước khi dịch bản gốc chứng tỏ rằng ngài muốn điều chỉnh lại những ý niệm sai lầm được truyền sang Trung Hoa qua bản dịch của ngài Chân Đế. Trước khi đưa ra một bản dịch khác của luận văn này, ngài Huyền Trang đưa ra những căn cứ của luận giải để chữa bớt những sai lầm trong bản dịch của ngài Chân Đế.
- DUYÊN KHỞI THÁNH ĐẠO KΙΝΗ
緣起聖道經 Yüan-ch’i sheng-tao ching (1 quyển) (s: Nidāna sūtra; e: Sutra of Arya Teachings on Conditioned Arising). T.16.714. Dịch xong ngày 17 tháng 2 tại Viện Hoằng Pháp.
Ghi chú: Là bộ kinh nói về lý duyên khởi (s: pratītya-samutpāda).
- THỨC THÂN TÚC LUẬN
識身足論 Shih-shen tsu lun (16 quyển) (s: Abhidharma Vijñāna-kāya pāda śāstra; e: Discourse on Consciousness Body). T.26.1539. Dịch từ ngày 3 tháng 3 đến ngày 19 tháng 9 tại chùa Hoằng Phước và chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Đề-bà Thiết-ma (s: Devaksema 提婆設摩).
Ghi chú: Đây là luận văn thứ 3 trong tạng A-tỳ-đạt-ma của Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda).
- NHƯ LAI THỊ GIÁO THẮNG QUÂN VƯƠNG KINH
如來示教勝軍王經 Ju-lai shih-chiao sheng chün wang ching (1 quyển) (s: Rājavavādaka sūtra; e: Sutra where Tathagata Reveals Teachings to King Prasenajit). T.14.515. Dịch xong ngày 24 tháng 3 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Đức Phật dạy vua Ba-tư-nặc (s: Prasenajit; Thắng Quân 勝軍) làm thế nào để trở nên một vị minh quân. Đối với ngài Huyền Trang, kinh này có thể có ít nhất hai ý nghĩa: Thứ nhất, một ngài bạn và là thầy của ngài ở Ấn Độ cũng có tên là Thắng Quân 勝軍) – xem chương 19 trong Buddhist Phenomenology. Vua Ba-tư-nặc là người cùng thời với Đức Phật và có cùng tuổi, sinh cùng ngày với Đức Phật, vua kế vị vương quyền từ vua cha, trong khi Đức Phật từ bỏ ngai vàng để trở thành một vị tỷ-khưu; vua Ba-tư-nặc sau cùng trở thành đệ tử Phật. Thứ hai, đó là câu trả lời cho Hoàng đế Trung Hoa, do tham vọng quân sự, đã bắt ngài Huyền Trang phải tiết lộ những tin tức về những lãnh thổ phía tây Trung Hoa. Đại Đường Tây vực ký (mục 7 ở trên) là câu trả lời, trong đó chỉ đưa ra những tin tức về các chùa chiền, tu viện, địa lý, và phong tục, ít có tư liệu nào dùng cho quân sự.
- THẬM HY HỮU KINH
甚希有經 Shen hsi yu ching (1 quyển) (s: Adbhūta-dharma-paryāya sūtra; e: Sutra on Most Rarified Existence). T.16.689. Dịch xong ngày 2 tháng 7 tại cung Thuý Vi (Ts’ui-wei Palace 翠微宮, Chung Nam sơn 終南山).
- BÁT NHÃ TÂM KINH
般若心經 Po-lo hsin ching (1 quyển) (s: Prajñā-pāramitā hṛdaya sūtra; e: Heart Sutra) T.8.251. Dịch xong ngày 8 tháng 7 tại cung Thuý Vi.
Ghi chú: Tên gọi đầy đủ là Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh (般若波羅密多心經). Được dịch nhiều lần sang tiếng Hán, bản dịch của ngài Huyền Trang trở thành bản dịch tiêu chuẩn, rất thông dụng tại Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản, bản này được tụng đọc hằng ngày bởi chư tăng và cư sĩ khắp các nước Đông Nam Á cả ngàn năm nay. Có rất nhiều bản dịch tiếng Anh.
- BỒ TÁT GIỚI YẾT-MA VĂN
P’u-sa chieh chieh mo 菩薩戒羯磨文 (1 quyển) (e: Elaboration of On Conferring Bodhisattva Vinaya). T.24.1499. Dịch xong ngày 28 tháng 8 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Bồ-tát Di-lặc (s: Maitreya 彌勒).
Ghi chú: Tác phẩm này được rút ra từ Du-già sư địa luận (Yogācārabhūmi) – xem mục 10 ở trên.
- VƯƠNG PHÁP CHÍNH LÝ KINH
王法正理經 Wang fa cheng-li ching (1 quyển) (e: Sutra of [Maitreya’s] Correct Principles of Royal Rule). T.31.1615. Dịch xong ngày 31 tháng 8, tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Bồ-tát Di-lặc (s: Maitreya 彌勒).
- TỐI VÔ TỈ KINH
最無比經 Tsui wu-pi ching (1 quyển) (E: Supreme Incomparable Sutra). T.16.691. Dịch xong ngày 1 tháng 9 tại chùa Đại Từ Ân.
