Tuong bo tat
Tượng đồng Avalokitesvara (Bồ-tát Quán Thế Âm), phát hiện những năm đầu thế kỷ 20 tại Quảng Bình | Ảnh: VietNamnet

Thích Nhuận Lạc: Phật giáo du nhập và phát triển ở vương quốc Phù Nam – Những di sản để lại

Thích Nhuận Lạc*

TÓM TẮT

Văn hóa Óc Eo và vương quốc cổ Phù Nam là một phần trong tổng thể của văn hóa Việt Nam. Văn hóa Óc Eo có những ảnh hưởng nhất định trong toàn bộ vùng đất Nam bộ Việt Nam, nói rộng ra còn có một tầm ảnh hưởng phần lớn Đông Nam Á. Và chính vương quốc cổ Phù Nam được nhận định có phạm vi rộng lớn hầu như toàn bộ phần phía Nam bán đảo Trung Ấn. Tuy nhiên văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam vì nhiều lí do sớm đi vào quên lãng và nền văn hóa đồ sộ ấy vùi lẫn trong lòng đất nhiều thế kỷ.

Với nhiều thành tựu khảo cổ học đã phác lộ diện mạo một nền văn hóa cổ với nhiều thành tựu cùng với đó là hình ảnh một vương quốc Phù Nam vĩ đại. Bức tranh về đời sống của cư dân Phù Nam chủ nhân văn hóa Óc Eo cũng được tái hiện. Trong đó những giá trị về tôn giáo là không thể bỏ qua. Có thể nói tôn giáo ở Phù Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Ấn Độ – quê hương các tôn giáo lớn. Do đó, tại Phù Nam có thể ghi nhận sự có mặt của Phật giáo và Ấn giáo.

Để nhìn nhận về đời sống tôn giáo của cư dân Phù Nam mà cụ thể là Phật giáo, với đề tài “Phật giáo du nhập và phát triển ở Phù Nam – những di sản để lại” chúng tôi mong muốn phác họa lại sinh hoạt Phật giáo tại Phù Nam, từ khi du nhập cho đến thời kì phát triển và những ảnh hưởng của tôn giáo này đến đời sống cũng như sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân Phù Nam cổ cũng như với Phật giáo Nam bộ Việt Nam ngày nay.

I. SƠ LƯỢC VỀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM

1.1. Niên đại vương quốc Phù Nam

Về tên gọi Phù Nam, có lẽ được phiên dịch từ tiếng Trung (扶南 bính âm: Fúnán). Xét về mặt ngữ nghĩa trong văn tự Hán cổ có lẽ là không có ý nghĩa đặc biệt chỉ cho tên gọi quốc gia. Vì vậy giả thiết đặt ra có thể chính người Trung Hoa cũng phiên âm Fúnán từ cách đọc của cư dân bản địa. Về ngôn ngữ chịu ảnh hưởng Ấn Độ, một số tài liệu cho là Phù Nam xuất phát từ văn tự नाम (Sanskrit: nāma), tuy nhiên về mẫu tự Devanagari này xét về ngữ nghĩa là “tên là” hay nói cho dễ hiểu là “mang tên”, có lẽ trong văn tự Devanagari trên còn thiếu sót các mẫu tự sau đó để nêu nõ tên gọi của vương quốc cổ Phù Nam. Trong các ngôn ngữ ngày nay của khu vực như là Vnom (Khmer) hay Nokor Phnom (Khmer). Từ ngữ này xuất phát từ ngôn ngữ Môn-Khmer cổ: bnam hay vnam, mà ngày nay được đọc là phnom, có nghĩa là núi hoặc đồi.Tuy nhiên tên một quốc gia không thể nào chỉ được miêu tả bằng thành tố núi hay đồi như vậy. Theo nhà nghiên cứu văn khắc Claude Jacques lại nêu ra một loạt tên gọi với thành tố pura như một tiếp vĩ âm. Nhưng với ý nghĩa pura như một đô thị nhỏ không thể mang đủ nội hàm để chỉ cho một vương quốc. Do đó thiết nghĩ, tên gọi chính xác của vương quốc Phù Nam vẫn còn là một ẩn số cần nhiều tư liệu hơn nữa để khẳng định. Vì vậy, trong khi chưa có tên gọi chính xác chúng tôi vẫn sử dụng tên gọi Phù Nam

Vương quốc Phù Nam được xác nhận tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với niên đại trên. Việc xác định niên đại trên phần lớn dựa trên các thư tịch cổ Trung Hoa. Thư tịch có niên đại cổ nhất nhắc trực tiếp đến Phù Nam là Hậu Hán thư khi đề cập đến việc cống chim trĩ trắng của Việt Thường thị. Cũng như thư tịch cuối cùng nhắc đến Phù Nam là Tân Đường thư, nhắc đến việc sứ thần Phù Nam sang triều cống trong niên hiệu Vũ Đức của Đường Cao Tổ (618-626) và trong niên hiệu Trinh Quan của Đường Thái Tông (626-649). Như vậy, niên đại cụ thể được xác định từ thế kỷ I đến thế kỷ VII là hợp lý.

