Close Menu
Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest YouTube
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc
    Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    • PHẬT HỌC
      • Đức Phật
        • Thánh đản
        • Thành đạo
      • Phật học phổ thông
      • Nghiên cứu
      • Giảng luận
      • Pháp thoại
      • Ứng dụng
      • Trích dẫn Phật pháp
    • KINH – LUẬT – LUẬN
      • Kinh
        • Giới thiệu kinh
        • Giảng giải
      • Luật
        • Luật học
      • Luận
      • Kim Cang thừa
    • PHẬT GIÁO VIỆT NAM
      • Lịch sử
      • Nhân vật
        • Chư Tôn đức
        • Cư sĩ hữu công
        • Tiểu sử
      • Sự kiện
      • Tưởng niệm
    • CHUYÊN ĐỀ
      • Dân tộc
      • Giáo dục
      • Khoa học
      • Xã hội
      • Triết học
      • Biên khảo
      • Phật giáo thế giới
      • Nhìn ra thế giới
      • Chuyên mục khác
    • TUỔI TRẺ
      • Đời sống
      • Hành trang
      • Gia đình Phật tử
    • VĂN HÓA
      • Xuân Vạn Hạnh
      • Quán Thế Âm
      • Kiết hạ
      • Vu Lan
      • Nghi lễ – Phong tục
      • Mỹ thuật – Kiến trúc
      • Âm nhạc
    • VĂN HỌC
      • Văn
      • Thơ
      • Truyện
      • Tùy bút
      • Phê bình
      • Giới thiệu – Điểm sách
    • PHẬT SỰ
      • Tin tức
    • THƯ VIỆN
      • Báo chí
        • Kỷ yếu
        • Tạp chí
        • Tập san
      • Sách
      • Tham luận
      • Luận văn
      • Tư liệu
      • Media
        • Audio – MP3
        • Video Clips
      • Hình ảnh
    • NGOẠI VĂN
      • General Buddhist Studies
      • Buddhism with Youth
      • Buddhist Education
      • Buddhist History
      • Buddhist Culture
      • Buddhist Literature
      • Buddhist Sociology
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Trang chủ » Thích Quảng Hạnh dịch: Khái luận Tịnh Độ Tông Phật Giáo

    Thích Quảng Hạnh dịch: Khái luận Tịnh Độ Tông Phật Giáo

    21/12/2022153 Mins Read
    Phat A Di Da
    Share
    Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

    TỊNH ĐỘ TÔNG KHÁI LUẬN
    Việt dịch: Thích Quảng Hạnh
    Hiệu chính và phụ chú: Thích Tâm Nhãn


    KHÁI LUẬN TỊNH ĐỘ TÔNG PHẬT GIÁO

    Xí Tịnh

    I. CƯƠNG YẾU PHẬT PHÁP

    Nội dung

    Toggle
    • KHÁI LUẬN TỊNH ĐỘ TÔNG PHẬT GIÁO
      • I. CƯƠNG YẾU PHẬT PHÁP
        • TỊNH VÀ NHIỄM
        • PHÁP HOA PHẬT THỪA
        • NGŨ THỜI GIÁO
        • PHÁP GIỚI HOA NGHIÊM
        • ĐẠI BÁT-NHÃ
        • BÁT-NHÃ VÀ TỊNH ĐỘ
      • II. MỞ BÀY GIÁO LÝ TỊNH ĐỘ
        • BI NGUYỆN CỦA NHƯ LAI
        • KINH LUẬN TỊNH ĐỘ
      • III. HẠNH MÔN VỀ TÔNG CHỈ TỊNH ĐỘ
        • A. Tín
        • B. Nguyện
        • C. Hạnh
      • IV. HẠNH MÔN CỦA TỔ SƯ ĐÔNG ĐỘ
        • Ngài Tuệ Viễn Tịnh Ảnh[77]
        • Ngài Thiên Thai Trí Giả
        • Ngài Minh Chiêm[95] ở Chung Nam
        • Ngài Đạo Mão[101] ở Hàn Lăng
        • Ngài Đạo Xước[104] ở Huyền Trung
        • Ngài Thiện Đạo ở Trường An
        • Ngài Khuy Cơ ở Từ Ân
        • Ngài Hoài Cảm ở Trường An
        • Ngài Hoài Ngọc ở Dũng Tuyền
        • Ngài Đại Hạnh ở Thái Sơn
        • Ngài Tiềm Chơn ở Hưng Thiện
        • Ngài Trừng Quán[132] ở Ngũ Đài
        • Ngài Tuệ Nhật ở Võng Cực[142]
        • Ngài Phi Tích[144] ở am tranh
        • Ngài Thừa Viễn[148] ở Hoành Sơn
        • Ngài Pháp Chiếu[152] ở Ngũ Đài
        • Ngài Thiếu Khang ở Ô Long
        • Ngài Diên Thọ[161] ở Vĩnh Minh
        • Ngài Tỉnh Thường ở Chiêu Khánh
        • Ngài Tri Lễ ở Diên Khánh
        • Ngài Tuân Thức hiệu Từ Vân[168]
        • Ngài Tông Trách ở Trường Lô
        • Ngài Tông Bổn ở Linh Nham
        • Ngài Tông Lợi ở Nhất Tướng
        • Ngài Cảnh Long ở Thiên Mục
        • Ngài Châu Hoành ở Vân Thê