- BỒ TÁT GIỚI BẢN
菩薩戒本 P’u-sa chieh pen (s: Bodhisattva-śīla sūtra; e: On Conferring Bodhisattva Vinaya), 1 quyền. T.24.1501. Dịch xong ngày 3 tháng 9 năm 647 tại chùa Đại Từ Ân hoặc cung Thuý Vi. Tác giả: Bồ-tát Di-lặc (s: Maitreya 彌勒).
Ghi chú: Bồ-tát giới bản (Bodhisattva Pratimokşa), được truyền thống Trung Hoa cho là của ngài Di-lặc, trong khi truyền thống Tây Tạng cho là của ngài Vô Trước. Bản này được xem là giới luật của Du-già hành tông, là nghi thức sám hối thường kỳ của chung Tăng ni. Bản Yết-ma mục 25 ở trên được phát triển từ bản gốc này.
- ĐẠI THỪA CHƯỞNG TRÂN LUẬN
大乘掌珍論 Ta-sheng chang chen lun (2 quyển) (s: Karatala-ratna; s: Mahāyāna Jewel in the Palm Treatise). T.30.1578. Dịch từ ngày 19 đến 24 tháng 10 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thanh Biện (s: Bhāvaviveka 清辯).
Ghi chú: Đây là luận văn Trung quán (Madhyamaka) đầu tiên được dịch bởi ngài Huyền Trang. Những tranh luận giữa phái Trung quán và Du-già hành tông nổi lên khi ngài Huyền Trang đang ở học viện Na-lan-đà, tập trung vào học thuyết của ngài Thanh Biện (thuộc phái Trung quán) bên kia là ngài An Huệ (s: Sthiramati) và Pháp Hộ (s: Dharmapāla) – đại diện cho Du-già hành tông.
- PHẬT ĐỊA KINH LUẬN
佛地經論 Fo ti ching lun (7 quyển) (s: Buddhabhūmi-sūtra śāstra; e: Treatise on the Buddha-Stage Sutra). T.26.1530. Dịch từ ngày 12 tháng 11 năm 649 đến ngày 2 tháng 1 năm 650. Tác giả: Thân Quang (s: Bandhuprabha 親光), và nhiều người khác.
Ghi chú: Gồm nhiều luận giải về Phật địa kinh (Buddha-bhūmi). Do một số đoạn lập lại trong Thành Duy thức luận, nên có vài suy đoán rằng những đoạn kinh trùng hợp có lẽ là của ngài Hộ Pháp (s: Dharmapāla), dù bản văn này cũng như Thành Duy thức luận không nói rọc như thế. Một bản dịch luận giải bằng tiếng Tây Tạng cũng có những đoạn kinh trùng hợp với văn bản này, truyền thống Tây Tạng cho rằng tác giả của luận văn ấy là ngài Giới Hiền (Śīlabhadra), viện trưởng Tu viện Na-lan-đà lúc ngài Huyền Trang đang tu học ở đó.
- Năm 650
Năm đầu tiên Hoàng đế Đường Cao Tông (Kao Tsung 高宗) trị vì. Vua cha là Đường Thái Tông (T’ai Tsung 太宗) rất sung bái ngài Huyền Trang. Vua Cao Tông rất tin vào đạo Lão, có ý tưởng rằng mình là con cháu của Lão Tử tái sinh, tiếp tục ủng hộ Phật giáo nhưng không nhiệt tình như trước.
- NHÂN MINH CHÍNH LÝ MÔN LUẬN BẢN
因明正理門論本 Yin-ming cheng-li men lun pen (1 quyển) (s: Nyāyamukha; e: Gateway to Logic). T.31.1628. Dịch xong ngày 1 tháng 2 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Trần-na (s: Dignāga 陳那)
Ghi chú: Một trong những tác phẩm căn bản về Nhân minh luận của ngài Trần- na.
- XƯNG TÁN TỊNH ĐỘ PHẬT NHIẾP THỌ KINH
稱讚淨土佛攝受經 Ch’eng-tsan ching-t’u fo she-shou ching; (1 quyển) (s: Sukhāvatī-vyūha; e:Sutra In Praise of the Pure Land). T.12.367, dịch tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Một bản kinh quan trọng của Tịnh độ tông, thường được gọi là Tiểu bổn A-di-đà kinh (Smaller Sukhāvati Sutra).
- DU GIÀ SƯ ĐỊA LUẬN THÍCH
瑜伽師地論釋 Yü-ch’ieh shih-ti lun shih (1 quyển) (s: Yogācārabhūmi-śāstra- kārikā; e: Explanation of the Stages of Yoga Practice Treatise). T.30.1580. Tác giả: (s: Jinaputra 最勝子).
Ghi chú: Là luận giải của ngài Tối thắng Tử về Du-già sư địa luận Jinaputra’s Yogācārabhūmi (10). Có bản tiếng Sanskrit, được dịch sang tiếng Pháp do Sylvain L’evy, 2 quyển, Paris, 1911.
- PHÂN BIỆT DUYÊN KHỞI SƠ THẮNG PHÁP MÔN KINH
分別緣起初勝法門經 Fen-pieh yüan-ch’i ch’u-sheng fa-men ching (2 quyển) (s: Vikalpa-pratītya-samutpāda-dharmottara-praveśa sūtra; e: Sutra on The Primacy of the Dharma Gate Distinguishing Conditioned Arising. T.16.717. Dịch xong ngày 10 tháng 3 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Một bản kinh khác với nội dung Duyên khởi (s: pratītya-samutpāda).