1.2. Cương vực Phù Nam

Năm 1903 học giả P.Peliot đã dịch một số thư tịch cổ Trung Hoa cho rằng Phù Nam là một quốc gia “Ấn Độ hoá”. Thông qua các thư tịch cổ có thể phác hoạ cương vực Phù Nam một cách rõ ràng như sau. Tấn thư ghi nhận: “Nước Phù Nam cách Lâm Ấp hơn ba nghìn dặm, giữa vịnh lớn trong biển, diện tích khoảng ba nghìn dặm”. Nam Tề thư chép: “Nước Phù Nam ở trong vùng dân man, phía Tây của biển lớn, ở miền Nam của Nhật Nam, dài rộng hơn ba nghìn dặm”. Lương thư thêm một ít chi tiết: “Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn, phía Tây của biển, cách Nhật Nam có đến bảy nghìn dặm, cách Lâm Ấp ở phía Tây Nam đến hơn ba nghìn dặm. Thành cách biển năm trăm dặm, có sông rộng mười dặm chảy từ Tây Bắc sang Đông nhập vào biển. Nước rộng hơn ba nghìn dặm, đất trũng ẩm thấp nhưng rộng, bằng phẳng”.[1]Nguyễn Hữu Tâm (2008), “Khái quát về Phù Nam – Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 60 năm phát hiện văn hóa … Continue reading

Như vậy, thư tịch cổ Trung Hoa chỉ xác định Phù Nam nằm ở phía Nam của Nhật Nam và sau đó là Lâm Ấp, do đó một điều chắn chắn phạm vi cương vực Phù Nam trải rộng khắp vùng Nam bộ chúng ta ngày nay. Bởi lẽ các di chỉ khảo cổ học liên quan đến văn hoá Óc Eo trải rộng trên một địa bàn lớn. Tuy nhiên về vị trí địa lí chính xác của Phù Nam đến nay vẫn chưa thống nhất. Có giả thiết cho rằng Phù Nam bao gồm toàn bộ phần phía Nam của Đông Nam Á lục địa, gồm cả lưu vực hạ nguồn Mekong, lưu vực Menam, lưu vực sông Irrawaddi cũng như kéo dài xuống tận bán đảo Malaya. Nhưng cũng có giả thiết cho rằng Phù Nam chỉ trải dài trên lưu vực hạ nguồn Mekong tức chỉ phần phía Nam Campuchia và Nam bộ của chúng ta.

Tuy vậy, sự tồn tại của một quốc gia luôn luôn vận động liên tục, vấn đề cương vực cũng không thể cố định, ví như Trung Hoa cũng không thể xác định cương vực nhất định trong suốt chiều dài lịch sử. Vì vậy với Phù Nam cũng vậy, cương vực có thể có lúc trải rộng cả phần phía Nam của bán đảo Trung Ấn nhưng cũng có lúc co cụm lại ở vùng hạ lưu Mekong tuỳ thuộc vào sự vận hành của chính quyền và sức mạnh quân sự của Nhà nước đương thời. Đặc biệt với một thể chế chính trị của Phù Nam việc thay đổi cương vực liên tục trong suốt chiều dài lịch sử là tất yếu.

1.3. Các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa:

Việc lập quốc của vương quốc Phù Nam chung quy xoay quanh truyền thuyết về Kaundinya và Soma (Trung Hoa dịch là Hỗn Điền và Liễu Diệp). Nhìn chung về giai đoạn lập quốc hầu hết các dân tộc phương Đông đều có những truyền thuyết như vậy về sự nên duyên giữa người và thần để sản sinh ra tộc người và quốc gia. Với người Trung Hoa truyền thuyết về Nữ Oa sáng tạo ra con người, chính Nữ Oa cũng là nửa người nửa rắn theo quan niệm về vật tổ của người Trung Hoa. Hay như trường hợp người Việt quan niệm về vật tổ của chúng ta là rồng và tiên (chim lạc). Điều đó tạo nên một đặc điểm chung có tính tương đồng với các quốc gia châu Á. Từ truyền thuyết đó cũng xác định chủ nhân của Nhà nước Phù Nam đầu tiên là những người thuộc tộc Kaundinya (người Trung Hoa dịch âm là họ Hỗn), sau đó là những người họ Phạm và hàng loạt vị vua cuối cùng lấy đế hiệu liên quan đến yếu tố tiếp vĩ ngữ varman.

Từ truyền thuyết lập quốc giữa Kaundinya và Soma sau khi hình thành Nhà nước Phù Nam đã phân chia lãnh thổ cho bảy người con, chúng ta có thể thấy hình ảnh một hệ thống tổ chức chính quyền phân quyền. Theo nhiều học giả, cách tổ chức chính quyền của Phù Nam theo dạng thức Mandala tức là nhiều tiểu quốc tự trị cùng liên minh lại, trong đó tuỳ theo thời điểm tiểu quốc nào phát triển mạnh về mọi mặt được xem như chủ thể có tác động đến các tiểu quốc còn lại. Hình thức tổ chức này thể hiện tính độc lập tương đối của các tiểu quốc.

Chính từ thể chế chính trị đặc trưng như vậy làm cho thành phần cư dân cũng như xã hội Phù Nam phát triển theo cách rất riêng biệt. Thành phần dân cư của Phù Nam đặc biệt đa dạng. Chính vì yếu tố nhân chủng đa dạng đó mà việc xác định chủ nhân thực sự của Phù Nam đến nay là vấn đề còn đang gây tranh cãi. Tuy nhiên theo các học giả lớn chủ nhân của Phù Nam là giống dân mang nhân chủng đặc trưng của người Australoid đã có sự hỗn chủng với chủng Mongoloid nói ngữ hệ Malayo-Polinedien. Ngôn ngữ Môn-Khmer là do tác động trong quá trình cộng cư như trên mà có sự giao hoà. Từ ngôn ngữ mà phát sinh văn tự, các học giả xác định văn tự người Phù Nam sử dụng là chữ Phạn, tuy nhiên hệ thống Phạn ngữ nào thì chưa được xác định cụ thể.