    TỊNH VÀ NHIỄM

    Bốn Thánh sáu phàm là mười pháp giới,[1] sáu phàm là pháp nhiễm, bốn Thánh là pháp tịnh. Thanh tịnh tột cùng là cảnh giới của chư Phật. Ba Hiền (Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi) mười Thánh còn nằm trong phạm vi quả báo, chỉ có chư Phật mới ở Tịnh độ. Một chữ tịnh, chỉ có chư Phật mới làm được, còn chúng sanh thì khó có thể làm được. Vì vậy mà đức Phật thương xót chúng sanh, dùng mọi phương tiện, rũ lòng từ bi ban bố niềm vui khắp cho mọi loài, tùy theo từng loại mà hiện thân, cứu vớt tất cả chúng sanh ô nhiễm, đưa họ quay về thanh tịnh.

    PHÁP HOA PHẬT THỪA

    Rũ lòng thương dùng phương tiện – kinh Pháp hoa chép:[2] “Lúc Ta mới ngồi nơi đạo tràng, dưới cội Bồ-đề, quán sát và đi kinh hành, trong hai mươi mốt ngày, suy nghĩ như vầy: Trí tuệ mà Ta đã đạt được thật là vi diệu đệ nhất. Chúng sanh các căn ám độn, đắm trước dục lạc, bị ngu si làm mờ mịt, vậy làm sao để hóa độ?”

    Kinh nói tiếp:
    “Ngài nghĩ đến sức phương tiện mà chư Phật quá khứ đã dùng và nghĩ rằng: Nay Ta đắc đạo, cũng nên nói ba thừa như các Ngài .”

    Phật đạo thì cao sâu mà căn tánh chúng sanh lại ám độn, do đó Như Lai thương xót, phương tiện độ sanh, vận dụng trăm ngàn vạn ức pháp môn, rũ lòng giảng dạy tiếp độ, khiến cho tất cả chúng sanh đều nhập vào tri kiến Phật, tu hành Phật thừa.

    Chỉ thẳng Phật thừa – kinh Pháp hoa chép:[3]
    “Xá-lợi-phất nên biết! Người căn trí ám độn hẹp hòi, đắm trước kiêu mạn không thể tin pháp này. Nay Ta hoan hỷ vô úy, đối với các Bồ-tát, dứt khoát bỏ phương tiện, chỉ nói đạo vô thượng”.

    Đạo vô thượng chính là Phật đạo – kinh lại dạy:[4]
    “Đem thâm tâm niệm Phật, tu trì tịnh giới, những người này nghe được thành Phật, toàn thân phấn khởi. Đức Phật biết được tâm hạnh của những người này nên nói Đại thừa.”

    Đức Thích Tôn giáo hóa, trải qua bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội, chỉ vì một đại sự nhân duyên giúp chúng sanh ngộ nhập vào tri kiến của Phật, tu hành đúng như thật, quay về Tịnh độ. Cho nên trải qua bốn mươi chín năm, Ngài phương tiện nói pháp, cho đến trên hội Pháp hoa mới nói ra hoài bão của mình là chỉ thẳng Phật thừa, nên các kinh Tịnh độ dạy niệm Phật thấy Phật, một đời thành Phật, thật đúng là tông chỉ Pháp hoa. Đó chính là pháp môn đặc biệt của Tịnh độ, chẳng qua chưa đến lúc khai quyền hiển thật mà chỉ là mật thuyết.

    NGŨ THỜI GIÁO

    Trí Giả đại sư dựa vào kinh Pháp hoa chia thành năm thời giáo: Hoa nghiêm, A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã và Pháp hoa. Hoa nghiêm, Pháp hoa cùng chiếu trên núi cao.[5] A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã dần dần mới lên cao.[6] Pháp hoa là truyền thừa sự nghiệp của chư Phật, tức là trí Bát-nhã, nên Pháp hoa đứng trước các giáo phái khác, sau đó A-hàm, Phương đẳng mới khai quyền hiển thật. Bốn đế, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều nằm trong Viên thừa. Còn pháp môn Tịnh độ xuyên suốt cả Hoa nghiêm, Pháp Hoa, hoàn toàn chỉ nói về Phật thừa. Cho nên nói thời kỳ này là đặc biệt cho cả Viên giáo và Đốn giáo.