- THUYẾT VÔ CẤU XƯNG KINH
說無垢稱經 Shuo Wu-kou ch’eng ching (6 quyển) (s: Vimalakīrti-nirdeśa sūtra; e: Sutra of the Teachings of Vimalakīrti). T.14.476. Dịch tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Kinh này rất thông dụng ở Trung Hoa vì nhân vật chính trong kinh là một cư sĩ giác ngộ, trí huệ vượt trội hẳn các đệ tử Thanh văn thượng thủ của Đức Phật, biểu tượng cho hàng cư sĩ cũng có thể đạt đến cảnh giới giác ngộ cao nhất. Kinh này được dịch năm lần trước bản dịch của ngài Huyền Trang: Bản của ngài Cưu-ma-la-thập (năm 406), ngài Chi Khiêm (Chih-ch’ien, năm 223 đến 228), ngài Trúc pháp Hộ (竺法護 Dharmarakșa, năm 308), ngài Upaśūnya (năm 545), và ngài Xà-na Quật-đa (s: Jñānagupta, năm 591). Bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập vẫn là bản thông dụng nhất, vì phần lớn nhờ vào sự đặc sắc văn chương.
- DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BẢN NGUYỆN CÔNG ĐỨC KINH
藥師(流璃光如來)本願功德經 Yao-shih (liu li kuang ju-lai) pen-yüan kung-te ching (1 quyển) (s: Bhaisajya-guru-vaidūrya-prabhāsa-pūrvapraņidhāna viśeṣa – vistara; e: The Meritorious Original Vow of the Medicine Master [Lapis Lazuli Radiance Tathāgata] Sutra). T.14.450. Dịch xong ngày 9 tháng 6 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Là bản kinh quan trọng về Đức Phật Dược Sư (e: Medicine Buddha). Tại Nhật Bản, Pháp tướng tông (Hossō) sớm có sự liên hệ với Đức Phật Dược Sư (Jp: Yakushi), và ngay cả ngày nay, nhiều chùa còn lại từ thời Nại Lương (Nara) vẫn còn những điện thờ Đức Phật Dược Sư (j: Yakushi), gồm cả những ngôi chùa chính của Pháp tướng tông với tên Dược Sư tự (j: Yakushiji; e: Medicine Buddha Monastery).
- ĐẠI THỪA QUẢNG BÁCH LUẬN BẢN
大乘廣百論本 Ta-sheng kuang pai lun pen (1 quyển) (s: Catuḥśataka; e: Mahāyāna-Vaipulya One Hundred Treatise) T.30.1570. Dịch từ ngày 13 tháng 7 năm 650 đến ngày 30 năm 651 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thánh Thiên (s: Āryadeva 聖天).
Ghi chú: Là một luận văn quan trọng về Trung quán của ngài Thánh Thiên, đệ tử chính của ngài Long Thụ.
- ĐẠI THỪA QUẢNG BÁCH LUẬN THÍCH LUẬN
大乘廣百論釋論 Ta-sheng kuang pai lun shih-lun (10 quyển) (e: Commentary on the Mahāyāna-Vaipulya One Hundred Treatise). T.30.1571. Dịch từ ngày 30 tháng 7 năm 650 đến ngày 30 tháng 1 năm 651 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thánh Thiên (s: Āryadeva 聖天) và Hộ Pháp (s: Dharmapāla 護法).
Ghi chú: Là luận giải của ngài Hộ Pháp (Dharmapāla) về một luận văn của ngài Thánh Thiên (Aryadeva), có nghĩa là luận giải một luận văn của Trung quán phái theo quốc gia của Du-già hành tông. Một vài đoạn văn trong luận văn này được tìm thấy trong Thành Duy thức luận (Ch’eng wei-shih lun).
- BẢN SỰ KINH
本事經 Pen shih ching; s: Itivṛttaka sūtra (7 quyển) (e: Original Events [of the Buddha]). T.17.765. Dịch từ ngày 10 tháng 10 đến ngày 6 tháng 12 tại chùa Đại Từ Ân.
- CHƯ PHẬT TÂM ĐÀ LA NI KINH
諸佛心陀羅尼經 Chu-fo hsin t’o-lo-ni ching (1 quyển) (s: Buddha-hṛdaya-dhāranī; e: Sutra of the Dharanī of the Heart of the Buddhas) T.19.918. Dịch xong ngày 26 tháng 10 tại chùa Đại Từ Ân.
- Năm 651
- THỌ TRÌ THẤT PHẬT DANH HIỆU (SỞ SINH) CÔNG ĐỨC KINH
受持七佛名號(所生)功德經 Shou ch’ih ch’i fo ming-hao (so-sheng) kung-te ching (1 quyển) (e: Receiving Merit [produced by] the Seven Amitabha Buddhas) T.14.436. Dịch xong ngày 4 tháng 2 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Danh hiệu (e: honorific title; c: ming-hao 名號) ở đây là tiêu biểu cho Đức Phật A-di-đà (Amitābha).
- ĐẠI THỪA ĐẠI TẬP ĐỊA TẠNG THẬP LUẬN KINH
大乘大集地藏十輪經 Ta-ch’eng ta-chi-ti-tsang shih lun ching (10 quyển) (s: Daśa- cakra-kşitigarbha sūtra; e: Ten Cakras of Ksitigarbha, Mahāyāna Great Collection Sutra) T.13.411. Dịch từ ngày 18 tháng 2 năm 651 đến ngày 9 tháng 8 năm 652.