Vì tổ chức chính quyền theo dạng thức Mandala nên việc xác định đô thị chính của Phù Nam qua các thời kì không ổn định. Tuy nhiên có ghi nhận cơ bản về kinh thành Phù Nam trong thư tịch Trung Hoa là thành Đặc Mục, có lẽ dịch âm từ Vyadhapura (Đô thị của thợ săn) được các học giả xác định nay là Angkor Borei ở Đông Nam Campuchia và kinh thành Na Phật Na được dịch âm từ Naravaranagara (thành phố mong ước của cư dân, ở đây chia thành 3 thành tố nara là con người hay cư dân, vara là sự mong ước và nagara là thành phố), người Trung Hoa dịch nghĩa là Ưu tú Nhân thành là chưa chính xác.

Xã hội Phù Nam được ghi nhận là một xã hội có sự phân hoá giai cấp, đời sống cư dân Phù Nam vì vậy cũng có sự đa dạng từ ăn ở cho đến tín ngưỡng trong đời sống tinh thần. Cư dân Phù Nam được xác định là ăn lúa gạo và ở nhà sàn và đã có những sinh hoạt trong đời sống tinh thần rất phong phú.

Nhu cầu đời sống như vậy nên người Phù Nam đã đạt đến trình độ canh tác nông nghiệp cao, có nhiều công cụ lao động nông nghiệp rất đa dạng, cho đến kỹ thuật canh tác nhiều loại lúa đặt biệt để thích hợp điều kiện tự nhiên điển hình như lúa trời. Về mặt thủ công nghiệp, cư dân Phù Nam đã có nhiều  tiến bộ trong nhiều ngành nghề đặc biệt là kĩ thuật chế tác vàng, kĩ thuật xây dựng. Hơn hết, cư dân Phù Nam là những người làm thương nghiệp rất chuyên nghiệp. Đặc biệt là ngoại thương, và chính họ là những người có tác động rất lớn đến việc khai thác con đường tơ lụa trên biển, thiết lập một mạng lưới giao thương rất mạnh ở vùng biển phía Nam.

Về văn hoá, cư dân Phù Nam đặc biệt chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ bởi lẽ khu vực Phù Nam kề cận biên giới của Ấn Độ cổ, tầm ảnh hưởng của một trung tâm văn minh lớn của thế giới đến Phù Nam là điều không thể phủ nhận.

II. BỨC TRANH PHẬT GIÁO Ở PHÙ NAM

2.1. Từ thư tịch cổ nhìn nhận về Phật giáo ở Phù Nam

Theo Đại sử ký (Mahavaṃsa) của Śrilanka, “cho biết sau kiết tập kinh điển lần thứ ba, vua A Dục và đại lão hòa thượng Moggaliputta-Tisa đã tích cực cử chín đoàn đi hoằng dương Phật pháp. Các đoàn “Như Lai sứ giả” đi khắp lãnh thổ Ấn Độ và đến các nước bên ngoài Ấn Độ để hoằng dương Phật pháp. Đoàn thứ tám do Ngài Sona và Uttara đến vùng Suvarṇabhūmi (Kim Địa – Miến Điện), các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam.”[2]Thích Kiến Nguyệt (2008), Phật giáo Tây Thiên – Tam Đảo, “Tây Thiên vào hạ”, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, trang 39.

Vùng đất vàng mà Đại Sử ký của Śri Lanka nhắc đến nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó có thể là vùng đất Phù Nam. Do đó có thể từ thế kỷ III Trước Tây lịch, Phật giáo đã có mặt ở Phù Nam.

Trong Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện Ngài Nghĩa Tịnh đã viết: “Các vị sư muốn đến Ấn Độ phải đi qua một ngàn con sông. Khi đến Woolai, phía Tây Pakhoi chư tăng xuống một chiếc thuyền buôn vượt qua ngàn sóng gió đi qua vương quốc Phù Nam và bỏ neo ở xứ Lăng Già”.[3]Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, trang 23. Lăng Già ở đây chỉ cho Śri Lanka.

Nam Hải kí quy nội pháp truyện, Nghĩa Tịnh nhận định rằng: “vương quốc Phù Nam thuở xưa, đó là một nước dân chúng ở trần truồng. Người dân tôn thờ rất nhiều Thần Thánh. Kế đó, Phật giáo được truyền bá và lan rộng khắp nơi”.[4]Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, trang 22.

Nam Tề thư ghi nhận vua Kaundinya Jayavarman tuy giữ tín ngưỡng tryền thống vẫn thờ thần Śiva thông qua hình tượng Maheśvara (Maha Īśvara – tức là vị Đại thiên thần tối thượng) nhưng cũng thờ kính Avalokiteśvara, nhờ đó mà được an ổn thái bình. Do một lần phái bộ của vua trên đường từ Quảng Đông trở về có một vị sư Ấn Độ là Sakya Nāgasena theo phái đoàn về Phù Nam truyền đạo và đã gặp vua và hướng dẫn thờ kính Avalokiteśvara.