    PHÁP GIỚI HOA NGHIÊM

    Hoa nghiêm là pháp giới của Phật, cảnh Tịch quang thật báo. Nhân hạnh của chư Phật mỗi mỗi đều thấu triệt pháp giới, nếu chẳng phải người phát đại tâm thì không thể tu hành được. Do vậy mà hàng phàm phu Nhị thừa đối với “bảy chỗ chín hội”[7] cũng như đui như điếc, không thấy không nghe.

    Khi đức Phật xuất thế, kẻ phàm phu trí tuệ thấp kém, đối với pháp này (Hoa nghiêm) hoàn toàn mờ mịt, đời sau mới có thể biết được. Những ai không trải qua ba thời A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã thì không thể mở bày tri kiến Phật, như thế làm sao có khả năng chứng ngộ một cách thấu triệt pháp giới của chư Phật mà thật đắc thọ dụng hành trì? Đức Như Lai khởi lên lòng từ, vận dụng tâm bi, mở bày ba thừa, chỉ rõ con đường tiệm tu, lại nói pháp môn Tịnh độ đặc biệt là lộ trình hướng thẳng đến Phật thừa. Do đó tông Tịnh độ gọi là tu hành bằng con đường tắt. Đường tắt là không trải qua con đường uốn khúc quanh co của ba thừa mà vào thẳng Phật thừa. Cho nên phát tâm rộng lớn là chánh nhân vãng sanh Tây phương. Trì danh hiệu Phật, quán cảnh Phật là chánh hạnh sanh Tây phương. Giáo pháp Tịnh độ là giáo pháp lớn nhất để thể nhập vào cửa Hoa nghiêm và Bồ-tát Phổ Hiền đã đem mười đại nguyện dắt dẫn chúng sanh về Cực lạc.

    ĐẠI BÁT-NHÃ

    Từ lòng tin mà vào trí – Phật pháp Đại thừa rốt ráo là ở pháp giới Hoa nghiêm và mở bày để ngộ nhập tri kiến Phật. Tri kiến của Phật là hai trí[8] mà đức Phật đã chứng đắc, đó là đại Bát-nhã. Người nào muốn chứng được trí này thì trước hết phải tu tín tâm. Như nói: Đại Trí Văn-thù còn phải từ nơi lòng tin mà vào. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa ghi: Ngài Xá-lợi-phất ba lần thưa thỉnh đức Phật nói pháp; sở dĩ phải đợi đến ba lần thưa thỉnh là để chúng sanh khởi lòng tin kiên cố hỏi pháp; hoặc Phẩm Như Lai thọ lượng (kinh Pháp hoa) lại chép: Bồ-tát Di-lặc ba lần bạch đức Phật, “Chúng con tin nhận lời Phật dạy”; như thế là thể hiện lòng tin thỉnh cầu giáo pháp. Phẩm Tùng địa dõng xuất (kinh Pháp hoa), đức Như Lai nói kệ:[9]
    “Phải tinh tấn nhất tâm,
    Ta muốn nói việc này,
    Chớ có nghi ngờ gì,
    Trí Phật không nghĩ bàn,
    Các ông nên tin chắc,
    Trụ trong việc nhẫn thiện.
    Ai xưa chưa nghe pháp,
    thì nay đều được nghe.”

    Do đó, nếu muốn nhập vào trí Phật thì cần phải có lòng tin.

    Tu phước phát sanh lòng tin – kinh Kim cang bát-nhã Ba-la-mật dạy:[10] “Sau năm trăm năm, có người trì giới tu phước, nghe được những lời này phát sanh lòng tin, nhận ra là sự thật, nên biết người này trồng các căn lành không chỉ ở nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật mà đã từng trồng nhiều căn lành trong vô lượng ngàn vạn đức Phật.”

    Phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa[11] dạy: “Siêng năng làm các việc thiện sẽ được thấy vô số đức Phật, cúng dường chư Phật, do tùy thuận thực hành đại đạo, đầy đủ sáu Ba-la-mật nên nay thấy được đấng Thích Sư Tử.”

    Phẩm Phương tiện dạy:[12] “Người này phước đức ít cho nên không có khả năng kham thọ pháp này.”