Ghi chú: Theo Nakamura, kinh này được sưu tập bởi những Tăng sĩ nói tiếng Iran.
- A TÌ ĐẠT MA TẠNG HIỂN TÔNG LUẬN
阿毘達磨藏顯宗論 A-p’i-t’a-mo hsien tsung lun (40 quyển) (s: Abhidharma- samayapradīpika hoặc Abhidharma kośa-śāstra-kārikā-vibhāṣya; e: Revealing the Tenets of the Abhidharma Treasury). T.29.1563. Dịch từ ngày 30 tháng 4 năm 651 đến ngày 26 tháng 11 năm 652. Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền (s: Sanghabhadra 尊者眾賢).
Ghi chú: Bộ luận này và A-tỳ-đạt-ma Chính lý luận – Nyāyānusāra (mục 49 dưới đây) là 2 luận giải thuộc A-tỳ-đạt-ma tạng của Tôn giả Chúng Hiền (một luận sự của Thuyết Nhất thiết hữu bộ – Sarvāstivādin, ngài đồng thời và trẻ hơn ngài Thế Thân). Tác phẩm này phê phán A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận Kośa (mục 44 ở dưới) của ngài Thế Thân từ quan điểm chính thống của Thuyết Nhất thiết hữu bộ.
- A TÌ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN
阿毘達磨俱舍論 A-p’i-t’a-mo chü-she lun (30 quyển) (s: Abhidharmakośa-bhāṣya; e: Treasury of Abhidharma) T.29.1558 Dịch từ ngày 3 tháng 6 năm 651 đến ngày 13 tháng 9 năm 654 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thế Thân (Vasubandhu 世親).
Ghi chú: Đây là luận giải Tiền-Du-già hành tông quan trọng nhất của ngài Thế Thân, được Trung Hoa gọi tắt là Câu-xá luận (Câu-xá 俱舍 theo lối phát âm vào trước đời Đường gần với phiên âm ko-sha trong tiếng Sanskrit). Gồm những kệ tụng (cũng được dịch riêng trong mục 45 ở dưới) cùng với lời giải thích, Luận Kośa hệ thống và giản lược các học thuyết chủ yếu trong A-tỳ-đạt-ma của Thuyết Nhất thiết hữu bộ, nhưng không thiếu tính phê phán, vì vậy, hấp thu những quan điểm liên quan với những tông phái Phật giáo khác, như Kinh lượng bộ (Sautrāntika). Chính mối quan tâm này cuối cùng đã dẫn ngài Thế Thân trở thành một nhà Du-già hành tông.
- A TÌ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN BẢN TỤNG
阿毘達磨俱舍論本頌 A-p’i-t’a-mo chü-she lun pen-sung (1 quyển) (s: Abhidharmakośa; e: Treasury of Abhidharma, Verses) T.29.1560. Dịch tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thế Thân (s: Vasubandhu 世親).
- ĐẠI THỪA THÀNH NGHIỆP LUẬN
大乘成業論 Ta-sheng ch’eng yeh lun (1 quyển) (s: Karma-siddhi-prakaraņa; e: Mahāyāna Treatise Establishing Karma) T.31.1609. Dịch xong ngày 24 tháng 9 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Thế Thân (s: Vasubandhu 世親).
Ghi chú: Đây là một tác phẩm trung gian của ngài Thế Thân, cho thấy tư tưởng của ngài phát triển từ khi viết Câu-xá luận Kośa nhưng chưa phải như là một nhà Du-già hành tông (Yogācārin).
- Năm 652:
- ĐẠI THỪA A TÌ ĐẠT MA TẬP LUẬN
大乘阿毘達磨集論 Ta-sheng a-p’i-t’a-mo chi lun (7 quyển) (s: Abhidharmasamuccaya; e: Mahāyāna Abhi dharma Compendium). T.31.1605. Dịch từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 3 tháng 4 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Vô Trước (s: Asanga 無著).
Ghi chú: Là một tác phẩm Du-già hành tông quan trọng của ngài Vô Trước, gọi tắt là Tập luận (c: chi lun 集論).
- PHẬT LÂM NIẾT BÀN KÝ PHÁP TRÚ KINH
佛臨涅槃記法住經 Fo lin nieh-p’an chi fa-chu ching (1 quyển) (e: Sutra of the Abiding Dharma Recorded Just Prior to Buddha’s Nirvana). T.12.390. Dịch xong ngày 17 tháng 5 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Kinh trình bày một phiên bản khác của thuyết ‘mạt pháp, trong đó cho rằng Phật pháp sẽ suy yếu theo 10 cấp độ. Mỗi cấp độ chừng một thế kỷ. Vì trong thời gian cuối cùng khi ngài Huyền Trang lưu học ở Ấn Độ, ngài có một giấc mộng không lành, báo trước Phật pháp sẽ chấm dứt ở Ấn Độ, bộ kinh này có lẽ là mối thương cảm sâu sắc của ngài.
- Năm 653
- A TÌ ĐẠT MA THUẬN CHÍNH LÝ LUẬN
阿毘達磨順正理論 A-p’i-t’a-mo hsun cheng-li lun (80 quyển) (s: Abhidharma- Nyāyānusāra śāstra; e: Abhi dharma According with Reason Treatise) T.29.1562. Dịch từ ngày 3 tháng 2 năm 653 đến ngày 27 tháng 8 năm 654. Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền (s: Sanghabhadra 尊者眾賢).