Lương thư năm 506 vua Lương Võ Đế yêu cầu vua Kaundinya Jayavarman của Phù Nam cho hai nhà sư là Sanghapala và Mandrasena sang Trung Hoa để hỗ trợ công tác dịch kinh điển từ Phạn ngữ ra Hán ngữ. Cao Tăng truyện của Ngài Huệ Kiểu cũng nhắc đến Ngài Sanghapala (Trung Hoa dịch âm là Tăng-già-bà-la, dịch nghĩa là Chúng Khải, do Sangha có ý nghĩa là đoàn thể và pala là sự hộ trì). “Đầu nhà Lương lại có Tăng-già-bà-la , cũng là học Tăng nước ngoài, nghi mạo cẩn khiết, giỏi nói năng, đối đáp, đến kinhs ư cúng dường trụ ở chùa Chính Quán”.[5]Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao Tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, trang 166.

Lương thư cũng thuật lại việc, vua Lương cử phái đoàn sứ Trung Hoa đến Phù Nam từ năm 535 đến năm 545 để yêu cầu vua Rudravarman gom góp tất cả kinh sách và thỉnh các vị Tăng đến thăm Trung Hoa. Và vua Rudravarman cử thiền sư Paramārtha là một thiền sư Ấn Độ đang hành đạo tại Phù Nam theo phái đoàn sứ giả đến Trung Hoa.

Cao Tăng truyện của Ngài Huệ Kiểu cũng có nhắc đến Mahajivaka, là cao Tăng Ấn Độ từ Phù Nam sang Trung Hoa “Kì Vực là người Thiên Trúc, cất bước từ Thiên trúc đến Phù Nam, trải qua các mé biển, bèn tới Giao Châu và Quảng Châu”.[6]Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao Tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, trang 413.

Như vậy có thể thấy Tăng sĩ từ Ấn Độ sang Trung Hoa thông qua con đường Phù Nam rất nhiều. Từ đó phác họa nên một bức tranh sinh động về sinh hoạt Phật giáo ở Phù Nam, tuy thông tin từ các thư tịch ấy chưa đầy đủ để nói lên toàn bộ nền Phật giáo ở xứ sở Phù Nam nhưng ít nhất cũng cho thấy được hình ảnh giới tu sĩ Phật giáo ở Phù Nam rất đông đúc, và có khả năng Phật học và am tường kinh điển cao. Nhờ đó mà người Trung Hoa mới sang Phù Nam mà cầu thỉnh kinh tạng từ các nhà sư du hóa tại đây.

2.2. Góc nhìn về Phật giáo Phù Nam từ hiện vật khảo cổ học:

Các hiện vật khảo cổ học liên quan đến Phật giáo ở Phù Nam hầu hết là các tượng Phật và Bồ tát với nhiều dạng thức khác nhau cũng như chất liệu khá phong phú đa dạng. Điểm qua các hiện vật đã khai quật được ở vùng đất được định vị là cương vực Phù Nam có thể hệ thống các hiện vật đó thành 4 trường phái nghệ thuật

Trường phái Gandhāra là trường phái nghệ thuật Phật giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ II tại vùng Ngũ Hà phía Tây Bắc Ấn Độ. Trường phái này chịu ảnh hưởng của thời kì hình thành Phật giáo Đại thừa nên trong phong cách tạo tượng đã diễn tả đức Phật như một con người bình thường với y phục quấn kiểu Lâm y, tóc dạng thẳng như nước chảy, nhục kế nhô cao. Trường phái này mô tả hình tượng đức Phật như diễn tả trong kinh điển Đại thừa về hình ảnh Phật đẹp như chư thiên, hình tướng thanh thoát, tự tại. Một phần quan niệm về mĩ học của Gandhāra chịu ảnh hưởng của mĩ học Hy Lạp cổ nên hình thành như vậy. Tiêu biểu cho trường phái này là tượng Phật mang số hiệu BTLS 1617 lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, tượng này được tìm thấy năm 1937 ở Đồng Tháp bằng gỗ mù u cao khoảng 1,80 mét.

Trường phái Mathura là trường phái nghệ thuật Phật giáo xuất hiện cùng thời điểm với Gandhāra, vùng thịnh hành của trường phái này ở phía Bắc Ấn Độ đặc biệt là phía Nam Delhi. Tượng Phật trường phái Mathura chịu ảnh hưởng mĩ học Ấn Độ cổ nên diễn tả hình tượng Phật mạnh mẽ, đầy đặn do đó có phần hơi thô. Tóc dạng xoắn trôn ốc. Y phục quấn kiểu hở vai trái. Tiêu biểu cho trường phái này là tượng Phật phát hiện ở xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Trường phái Āmarāvatī xuất hiện vào khoảng thế kỷ II là kết quả sự kế thừa hai trường phái Gandhāra và Mathura. Trường phái Āmarāvatī ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Nam Ấn. Đặc biệt Āmarāvatī là trung tâm của Mahasanghika. Trường phái Āmarāvatī diễn tả hình tượng đức Phật với tứ chi thanh thoát, mảnh như dạng thức của Gandhāra, nhưng về tóc và khuôn mặt lại kế thừa ảnh hưởng Mathura. Tiêu biểu cho trường phái này, là tượng Phật mang số hiệu BTLS 1615 lưu trữ tại bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, được khai quật ở Đồng Tháp Mười năm 1943. Tượng được chế tác bằng gỗ sao.