    Kinh Vô lượng thọ[13] dạy: “Nếu người không có thiện tâm thì không nghe được kinh này. Người có giới thanh tịnh mới được nghe chánh pháp. Những ai đã từng thấy đức Thế Tôn, nhất định tin việc này. Người có đức tánh khiêm cung khéo hay phụng hành thì tinh thần lúc nào cũng phấn khởi vô hạn. Còn người luôn ôm lòng kiêu mạn biếng nhác thì khó có thể tin được pháp này. Bởi do đời trước từng diện kiến chư Phật, cho nên nay mới thích nghe giáo pháp này.”

    Phẩm Thế chủ Diệu Nghiêm trong kinh Hoa nghiêm[14] nói: “Ai gieo trồng vô lượng thiện sẽ gặt hái rất nhiều phước, nhất định vào biển đại nguyện phương tiện. Còn ai với hành động thanh tịnh, đối với đạo xuất ly có khả năng xuất ly, thường thấy chư Phật chiếu sáng rõ ràng, nhờ sức hiểu biết thù thắng nên được vào biển cả công đức của Như Lai.”

    Luận Khởi tín[15] dạy: “Được gặp chư Phật, thân cận cúng dường, phát khởi lòng tin tu hành, trải qua một vạn kiếp, lòng tin được thành tựu, chư Phật Bồ-tát dạy dỗ khiến phát tâm.”

    Qua các kinh luận dẫn chứng trên cho chúng ta thấy được, trước tiên thực hành mười điều thiện, siêng năng tu hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định; sau đó sanh lòng tin đối với Phật trí, rồi phát tâm đại Bồ-đề, tu lục độ vạn hạnh mới có khả năng thành tựu quả vị Phật. Thế nên nói: Phật đạo dài xa, nhiều kiếp phải huân tu, không thì khó thoát khỏi ba cõi.

    BÁT-NHÃ VÀ TỊNH ĐỘ

    Người chưa hiểu đúng nghĩa Bát-nhã thì chưa thông Tịnh độ, bởi vì còn chấp chặt vào sự hiểu biết cạn cợt về cái “Không” của mình. Trong đó lại có nhiều trường phái, như phái ngoại đạo ở Ấn Độ thấy về cái Không, hoặc Tiểu thừa thiên lệch cái Không, không chấp nhận có tha phương Tịnh độ, tất cả chỉ tu thiền định, thâm nhập cảnh giới Không. Hoặc phái Lý học Tống Minh[16] bàn về Không, hoặc người hiểu sai lầm Thiền tông bàn về Không. Tất cả đều không phải thật chứng mà chỉ bàn nói suông cho sướng miệng mà thôi. Ngài Vĩnh Gia[17] dạy: “Hiểu Không một cách rỗng toác, bác bỏ nhân quả, để rồi tối tăm mờ mịt chuốt lấy họa tai ương.”[18] Giẫm chân lên cái có mà lại bàn cái không, cho rằng không có nhân quả, nghĩa kinh thì sâu xa mà lại hiểu cạn cợt, đùa giỡn với pháp môn, quả báo tại A-tỳ, việc này trong kinh có dạy rõ. Tai họa này sâu nặng thật đáng đau lòng! Cái nghĩa Không trong kinh Kim cang bát-nhã không phải là trống không. Khi nói đến cái Không ấy cần phải thấy là Không thì mới lìa được cả hai bên, thẳng vào Trung đạo, cho nên kinh nói: “Chớ có nghĩ rằng, Như Lai chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng chánh giác mà không cần tới các tướng đầy đủ.”[19] Nếu hiểu được nghĩa Chân không của Bát-nhã là đi thẳng vào cửa Diệu hữu của Tịnh độ. Trí Phật viên mãn rõ ràng, đầy đủ vạn hạnh, không phải chỉ có một cái Không. Kinh Vô lượng thọ20] cũng dạy: “Nếu có chúng sanh tin hiểu trí của Phật một cách rõ ràng, cho đến trí thù thắng, làm các việc công đức, đem lòng tin hồi hướng thì các chúng sanh này tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu.” Tin hiểu trí của Phật một cách rõ ràng, chẳng phải là trí Bát-nhã ư? Vì thế nên biết Diệu hữu của Tịnh độ, Chân không của Kim cang là một không phải hai.

    II. MỞ BÀY GIÁO LÝ TỊNH ĐỘ

    BI NGUYỆN CỦA NHƯ LAI

    May thay! Được gặp pháp môn Tịnh độ. Hạnh phúc thay! Bi nguyện của Như Lai. Đức Phật A-di-đà từ vô lượng kiếp trước phát thệ nguyện rộng lớn, thành tựu Tịnh độ, nhiếp thọ chúng sanh trong mười phương niệm Phật, giúp kẻ phàm có lòng tin thâm sâu, nguyện lực bền chắc, xưng tụng hồng danh Phật được sanh về Tịnh độ, siêng năng tu trì không bị rơi trở lại. Trong các kinh Đại thừa, bất luận chỗ nào, đức Phật Thích-ca Mâu-ni cũng khuyến khích vãng sanh. Mười phương chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài, khen ngợi chứng minh bi nguyện của Như Lai thật sâu xa thắm thiết!