Ghi chú: Là một bộ luận thuộc A-tỳ-đạt-ma của Thuyết Nhất thiết hữu bộ chính thống, do Tôn giả Chúng Hiền biên soạn, ngài cũng là người đã viết một luận văn chỉ trích Câu-xá luận – Kośa (mục 43 ở trên). Bộ luận này dài và dễ hiểu hơn Câu-xá luận.
- Năm 654
- ĐẠI A-LA-HÁN NAN-ĐỀ MẬT-ĐA-LA SỞ THUYẾT PHÁP TRÚ KÝ
大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記 Ta A-lo-han nan-t’i-mi-to-lo so-shuo fa-chu chi (1 quyển) (s: Nandimitrāvadāna; e: Nandimitra’s Record of the Abiding Dharma Explained to the Great Arhats). T.49.2030. Dịch xong ngày 8 tháng 6.
Ghi chú: Gọi tắt là Pháp trú lập (c: Fa-chu li 法住立 (Setting Up the Abiding Dharma). Trích từ Kinh Đại bát Niết-bàn Mahāparinirvāņasūtra (mục 48 ở trên) – trong đó A-la-hán Nan-đề Mật-đa-la thuật lại sự phó chúc Pháp trú cho 16 vị Đại A-la-hán và các đệ tử, khuyên họ hộ trì Phật pháp trước khi Đức Phật nhập niết- bàn.
- XƯNG TÁN ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC KINH
稱讚大乘功德經 Ch’eng-tsan ta-sheng kung-te ching (1 quyển) (e: Sutra on the Merit of Extolling Mahāyāna). T.17.840. Dịch xong ngày 24 tháng 7 tại chùa Đại Từ Ân.
- BẠT TẾ KHỔ NẠN ĐÀ-LA-NΙ ΚΙΝΗ
拔濟苦難陀羅尼經 Pa-chi k’unan to-lo-ni ching (1 quyển) (e: Sutra of the Dharanī that Carries One Over Suffering and Adversity). T.21.1395. Dịch xong ngày 15 tháng 10 tại chùa Đại Từ Ân.
- BÁT DANH PHỔ MẬT ĐÀ-LA-NI KINH
八名普密陀羅尼經 Pa-ming p’u-mi t’o-lo-ni ching (1 quyển) (e: Sutra of the Dharanī of the Universal and Esoteric Eight Names). T.21.1365. Dịch xong ngày 11 tháng 11 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Những người trì niệm 8 danh hiệu này (Diệu tràng nghiêm, Bảo ấn công đức, Bất động, Vân Tế, Sắc từ – (Wondrous Adornment, Jeweled Ocean of Merit, Immovable, Reality Cloud, Lovable Form, etc.) sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, và khi mạng chung, chư Phật sẽ hiện ra để thuyết pháp. Sau khi chết, sẽ được sinh vào cung trời Đâu Suất của Bồ-tát Di-lặc. Theo Mật tông các nước Đông Nam Á, một số công phu tụng niệm “Bát danh” là có tương quan với ngài Di-lặc.
- HIỆN VÔ BIÊN PHẬT ĐỘ CÔNG ĐỨC KINH
顯無邊佛土功德經 Hsien wu-pien fo-t’u kung-te ching (1 quyển) (s: Tathāgatāņam Buddhakşetra-gunokta-dharma-paryāya (sūtra); e: Sutra Revealing the Qualities of the Infinite Buddha-Lands). T.10.289. Dịch xong ngày 12 tháng 11 tại chùa Đại Từ Ân.
- THẮNG TRÀNG TỶ ÁN ĐÀ-LA-NI KINH
勝幢臂印陀羅尼經 Sheng ch’uang pei yin t’o-lo-ni ching (1 quyển) (e: Sutra of the Dharani for Bearing the 3nners and Seals) T.21.1363. Dịch xong ngày 13 tháng 11 tại chùa Đại Từ Ân.
- TRÌ THẾ ĐÀ-LA-NI KINH
持世陀羅尼經 Ch’ih-shih t’o-lo-ni ching (1 quyển) (s: Vasudhāra-dhāranī; e: Sutra of the Dharani for Upholding the World) T.20.1162. Dịch xong ngày 24 tháng 11 tại chùa Đại Từ Ân.
- Năm 655: Không có tác phẩm
- Năm 656
- THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH
十一面神咒心經 Shih-yi-mien shen-chou hsin ching (1 quyển) (s: Avalokiteśvaraikādaśamukha-dhāranī; e: Sutra of the Spiritual Mantra of the Eleven-Headed [Avalokiteśvara]). T.20.1071. Dịch xong ngày 17 tháng 4 tại chùa Đại Từ Ân.
Ghi chú: Bồ-tát Quán Thế Âm với 11 khuôn mặt trở nên có liên hệ với Du-già hành tông các nước Đông Nam Á, đặc biệt với Nhật Bản vào thời Nại Lương (Nara) khi Pháp tướng tông (Hossō) Nhật Bản đang thịnh hành. Nhiều mẫu tượng rất tinh tế từ thời Nại Lương ngày nay vẫn còn ở Nhật Bản, mô tả Bồ-tát Quán Thế Âm 10 đầu nhỏ vòng quanh một đầu chính.