Trường phái Gupta hình thành tại Ấn Độ trong thế kỷ IV đến thế kỷ VI. Trường phái nghệ thuật này chịu ảnh hưởng của Yogin nên mô tả hình tượng đức Phật theo dạng thức các Du già sư, tứ chi rất mảnh, thân hình thanh nhã tương quan với tứ chi, nhục kế cao, mắt nhắm dạng thiền định. Tiêu biểu cho tượng của trường phái này là di vật phát hiện tại Tân Mỹ, Long An, chế tác bằng đá sa thạch màu trắng xám.

Ngoài ra còn có các tượng Bodhisattva ở Phù Nam, đặc biệt cư dân Phù Nam thờ hình tuợng Avalokiteśvara và Maitreya rất nhiều. Trong đó đặc biệt là tượng Maitreya tìm thấy ở Trung Điền, Vĩnh Long và tượng Avalokiteśvara được L.Malleret tìm thấy ở Trà Vinh là các tượng tiêu biểu rất đẹp. Một đặc điểm chung của các tượng Bodhisattva ở Phù Nam hầu hết đều được tạo hình bốn tay như phong cách tượng hần Visnu của Ấn giáo.

Tuy nhiên về kiến trúc Phật giáo tại Phù Nam chưa tìm được di chỉ nào khác ngoài di tích tháp Phật giáo Gò Xoài ở Long An. Do đó, từ các di chỉ khảo cổ học chưa phác họa lên được hình ảnh các tu viện Phật giáo Phù Nam ra sao. Đó còn là một vấn đề được bỏ ngõ.

Như vậy về các hiện vật khảo cổ học có thể phác hoạ ra một bức tranh về Phật giáo Phù Nam rất đa dạng khi mà các hiện vật biểu hiện đầy đủ các trường phái nghệ thuật Phật giáo tại Ấn Độ như thế nào thì ở Phù Nam có như thế đó. Các trường phái ấy tiếp nối nhau không có sự đứt gãy trong nguồn chảy văn hoá nghệ thuật Phật giáo ở Phù Nam. Vì vậy có thể thấy, Phật giáo tại Phù Nam phát triển một cách liên tục vá trong khoảng thời gian nhất định để có thể tiếp nhận một cách tổng thể các nguồn chảy của nghệ thuật Phật giáo như vậy.

Mặt khác, sự xuất hiện các hiện vật tượng Bồ tát, phần nào phản ánh tính chất Phật giáo Phù Nam bấy giờ là có sự góp mặt của Phật giáo Đại thừa. Trong một hệ thống bấy giờ của các nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng các bộ phái Theravada mà ngay đến thời điểm hiện tại các bộ phái ấy vẫn còn ảnh hưởng, thì Phật giáo tại Phù Nam có sự xuất hiện của yếu tố Đại thừa hoà lẫn trong nền Phật giáo tại đây. Đặc biệt một hiện vật rất quan trọng đó là tượng Phật của Bắc Nguỵ ở Trung Hoa cũng xuất hiện ở Phù Nam, nói lên được Phật giáo Phù Nam cũng có sự tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa nữa chứ không riêng gì chỉ tiếp xúc Phật giáo Ấn Độ.

III. DẤU ẤN PHẬT GIÁO PHÙ NAM

3.1. Định vị niên đại Phật giáo du nhập vào Phù Nam

Dựa vào thư tịch cổ Trung Hoa và các hiện vật khảo cổ học, chúng ta về cơ bản có thể định vị được niên đại Phật giáo du nhập vào Phù Nam.

Dựa trên các thư tịch cổ, chúng ta có thể thấy đều nhắc đến việc Khang Thái và Chu Ứng theo lệnh vua Ngô đi sứ sang Phù Nam, trong Ngô thư hay Tam quốc chí đều có nhắc đến sự việc này. Chính trong các ghi chép về phù Nam của Khang Thái và Chu Ứng có nhắc đến các yếu tố Phật giáo có mặt tại Phù Nam. Từ đó có thể đặt ra giả thiết từ những năm giữa thế kỷ III Phật giáo đã có mặt tại Phù Nam.

Bên cạnh đó, Cao Tăng truyện của Huệ Kiểu nhắc đến thiền sư Mahajivaka (Ma Ha Kỳ Vực) đã ở Phù Nam và sau đó đến Trung Hoa và thời Tấn Huệ Đế tức những năm cuối thế kỷ III. Đây cũng là một giả thiết cho rằng Phật giáo có mặt tại Phù Nam từ thế kỷ III.

Mặt khác về niên đại của các hiện vật khảo cổ học, đặc biệt là các tượng Phật ở Phù Nam đều được xác định rằng: “Hầu hết các tượng Phật Phù Nam ở vùng đất Nam bộ đều có niên đại vào khoảng thế kỷ II đến XII”.[7]Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM, trang 96. Do đó, giả thiết Phật giáo có mặt sớm nhất cũng chỉ dừng lại ở thế kỷ thứ II.