    KINH LUẬN TỊNH ĐỘ

    Kinh Vô lượng thọ:
    Đức Phật ở trong núi Linh Thứu, nước Ma-kiệt-đà, nói về nhân địa[21] ban đầu của đức Phật A-di-đà, bỏ nước xuất gia, phát bốn mươi tám lời nguyện.

    Lại nữa, Ngài trải qua nhiều kiếp lâu xa, nương vào nguyện lực tu hành, cho đến lúc phước đức trí tuệ viên mãn được thành Phật đạo, tạo ra thế giới trang nghiêm, mười phương chư Phật đều khen ngợi, mười phương Bồ-tát cùng hàng Nhị thừa bỏ Tiểu hướng Đại, kẻ phàm phu đầy dẫy hoặc nghiệp đều được nhiếp thọ, đều được vãng sanh, đó là kinh Vô lượng thọ. Kinh này nói về hạnh nguyện nhân địa của Phật và tướng Tịnh độ trang nghiêm vi diệu. Người tu hành Tịnh độ chân thật nên đọc kinh này.

    Kinh Quán vô lượng thọ:[22]
    Đức Phật ở trong cung vua, nước Ma-kiệt-đà, nói về ba phước tịnh nghiệp, mười sáu cách quán vi diệu, khiến cho tất cả chúng sanh nhận biết tâm này làm Phật, tâm này là Phật; chư Phật là biển chánh biến tri, từ tâm mà sanh ra, và tâm này cũng làm chúng sanh, cũng là chúng sanh, tạo ra biển nghiệp phiền não của chúng sanh, rõ ràng không sai. Giáo lý thâm sâu vi diệu, đưa chúng sanh sanh về chín phẩm, dần dần tu lên thượng phẩm, đó là kinh Quán vô lượng thọ Phật. Có giác ngộ thì thấy được chư Phật, còn mê thì chỉ thấy chúng sanh. Nếu không nghiên cứu triệt để cùng tận về lãnh vực chúng sanh khởi hoặc tạo nghiệp, thì khó hiểu được cái nghĩa tâm làm, tâm là. Đây chính là cương yếu của Phật pháp.

    Kinh A-di-đà:[23]
    Đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, nước Xá-vệ, nói về quả báo vi diệu y chánh Tịnh độ, khiến mọi người sanh lòng tin, khuyến khích người nghe cầu vãng sanh để lập nguyện, lại khiến hành giả chấp trì danh hiệu để lập hạnh. Tín, hạnh, nguyện là tông cương yếu của pháp môn Tịnh độ. Ai trang bị cho mình đầy đủ ba pháp này, hoặc cả đời chấp trì cho đến khi được nhất tâm; hoặc khi lâm chung mới nghe, chỉ xưng mười niệm, đều được đức Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Đây là kinh A-di-đà.

    Than ôi! Trong kinh đức Phật lặp đi lặp lại ba lần là pháp khó tin. Kỳ lạ thay! Chúng sanh thời mạt pháp, người tin Tịnh độ thật là hiếm! Kinh này vốn tên là kinh Khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn, tất cả chư Phật đều hộ niệm, công đức khó nghĩ. Lạ thay, chúng sanh thời mạt pháp, người tin hiểu công đức kinh này thật là hiếm! Người chưa thông đạt đến cảnh vượt khỏi phàm tình, loại bỏ kiến chấp thì khó bàn về áo nghĩa Tịnh độ.

    Chương Bồ-tát Đại Thế Chí niệm Phật viên thông trong kinh Lăng-nghiêm:[24]

    Các kinh Đại thừa đều nói rất nhiều về Tịnh độ, nhưng đặc biệt chương Đại Thế Chí niệm Phật viên thông trong kinh Lăng-nghiêm, chính là nói đến pháp môn niệm Phật khai thị vi diệu tối thượng.

    Trong kinh nói chúng ta có đầy đủ lòng tin nguyện lực chân chánh, nhiếp phục sáu căn, như con nhớ mẹ, từng niệm liên tục thanh tịnh, tức là phản niệm, niệm tự tánh của Bồ-tát Thế Chí, phản văn (nghe), nghe tự tánh của Bồ-tát Quán Âm, công phu hai lớp, dung chứa nhất tâm, niệm vạn đức hồng danh của Như Lai, cứ thế sẽ chuyển nghiệp tâm thức của chúng sanh thành tạng bí mật Như Lai. Nghĩa là được quả vị giác ngộ là từ cái nhân của tâm tu tập, tức thấu triệt nguồn nhân và bao trùm biển quả.[25] Người nào có duyên tu tập thì thật là may mắn thay!