- A TÌ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ-SA LUẬN
阿毘達磨大毘婆沙論 A-p’i-t’a-mo ta-p’i-p’o-sha lun (200 quyển) (s: Abhidharma) Mahāvibhāṣa; e: The Great Abhidharma Commentary). T.27.1545. Dịch từ ngày 18 tháng 8 năm 656 đến ngày 27 tháng 7 năm 659. Tác giả: 5 trăm vị Đại A-la- hán.
Ghi chú: Tác phẩm đồ sộ này là chủ yếu đối với tạng A-tỳ-đạt-ma của Thuyết Nhất thiết hữu bộ, chiếm trọn một bộ trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh (Taishō). Gồm 8 phần với 43 chương, nguyên là luận giải về A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận (s: Jñānaprasthāna), có lẽ được soạn tại Kashmir. Năm trăm vị Đại A-la- hán, vốn thường được đề cập trong Kinh Pháp Hoa, Kinh Niết-bàn, và đặc biệt được sùng kính trong Thiền tông, được xem là đã sưu tập bộ Luận Đại Tỳ-bà-sa nầy 400 sau Đức Phật nhập niết-bàn, trong một hội nghị kết tập kinh điển do vua Ca-nị sắc-ca triệu tập. Có 2 bản dịch tiếng Hán: bản thứ nhất số hiệu T.28.1546, được dịch từ năm 425 đến năm 427 bởi ngài Buddhavarmin và những vị khác, gồm 110 quyển, nhưng 50 quyển đã bị thất lạc vào thời nhà Lương, và bản thứ 2 mang số hiệu T.28.1547 (20 quyển), được dịch năm 383 do ngài Tăng-già Bạt- trừng (僧伽跋澄c: Seng-ch’ieh-pa-ch’eng; s: Sanghabhadra hoặc Sanghadeva).
- Năm 657
- A TÌ ĐẠT MA PHÁT TRÍ LUẬN
阿毘達磨發智論 A-p’i-t’a-mo fa-chih lun (20 quyển) (s: Abhidharma) Jñānaprasthāna śāstra; e: Treatise on the Arising of Wisdom through the Abhidharma). T.26.1544. Dịch từ ngày 14 tháng 2 năm 657 đến ngày 20 tháng 6 năm 660 tại chùa Ngọc Hoa (玉華c: Yü-hua; e: Jade Flower Monastery). Tác giả: Già-đa-diễn-khả Tử (s: Katyāyanīputra 迦多衍可子).
Ghi chú: Là bộ luận thứ 7 trong A-tỳ-đạt-ma tạng của Thuyết Nhất thiết hữu bộ, thường được xem cùng với Đại Tỳ-bà-sa luận, luận giải về chính nó, đây là bộ luận trung tâm của Thuyết Nhất thiết hữu bộ.
- QUÁN SỞ DUYÊN DUYÊN LUẬN
觀所緣緣論 Kuan so-yüan yüan lun (1 quyển) (s: Ālambana parikşa; e: Treatise Contemplating Objective Conditions). T.31.1624. Dịch tại Đại nội Li Nhật điện (大 內麗日殿 c: Ta-nei-li-jih Hall; e: Great Inner Elegance Sun Hall). Tác giả: Trần-na (s: Dignāga 陳那).
Ghi chú: Một tác phẩm về Nhận thức luận của ngài Trần-na, trước đã được ngài Chân Đế dịch tiếng Hán.
- Năm 658
- NHẬP A TÌ ĐẠT MA LUẬN
入阿毘達磨論 Ju a-p’i-t’a-mo lun (2 quyền) (s: Abhi dharma-āvatāra-prakaraņa; e: Treatise on Entering Abhi dharma) T.28.1554. Dịch xong ngày 13 tháng 11 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Tắc-kiền-đà-la (s: Skandhila 塞建陀羅).
Ghi chú: Theo Nakamura, một vài phần còn lại của bản gốc tại Tocharian và bản tiếng Tây Tạng thì ngài Huyền Trang dịch bản này một cách khá “tuỳ tiện”.
- Năm 659
- BẤT KHÔNG QUYẾN SÁCH THẦN CHÚ TÂM KINH
不空胃索神咒心經 Pu-k’u’ung chüan-so shen-chou hsin ching (1 quyển) (s: Amoghapāśahṛdaya śāstra; e: Essential Scripture of Amogha’s Ensnaring Spiritual Mantra). T.20.1094. Dịch xong ngày 15 tháng 5 tại chùa Đại Từ Ân.
- A TÌ ĐẠT MA PHÁP UẨN TÚC LUẬN
阿毘達磨法薀足論 A-p’i-t’a-mo fa yün tsu lun (12 quyển) (s: Abhidharma- dharmaskandha pāda śāstra; e: Treatise on Dharmas and Skandhas according to the Abhidharma Path). T.26.1537. Dịch từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 5 tháng 10 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Tôn giả Đại Mục-kiền-liên (s: Mahāmāu dgalyāyana (尊者大目乾連).
Ghi chú: Là bộ luận thứ 5 trong A-tỳ-đạt-ma tạng của Thuyết Nhất thiết hữu bộ. Theo truyền thống, thường gán cho một trong 2 đệ tử của Đức Phật, ngài Mục- kiền-liên hoặc là Xá-lợi-phất, nhưng có lẽ nó được biên soạn vào 2 hoặc 3 thế kỷ sau Đức Phật nhập niết-bàn.