Tuy nhiên chúng tôi chỉ dừng lại ở các giả thiết trên. Về giả thiết từ minh văn ở bia Võ Cạnh, Nha Trang có nhắc đến thông tin về vua Śri Mara hay dịch âm theo người Trung Hoa là Phạm Sư Mạn. Nhiều học giả đoán định có liên quan đến Phật giáo ở Phù Nam thông qua việc nhìn nhận có liên quan đến một kinh điển đại thừa rất thường hay được nhắc đến là Śrimālā Siṃhanāda sūtra (Trung Hoa dịch là Thắng Man Sư tử hống Nhất thừa Đại phương quảng kinh). Tuy nhiên chúng ta cần phân tích các yếu tố sau trong Phạn ngữ. Không thể vì trại âm mà đồng nhất Mara và Mālā với nhau được. Mara trong văn tự Sanskrit có nghĩa là sự chết. Cũng vậy khi thêm tiếp đầu ngữ “a” thì nó như một sự phủ định vì vậy chúng ta có Amara là sự bất tử. Còn về từ Mālā đó mang ý nghĩa là tràng hoa. Thứ hai Mara là danh từ tính male còn Mālā là danh từ tính female trong Phạn ngữ, do đó không thể đồng nhất với nhau. Śri Mālā trong kinh chỉ là một danh hiệu tán thưởng cho phu nhân Thắng Man không thể nào mang danh hiệu tán thán người nữ để đặt cho một vị vua được. Do đó, từ trước đến nay những giả thiết cho rằng Śri Mara trong bia Võ Cạnh có những yếu tố liên quan Phật giáo cũng như viện dẫn kinh điển để vẽ nên một nền Phật giáo Đại thừa với những tình thương lớn như Thắng Man là không có cơ sở vững chắc. Do đó, lấy niên đại cũng như thông tin từ bia Võ Cạnh để xét đoán về thời điểm có mặt của Phật giáo tại Phù Nam là thiếu cơ sở vững chắc.

3.2. Đặc điểm Phật giáo Phù Nam

Phật giáo Phù Nam du nhập trực tiếp từ Ấn Độ thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Phù Nam và Ấn Độ trong thời kì hình thành vương quốc Phù Nam cũng như hoà chung trong bối cảnh Phật giáo du nhập vào Đông Nam Á kể từ sau thời Asoka. Mối quan hệ giữa Phật giáo Phù Nam và Phật giáo Ấn Độ là rất chặt chẽ. Có thể nói Phật giáo Ấn Độ ảnh hưởng trực tiếp đến Phật giáo Phù Nam khi mà các trường phái tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ đều có mặt ở Phù Nam. Từ các quan điểm mĩ học Phật giáo thông qua các trường phái nghệ thuật đều có mặt đầy đủ ở Phù Nam. Về tư tưởng, thiền sư Maha Jivaka là đại diện cho Phật giáo quyền năng còn Paramārtha là đại diện của học phái Yogacara cho thấy trong sinh hoạt Phật giáo Phù Nam bấy giờ có sự tiếp nhận trực tiếp từ Ấn Độ nhiều thành tựu để tạo nên sự đa dạng và phong phú.

Phật giáo Phù Nam cùng tồn tại cả hai hệ thống Bắc truyền và Nam truyền. Dưới tầm ảnh hưởng chung trong phức hệ Đông Nam Á, Phù Nam không thể không chịu ảnh hưởng của Phật giáo Nam truyền. Đặc biệt trong các thư tịch cổ nhắc đến việc một số nhà sư Trung Hoa đến Phù Nam học ngôn ngữ trước khi sang đảo Lăng Già (tức Śri Lanka) vốn là một trung tâm lớn của Phật giáo Nam truyền.[8](Mohamad Alinor Abdul Kadir Zahrin Affandi Mohd (2016), Hubungan Politik dan Sosiobudaya China-Dunia Melayu Hingga Kurun ke-15 Masihi, “Hubungan Kecendekiawanan – Terawal Melayu – China”, … Continue reading) Mặt khác ở Phù Nam cũng tìm thấy dấu tích của tượng Bodhisattva, đó lá đặc trưng của Phật giáo Bắc truyền. Về nhân vật chúng ta thấy sự có mặt của Paramārtha là đại diện tiêu biểu của các học phái Phật giáo Bắc truyền. Như vậy có thể thấy Phật giáo Phù Nam tồn tại cả hai hệ thống Bắc truyền và Nam truyền cùng nhau hành đạo. Mà di sản đó cho đến ngày nay vẫn còn rất rõ ràng, Việt Nam chúng ta có thể nói là số ít các quốc gia Phật giáo có sự hành hoạt thống nhất trong một giáo hội có cả hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền, đặc biệt là tại Nam bộ. Và điều đó trong những năm 1970 trong Đại hội Phật giáo thế giới tại Tokyo, Phật giáo Việt Nam được vinh danh với việc tổ chức một giáo hội Phật giáo có cả hai truyền thống như vậy là một trong bốn điều mà các quốc gia khác trên thế giới không thể nào có được.

Phật giáo Phù Nam bản địa hoá rất rõ nét. Trong các hiện vật Phật giáo được ngành khảo cổ học tìm thấy có rất nhiều hiện vật vàng chế tác các biểu tượng Phật giáo như hoa sen. Việc chế tác biểu tượng tôn giáo bằng vàng là một trong những đặc trưng bản địa của người Phù Nam. Và các biểu tượng đó được tìm thấy tại di tích tháp Phật giáo Gò Xoài minh chứng rõ rệt cho nhận định trên. Đồng thời trong chất liệu chế tác tượng Phật của người Phù Nam chúng ta có thể thấy những nét bản địa rất rõ rệt như việc chế tác bằng gỗ mù u hay cây sao thay vì gỗ mít như người Việt hay chiên đàn như người Ấn. Đặc biệt là tượng Phật chế tác bằng gỗ mù u. Một nét chấm phá khác trong việc tín ngưỡng của cư dân Phù Nam chúng ta xét về hình tượng Bodhisattva, ở Phù Nam chỉ tìm thấy tượng Avalokiteśvara và Maitreya, đặc biệt là Lokeśvara, nhìn nhận dưới góc độ đặc điểm kinh tế, do người Phù Nam là cư dân biển và thường xuyên giao thương trên biển nên tín ngưỡng Lokeśvara đặc biệt phát triển mạnh hơn các vị Bodhisattva khác.