    Phẩm Bồ-tát Phổ Hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm:

    Phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện và phẩm Nhập pháp giới phần cuối trong kinh Hoa nghiêm 80 quyển.[26] Thiện Tài tham học khắp năm mươi ba vị tri thức, khi đến chỗ của ngài Phổ Hiền, nhờ sự khai thị và sức oai thần của ngài Phổ Hiền mà chứng Đẳng giác. Ngài Phổ Hiền mới nói kệ, khen ngợi công đức thù thắng vi diệu của đức Như Lai, khuyến tấn Thiện Tài và Hải chúng hoa tạng, cùng đem công đức mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh thế giới Cực lạc, hẹn ngày viên mãn quả Phật.

    Kinh này nói rõ nhân quả một đời thành Phật, nhưng điểm chính là cầu sanh về Tây phương. Có thể biết, pháp niệm Phật cầu sanh Tây phương là pháp môn thâu nhiếp tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, trên thành Phật đạo dưới hóa độ chúng sanh, trước sau đều thành tựu.

    Phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm:[27]

    Phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm là đem cái tâm nhân địa hoằng thệ đại nguyện khế hợp với cái quả giác ngộ. Tuy đã chứng đến địa vị cao thượng như Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, nhưng vẫn còn áp dụng một trăm bốn mươi mốt nguyện làm căn cứ để tiến tu. Cho nên phẩm kinh này rất quan trọng cho người tiến tu vào đạo. Chúng sanh đời mạt thế căn cơ còn thấp hèn phải thường tụng văn này để ba nghiệp mau chóng thanh tịnh, niệm niệm khế hợp với tâm Phật, khi lâm chung có thể lên thẳng thượng phẩm!

    Luận Vãng sanh:[28]

    Bồ-tát Thiên Thân tạo, ngài soạn nhiều bộ luận nhằm xiển dương hoằng hóa Phật thừa, lại trước tác Vô lượng thọ luận, Nguyện sinh kệ luận và chỉ dạy Ngũ môn tu pháp (năm pháp môn tu học), khuyến khích mục đích cứu cánh là vãng sanh; trình bày rõ mọi cách như lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát, hồi hướng. Đối với môn quán sát, chỉ rõ trang nghiêm

    Tịnh độ và pháp lực của đức Như Lai, công đức của Bồ-tát, những ai thấy nghe đều nguyện vãng sanh. Pháp sư Đàm Loan[29] soạn thảo chú thích tường tận, giảng rõ thệ nguyện Di-đà, nói lên tư tưởng của ngài Thiên Thân đã thể hiện trọn vẹn bằng cả tâm can của mình. Nếu ngài Thiên Thân chẳng phải thâm đắc Phật tâm, đầy đủ biện tài vô ngại thì làm sao có thể viết ra được như thế.

    Luận Tịnh độ thập nghi:[30]

    Pháp càng vi diệu thì lại càng khó tin, nên trong kinh Pháp hoa đức Như Lai có nói khó tin. Pháp môn Tịnh độ giúp phàm phu được bước lên thềm Thánh địa, chuyển tri kiến chúng sanh nhập vào tri kiến Phật là pháp khó tin, nhưng lại là điều làm được! Muốn có niềm tin sâu sắc, trước hết phải giải quyết mọi nghi ngờ. Trong tựa luận Tịnh độ thập nghi[31] có ghi rằng: Lấy luận Thập nghi của đại sư Trí Giả làm đầu, và lời tựa Dương Thứ Công[32] viết:

    Tán thán giáo quán của đức Phật A-di-đà, sách ấy chất cao như núi, nhưng chỉ có bộ luận Tịnh độ thập nghi của đại sư Trí Giả phái Thiên Thai là bộ luận đứng đầu. Viện dẫn lời Thánh, giải quyết mọi nghi ngờ, như ngôi nhà hoang bị tối tăm vạn năm, nhưng khi ánh sáng mặt trời chiếu vào, thì sự tối tăm đều tan mất. Nước chảy dài muôn dặm, thuyền chạy không phải nhọc công. Nếu chẳng phải hậu thân của Pháp Tạng[33] thì không thể đạt đến như thế. Thật là điển tịch của tông yếu Tịnh độ vậy![34]

    Luận Niệm Phật tam-muội bảo vương:[35]
    Pháp môn Tịnh độ đơn giản nhưng lại sâu rộng, nhờ đơn giản mà nhiều người tầm thường có thể niệm Phật được vãng sanh. Do sâu rộng nên Thánh nhân Tam thừa đều nguyện cầu về Cực lạc.