- THÀNH DUY THỨC LUẬN
成唯識論 Ch’eng wei-shih lun (10 quyển) (s: Vijñapti-mātra-siddhi śāstra; e: Treatise Establishing Vijñapti-mātra). T.31.1585. Dịch xong vào tháng 10 hoặc 11 tại chùa Ngọc Hoa (c: Yü Hua 玉華; e: Jade Blossom Monastery). Tác giả: Ngài Huyền Trang. Theo truyền thống, được gán cho ngài Hộ Pháp (Dharmapāla) và các người khác.
Ghi chú: Việc gán luận văn này cho ngài Hộ Pháp của ngài Khuy Cơ có những điểm không ổn (xem chương 15 trong cuốn Buddhist Phenomenology của Dan Lusthau – Đây là bản dịch duy nhất của ngài Huyền Trang không dựa vào bản gốc mà thay vào đó, ngài tuyển chọn và biên dịch từ nhiều bản khác nhau (theo truyền thống là 10 bộ luận khác nhau). Vì ngài Khuy Cơ tự ghép mình vào bộ luận này khi tự cho mình là đệ tử kế thừa của ngài Huyền Trang. Truyền thống Phật giáo Đông Nam Á xem Thành Duy thức luận là đại biểu trung tâm học thuyết của ngài Huyền Trang.
- Năm 660
- ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA KINH
大般若波羅蜜多經 Ta po-jo p’o-lo-mi-t’o ching (600 quyển) (s: Mahā-prajñā- pāramitā-sūtra) T.5-7.220. Dịch từ ngày 16 tháng 2 năm 660 đến ngày 25 tháng 2 năm 663 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery.
Ghi chú: Tác phẩm đồ sộ này, gồm 600 cuốn chứa trọn ba bộ trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh Taishō, gồm có những bản kinh nổi tiếng như Kinh Kim Cương, và là một trong những bộ kinh thuộc hệ Bát-nhã đầy đủ nhất. Ngài Huyền Trang có ý định giản lược để tránh sự trùng lập, nhưng khi gặp sự ngăn cản qua một giấc mộng, nên ngài dịch bộ kinh Bát-nhã này hoàn toàn đầy đủ.
- A TÌ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC LUẬN
阿毘達磨品類足論 A-p’i-t’a-mo p’in-lei tsu lun (18 quyển) (s: Abhidharma- prakaraņa-pāda; e: Treatise of Classifications according to the Abhidharma Path). T.26.1542. Dịch từ ngày 10 tháng 10 đến ngày 30 tháng 11 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮;c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery. Tác giả: Tôn giả Thế Hữu (s: Vasumitra; 者世友)
Ghi chú: Là tác phẩm thứ 2 thuộc A-tỳ-đạt-ma tạng của Thuyết Nhất thiết hữu bộ (s: Sarvāstivāda), gồm tóm tắt những thuật ngữ, các phạm trù và quan điểm.
- A TÌ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC LUẬN
阿毘達磨集異門足論 A-p’i-t’a-mo chi yi men tsu lun (20 quyển) (s: Abhidharma- sangītī-paryāya pāda śāstra; e: Collection of Different Aspects of the Abhidharma Path Treatise). T.26.1536. Dịch từ ngày 2 tháng 1 năm 660 đến ngày 1 tháng 2 năm 664 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮; c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery. Tác giả: Tôn giả Xá-lợi Tử (s: Śāriputra (尊者舍利子)
Ghi chú: là tác phẩm thứ nhất thuộc tạng A-tỳ-đạt-ma của Thuyết Nhất thiết hữu bộ, theo truyền thống Tây Tạng, được gán cho ngài Mahā-Kauşthila, được ngài Yaśomitra xem là của Phú-lâu-na (Pūrņa) trong luận giải của mình về Câu-xá luận (Kośa). Là giáo lý được sắp xếp theo pháp số.
- Năm 661
- BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN TỤNG
辯中邊論頌 Pien chung pien lun sung (1 quyển) (s: Madhyānta Vibhāga kārikā; e: Treatise on Distinguishing Between Middle and Extremes, Verses). T.31.1601. Dịch xong ngày 3 tháng 6 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮; c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery. Tác giả: Bồ-tát Di-lặc (s: Maitreya; 彌勒).
Ghi chú: Kệ tụng từ một bản luận giải then chốt của Du-già hành tông, được cho là của ngài Vô Trước hoặc của Bồ-tát Di-lặc.
- BIỆN TRUNG BIÊN LUẬN
辯中邊論 Pien chung pien lun (1 quyển) (s: Madhyānta Vibhāga bhāṣya; e: Treatise on Distinguishing Between Middle and Extremes). T.31.1600. Dịch từ ngày 12 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮; c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery. Tác giả: Thế Thân (s: Vasubandhu; 世親).
Ghi chú: Là chú giải những bài kệ tụng trong Biện Trung Biên Luận Tụng (mục 68 ở trên), được xem là của ngài Thế Thân.
- DUY THỨC NHỊ THẬP LUẬN
唯識二十論 Wei-shih erh-shih lun (1 quyển) (s: Vimśatikā-vṛtti; e: Twenty Verses on Vijñapti-mātra Treatise). T.31.1590. Dịch xong ngày 3 tháng 7 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮;c: Yü Hua Kung; e: JadeBlossomPalace) Monastery. Tác giả: Thế Thân (s: Vasubandhu; 世親)
Ghi chú: Một trong những tác phẩm triết học quan trọng nhất của Du-già hành tông.