Nhìn chung, Phật giáo Phù Nam phát triển với sự đa dạng trong tư tưởng và cách thức sinh hoạt, tuy nhiên để đúc kết lại không nằm ngoài ba đặc điểm lớn trên, và chính các đặc điểm đó tạo nên một diện mạo Phật giáo Phù Nam rất đặc trưng.

3.3. Các giá trị của Phật giáo Phù Nam

Cầu nối giữa Ấn Độ và Trung Hoa, như trong các thư tịch cổ, các nhà sư Phật giáo Ấn Độ muốn sang Trung Hoa đều đến Phù Nam và xem như đây là một trạm trung chuyển, và với các nhà sư Trung Hoa bên chiều kia cũng như vậy. Phù Nam trở thành một nơi tiếp nhận các đoàn hoằng pháp của tu sĩ Ấn Độ đến Trung Hoa. Cũng như các nhà sư Trung Hoa muốn sang Ấn Độ học hỏi thêm giáo điển cũng đều chọn Phù Nam như điểm dừng nghỉ để tích luỹ tư lương. Vai trò cầu nối giữa Trung Hoa và Ấn Độ khiến cho Phật giáo Phù Nam tiếp nhận đầy đủ cả hai luồng tư tưởng Đông – Tây lúc bấy giờ để tạo nên một diện mạo Phật giáo Phù Nam đặc sắc và đa dạng.

Cung cấp giá trị văn bản học nhất định trước thời Huyền Tráng. Như chúng ta biết Phật giáo Trung Hoa có cứ liệu đầy đủ tam tạng kinh điển từ sau chuyến đi Tây Vực của Ngài Huyền Tráng đầu thời Đường. Trước đó, nguồn kinh điển phục vụ cho tu học của tu sĩ Trung Hoa hầu hết đều từ các nhà sư Ấn Độ mang sang lẻ tẻ, và một nguồn gần hơn Ấn Độ đó chính là Phù Nam. Theo như Phật giáo Trung Hoa công nhận tứ đại dịch giả kinh điển Phật học của họ là Kumārajīva, Paramārtha, Huyền Tráng và Nghĩa Tịnh. Hai trong số ấy là Paramārtha và Nghĩa Tịnh đều đã từng đến Phù Nam và đem kinh điển về. Đặc biệt là Ngài Paramārtha với các dịch phẩm Suvarṇaprabhāsa sūtra (Kinh Ánh sáng hoàng kim), Yogācārabhūmi sātra (Du già sư địa luận) – Mahāyānasaṃgraha sātra là hai bộ luận quan trọng của học phái Du già hành và Abhidharamakośa sātra (A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận) là một bộ luận thư quan trọng của học phái A Tỳ Đàm. Các dịch phẩm tiêu biểu đó của Paramārtha cung cấp một lượng kiến thức Phật học rất lớn cho giới tu sĩ Trung Hoa bấy giờ. Chính Mahāyānasaṃgraha sātra là một động lực thôi thúc Huyền Tráng lên đường đi Tây Vức thỉnh kinh khi nó cung cấp một lượng kiến thức rất thâm sâu và vi tế, và để tìm hiểu sâu sắc hơn từ những gợi mở ban đầu đó, Huyền Tráng lên đường đi Tây Vức. Để từ những tiền đề đó mở ra một phương trời học thuật với đầy đủ kinh tạng cho Phật giáo Trung hoa cũng như Phật giáo thế giới.

Cung cấp nhân lực phiên dịch kinh điển từ Phạn ngữ ra Hán ngữ. Như chúng ta biết, với số lượng Tam tạng kinh điển khổng lồi từ Ấn Độ, việc phiên dịch ra tiếng Trung Hoa từ Phạn ngữ không thể do một vài người có thể đảm trách nên lực lượng thực hiện công việc dịch thuật này rất quan trọng. Chính Phù Nam là nguồn cung cấp nhân sự cho công việc dịch thuật kinh điển này. Mỗi khi Trung hoa thiếu nhân lực để thực hiện công cuộc phiên dịch các vua Trung Hoa có tư tưởng thân Phật giáo lại cử phái bộ sang Phù Nam để mời người giỏi Phạn ngữ và tiếng Trung Hoa để sang dịch thuật kinh điển. Thay vì phải đi một quãng đường xa đến Ấn Độ thì nguồn cung từ Phù Nam vẫn là lựa chọn được người Trung Hoa lựa chọn nhiều hơn. Việc cung cấp lực lượng nhân sự phục vụ công tác dịch thuật kinh điển của người Phù Nam có một ý nghĩa rất lớn đối với Phật giáo thế giới để lưu trữ cũng như phổ biến quảng phương các giá trị học thuật Phật giáo.

Ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Việt Nam, Phù Nam có vị trí địa lí gần kề Việt Nam như vậy, do đó những phái đoàn hoằng pháp của các nhà sư Ấn độ đôi khi cũng cập bờ Giao Châu, nhờ đó Phật giáo Việt Nam cũng thừa hưởng được những giá trị từ Phật giáo Phù Nam. Đồng thời những giá trị di sản của Phật Phù Nam đề lại đến ngày nay vẫn có những ảnh hưởng nhất định với Phật giáo Việt Nam. Đơn cử như vấn đề hoà hợp trong hai truyền thống Bắc truyền và Nam truyền trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam hiện nay có thể nói là một di sản rất lớn mà Phật giáo Phù Nam để lại.