    Luận Bảo vương của pháp sư Phi Tích[36] là niệm ba đời chư Phật, quy nạp kinh Pháp hoa vào môn Tịnh độ, tức là tất cả chúng sanh đều đi vào con đường niệm Phật tam-muội. Đem công đức này hồi hướng, cầu sanh Tây phương, hết tất cả chúng sanh trong pháp giới đồng quay về biển tánh Nhất thừa. Đó chẳng phải là đại nguyện của Phổ Hiền ư!?

    Tịnh độ hoặc vấn:[37]
    Pháp càng mạt thì tà kiến càng mạnh. Lão nhân Thiên Như[38] là bậc thầy cao cả trong Thiền môn, ngài trước tác quyển Tịnh độ hoặc vấn để trợ giúp tông Tịnh độ. Trợ giúp tông Tịnh độ là cứu Thiền môn ra khỏi tệ hại, vì hai môn Thiền và Tịnh đều là con đường chính yếu để thoát ra bể khổ, cắt đứt tình thức, nghiệp tạ trần lao. Thời mạt thế, người tu thiền lại ăn no ngủ kỹ, nên bậc thượng sĩ trong tông môn hỗ trợ Tịnh độ cứu giúp những hạng ấy.
    Các vị này đều là những người tài năng cao siêu, chứ chẳng phải là kẻ tầm thường quê kệch. Cõi đời thật là bể sanh tử, cần phải cứu vớt giúp đỡ họ!

    Tây trai tịnh độ thi:[39]

    Tây trai tịnh độ thi là kệ tán theo văn tiếng Phạn, thanh vận thánh thoát, như Phật bản hành tán[40] của Bồ-tát Mã Minh, những ai đã đọc tụng đều khởi tâm kính ngưỡng, gieo trồng căn lành, loại trừ bất giác, nên kệ khen ngợi còn mãi là vậy!

    Thiền sư Sở Thạch[41] luôn ôm ấp thơ Tịnh độ trong lòng, vì lẽ đó mà làm nên những dòng kệ tuyệt tác tán thán tông Tịnh độ; sớm chiều ngâm tụng, tinh thần lại bay bổng giữa hoa thơm ao báu, đó chính là thân tại Ta-bà mà tâm về Cực lạc. Như thế là giúp con người hành nghiệp thanh tịnh, lẽ nào lại cho đó là cạn cợt!?

    Bảo vương tam-muội niệm Phật trực chỉ:[42]

    Pháp môn Tịnh độ đều có thể phá trừ các mối nghi ngờ lớn nhỏ của quyền thật. Phải hiểu, tự tánh là Di-đà, duy tâm là Tịnh độ, chớ lấy thần thức hư vọng làm tự tánh, theo hình bóng bên ngoài làm duy tâm, là ngu si chấp thủ mê tình; cũng không nên vọng chấp thân ta và quốc độ ta đang sống, như nhận giặc làm mình, đó là nhận thức sai lầm không sáng suốt. Do vậy, thiền sư Diệu Hiệp[43] trước tác Niệm Phật trực chỉ, bài bác mãnh liệt về sự sai lầm của những ai chủ trương lập tâm ngoài quốc độ, đó là tai họa dấy lên từ bên trong, khơi dậy chuyện sai lầm!

    Luận Tịnh độ sanh vô sanh:[44]

    Đại sư U Khê[45] thuộc phái Trung hưng Thiên thai giáo quán, trước tác luận Sanh vô sanh, lấy một niệm hiện tiền tâm không, pháp không để làm căn bản, nên cõi Phật thân Phật đều là tâm ta. Nay dùng một niệm niệm Phật bất khả tư nghị làm y báo, chánh báo Tây phương, viên diệu ba quán,[46] cảm ứng sanh về cõi Phật, hay nhân duyên nhiều kiếp thệ nguyện, cũng không nằm ngoài vấn đề một niệm niệm Phật hiện tiền. Như vậy, qua lại mười phương, nhân quả ba đời, tất cả phàm tiểu, tà kiến thiên lệch, nghi hoặc đều bị đoạn diệt!

    Tây phương hợp luận:[47]

    Viên Trung Lang[48] là phái Công An, thuộc văn học gia cổ văn. Thuở niên thiếu ông thi đậu tiến sĩ, văn chương danh tiếng chấn động một thời, có chí hướng thượng, có sự ngộ đạo nên biên soạn một tập văn giải quyết sự xung đột của Thiền tông, tâm nương Tịnh độ, đưa về một vị chơn thật bình đẳng, do vậy mà ông hơn người khác rất xa. Ông trước tác bộ Tây phương hợp luận, hoàn toàn phát xuất từ sự giác ngộ, thấu triệt thiền cơ, thông suốt giáo lý của Phương sơn thanh lương (?), khiến người tin hiểu vững chắc về Tịnh độ và Hoa nghiêm không hai. Cảm thương trước sự phân chia nhiều nhánh (tông) như vậy?!