- DUYÊN KHỞI KINH
緣起經 Yüan-ch’i ching (1 quyển) (s: Pratītya-samutpāda divibhanga-nirdeśa sūtra; e: Sutra on Conditioned Arising). T.2.124. Dịch xong ngày 9 tháng 8 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮;c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery.
Ghi chú: Kinh nói về pháp Duyên sinh (s: pratītya-samutpāda), có nhiều điểm giống với kinh thứ 33 Mahāgopalaka Sutta trong Trung bộ kinh (Majjhima Nikāya 33).
- Năm 662
- DỊ BỘ TÔNG LUÂN LUẬN
異部宗輪論 Yi pu-tsung lun lun (1 quyền) (s: Samaya-bhedoparacana cakra; e: Treatise of the Wheel of the Different Divisions of the Tenets). T.49.2031. Dịch xong ngày 2 tháng 9 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮 c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery. Tác giả: Thế Hữu (s: Vasumitra) (theo truyền thống Tây Tạng).
Ghi chú: Nội dung là quan điểm tổng quát về 20 bộ phái theo quan điểm của Thuyết Nhất thiết hữu bộ.
- Năm 663
- A TÌ ĐẠT MA GIỚI THÂN TÚC LUẬN
阿毘達磨界身足論 A-p’i-t’a-mo chieh shen tsu lun (3 quyền) (s: Abhidharma Dhātu-kāya pāda śāstra; e: Treatise on Body Elements According to the Abhidharma Path). T.26.1540. Dịch xong ngày 1 tháng 7 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮; c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace). Tác giả: Tôn giả Thế Hữu (s: Vasumitra (尊者世 友).
Ghi chú: Là tác phẩm thứ tư thuộc A-tỳ-đạt-ma tạng của Thuyết Nhất thiết hữu bộ. Phân loại và liệt kê các tâm pháp.
- NGŨ SỰ TỲ BÀ-SA LUẬN
五事毘婆沙論 Wu shih p’i-p’o-sha lun (2 quyển) (s: Pañca-vastuka-vibhāṣa; e: Five Phenomena Vibhāṣa Treatise). T.28.1555. Dịch xong ngày 18 tháng 11 tại chùa Đại Từ Ân. Tác giả: Tôn giả Pháp Cứu (s: Dharmatrāta; 尊者法救). Ghi chú: Một luận văn của A-tỳ-đạt-ma đề cập đến Sắc (rūpa), tâm (citta) và Tâm sở pháp (caittas).
- TỊCH CHIẾU THẦN BIẾN TAM MA ĐỊA KINH
寂照神變三摩地經 Chi chao shen pien san-mo-ti ching (1 quyển) (s: Praśānta- viniścaya-prātihārya-samādhi sūtra; e: Sutra on the Samādhi of Singularly Radiant Spiritual Alterations). T.15.648. Dịch xong ngày 1 tháng 2 năm 664 (hoặc ngày 12 tháng 2 năm 665) tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮; c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery.
- Năm 664
- CHÚ NGŨ THÚ KINH
咒五首經 Chou wu-shou ching (1 quyển) (e: Mantra of Five Heads Sutra). T.20.1034. Dịch xong ngày 2 tháng 2 tại chùa Ngọc Hoa cung (玉華宮;c: Yü Hua Kung; e: Jade Blossom Palace) Monastery.
- BÁT THỨC QUY CỦ TỤNG
八識規矩頌 Pa-shih kuei-chu sung (e: Verses on the Structure of the Eight Consciousnesses) Tác giả: Huyền Trang (c: Hsüan-tsang;玄奘). Ngày tháng không rõ.
Ghi chú: Bài này do ngài Huyền Trang biên soạn (thay vì thường gọi là dịch), không tìm thấy trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh (Taishō), mặc dù có một luận văn của Phổ Thái (c: P’u-t’ai; 普泰) nhắc đi nhắc lại là bản gốc nằm trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh số hiệu T.45.467-476 với nhan đề Bát thức quy củ tụng bổ chú (c: Pa-shih kuei-chu pu-chu; 八識規矩補註). Luận này gồm những luận đề tương tự Thành Duy thức luận nhưng được sắp xếp, trình bày biên soạn hơi khác.
[1] Lân Đức nguyên niên. Ngày năm tháng hai năm 664 tại Cung Ngọc Hoa 玉華宮;e: Jade Flower Palace Monastery
[2] e: Record of Western Lands; c: Xiyuji
[3] Yogacara school
[4] dhāranī
[5] Nhân minh học
[6] 吠世史迦奪薩怛羅 Vaiśeşika śāstra 此譯勝論。又稱勝宗
[7] Sui, 589-618.
[8] The Non-difference of Madhyamaka and Yogācāra.
[9] c:zangshi; e: repository consciousness
[10] Skt: ākāśa; c: Xukong; e: spatiality
[11] s: tathatā; e: Suchness.
[12] Skt: prajñapti, Ch: jiaming.
[13] S: samvrti-sat; e: conventionally true: Tục đế.
[14] s: paramārtha-sat; e: ultimately true: Chân đế.
[15] s: paratantra; e: momentary conditions: y tha khởi 依他起, duyên sinh 綠生, duyên sinh tánh 緣生性,nhân duyên pháp 因緣法.
[16] S: citta caitta; e: mental-concomitants : tâm sở pháp 心所法.
[17] S: jñāna; e: direct cognitions
[18] gotras or soteriological ‘families.’
[19] Gọi là Nhiếp luận tông.