IV. KẾT LUẬN

Vương quốc Phù Nam với sự tồn tại của nó trong lịch sử chỉ hơn bảy thế kỷ. Với một thời gian ngắn như vậy, Phật giáo du nhập và phát triển tại đây như một dấu ấn quan trọng trong đời sống tinh thần cư dân Phù Nam. Tuy chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn như vậy, nhưng Phật giáo Phù Nam đã để lại nhiều nét chấm phá rất đặc biệt trong sự phát triển của Phật giáo trên thế giới.

Với vị trí ở giữa hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Hoa, Phù Nam như một cầu nối để nối liền hai bờ tư tưởng Đông – Tây. Do đó, chính đặc điểm này làm cho Phù Nam có một thuận lợi rất lớn trong việc tiếp nhận các tiến bộ của hai nền văn minh, mà Phật giáo là một trong những điều đó. Vị trí thắng địa của Phù Nam giúp nó trở thành một trung tâm chuyển tiếp trong dòng chảy Phật giáo từ Ấn Độ đến Trung Hoa. Việc hầu hết các học phái Phật giáo đều có sự hiện diện ở Phù Nam là một minh chứng rõ ràng cho vai trò cầu nối ấy. Điều đó tạo nên một sức sống đa dạng và phong phú trong Phật giáo ở Phù Nam, không chỉ theo một truyền thống Nam truyền hoặc Bắc truyền mà ở đó là một sự hòa hợp các truyền thống Phật giáo.

Mặt khác những đóng góp về mặt học thuật Phật giáo với những nhà phiên dịch kinh tạng lừng lẫy phục vụ cho việc biên dịch kinh điển Phật giáo cho Trung Hoa là không thể phủ nhận. Những đóng góp đó giúp Phật giáo có sức lan tỏa lớn mạnh không chỉ ở Trung Hoa mà còn cả ra Đông Á.

Và một điều không thể không ghi nhận là những di sản mà Phật giáo Phù Nam để lại, là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển đa dạng của Phật giáo Việt Nam. Những giá trị đó cho đến ngày nay, Phật giáo Việt Nam vẫn còn được thừa hưởng, đó là con đường Phật giáo du nhập vào nước Việt cũng như những đặc điểm về sự hòa hợp tất cả truyền thống Phật giáo trong một không gian chung của quốc gia dân tộc. Đó là một trong những đóng góp rất lớn cho Phật giáo Việt Nam ngày nay.

____________
* Tăng sinh HVPGVN tại TP.HCM khóa XIII

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách, báo, tạp chí:

  1. Sherman E.Lee (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông, Nxb. Mỹ thuật.
  2. G. E. Hall (1997),Lịch sử Đông Nam Á, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  3. Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, trang 23.
  4. Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao Tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, trang 413.
  5. Nguyễn Lang (2011), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học.
  6. Lương Ninh – GS Vũ Dương Ninh (2008). Tri thức Đông Nam Á, Nxb.Chính trị quốc gia
  7. Thích Kiến Nguyệt (2008), Phật giáo Tây Thiên – Tam Đảo, “Tây Thiên vào hạ”, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, trang 39.
  8. Nhiều tác giả (2016), Giá trị của di sản văn hóa Óc Eo – An Giang trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM.
  9. Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập I, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  10. Đặng Văn Thắng (2016), Các tiểu quốc thuộc vương quốc Phù Nam ở Nam bộ, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM.
  11. Đặng Văn Thắng (2017), Các trung tâm tôn giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam bộ, Đại học Quốc gia Tp.HCM.
  12. Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM, trang 96.
  13. Trần Thuận (2019), Phật giáo Việt Nam góc nhìn lịch sử văn hóa, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
  14. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (2015), Tổng hợp các bút ký đi Tây Vực thỉnh kinh, Nxb. Hồng Đức.
  15. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM (2015), Phật giáo vùng Mê-Kông: Lịch sử và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

References
1 Nguyễn Hữu Tâm (2008), “Khái quát về Phù Nam – Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo, Nxb. Thế giới, trang 267 -273, dẫn lại trong Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM, trang 131.
2 Thích Kiến Nguyệt (2008), Phật giáo Tây Thiên – Tam Đảo, “Tây Thiên vào hạ”, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, trang 39.
3 Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, trang 23.
4 Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, trang 22.
5 Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao Tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, trang 166.
6 Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao Tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, trang 413.
7 Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM, trang 96.
8 (Mohamad Alinor Abdul Kadir Zahrin Affandi Mohd (2016), Hubungan Politik dan Sosiobudaya China-Dunia Melayu Hingga Kurun ke-15 Masihi, “Hubungan Kecendekiawanan – Terawal Melayu – China”, Penerbit University Sain Malaysia Epub

Xem thêm

259

GS Nguyễn Xuân Thu: Chất lượng học tập dựa vào đầu ra?

Trước khi nói đến chất lượng đầu ra (learning outputs), thiết nghĩ chúng ta cần …

h5

Tuệ Nguyễn: Một vài vấn đề về Phật giáo, Kitô giáo và khoa học

1. Kinh Lăng Nghiêm và vũ trụ song song. Khái niệm về vũ trụ song …