    III. HẠNH MÔN VỀ TÔNG CHỈ TỊNH ĐỘ

    Ba điều quan trọng của tịnh nghiệp: một là tín, hai là nguyện và ba là hạnh.

    A. Tín

    1. Chữ tín trong pháp thế gian:

    Tất cả hạnh môn của thế và xuất thế gian đều thành lập từ chữ tín. Như người nông phu cày bừa gieo trồng phải có lòng tin lúc thu hoạch sẽ có kết quả, tuy trời có lúc mưa lúc hạn, vẫn không thấy uổng công chăm lo cày bừa vun xới. Niềm tin ấy không để cho những biến đổi ngẫu nhiên mà phế bỏ nó. Khổng Tử nói rằng: “Từ xưa vẫn có người chết; nếu dân không tin thì chính quyền đổ”.[49] Chữ tín đối với pháp thế gian còn quan trọng đến như thế, lẽ nào lòng tin trong đạo không suy nghĩ chín chắn lại!

    2. Chữ tín trong pháp xuất thế gian:

    Chữ tín trong pháp xuất thế rất quan trọng. Tín là nguồn gốc của đạo, là mẹ đẻ công đức. Bồ-tát Đại Trí Văn-thù còn từ lòng tin mà vào. Đại pháp Pháp hoa, ngài Xá-lợi-phất ba lần thưa thỉnh, đức Thế Tôn mới nói là vì pháp khó tin. Kinh Kim cangdạy: “Sau năm trăm năm, có người trì giới tu phước, nghe những lời này, có thể phát lòng tin một cách là chân thật. Vì thế nên biết, người này không chỉ gieo trồng căn lành từ một đức Phật, hai đức Phật, ba đức Phật, bốn năm đức Phật mà từng gieo trồng căn lành từ vô lượng ngàn vạn đức Phật.” Nếu không từng thọ ân Phật trong vô lượng kiếp một cách thâm sâu thì sao có thể tin được đại pháp xuất thế?

    3. Đặt niềm tin vào Tịnh độ:

    (1) Pháp khó tin – Đức Phật dạy trong kinh A-di-đà: “Vì tất cả thế gian mà Ta nói pháp khó tin này thì thật là khó”. Tịnh độ là pháp khó tin, nên Phật còn than là rất khó. Như ai tin về Tịnh độ thì người ấy từ lâu đã được Phật giáo hóa, căn lành đã ăn sâu. Kinh Vô lượng thọ dạy: “Nếu người không có thiện tâm thì không nghe được kinh này. Chỉ có người giới thanh tịnh mới nghe chánh pháp, từng thấy Thế Tôn thì nhất định tin việc này. Đồng thời, người thích nghe giáo pháp này là do đời trước từng diện kiến chư Phật, người ấy cũng có đức tính khiêm cung khéo hay phụng hành, tinh thần lúc nào cũng phấn khởi vô hạn. Còn người luôn ôm lòng kiêu mạn biếng nhác thì khó tin pháp này.” Cho nên người tu pháp môn Tịnh độ phải có lòng tin và phải phát triển lòng tin ấy.

    (2) Cốt yếu của sự tu hành bằng lòng tin – Tu để có lòng tin là từ nhân quả sự lý mà vào. Nhân nhất định có quả, niệm Phật cầu vãng sanh dứt khoát sẽ sanh về Tây phương. Quả phải theo nhân, như những người đã từng vãng sanh trước đây cũng đủ chứng minh cho ta thấy. Sự có thể hiển bày lý, tức là y báo, chánh báo của Cực lạc, mười vạn ức cõi chẳng phải là xa. Lý có thể thành sự, tu hành hoàn toàn tùy thuộc vào tánh, bảy báu trang nghiêm, mọi thứ đầy đủ cũng đều từ nơi tánh. Tóm lại, tin rằng đây là lời nói chân thật từ kim khẩu Phật, tức là quả dụng của ba thân[50] bốn trí,[51] chứ chẳng phải có được từ bên ngoài.

    B. Nguyện

    1. Chữ nguyện trong pháp thế gian:

    Muôn việc ở thế gian đều do nguyện mà thành. Nếu như không nguyện thì làm gì cũng không thể thành tựu. Như người không thích đọc sách, dù ép họ đọc cũng không được gì. Còn người có chí nguyện kiên quyết, dù việc khó khăn cách mấy họ cũng cố đạt đến mục đích. Do vậy có câu: “Có chí thì nên; có công mài sắt có ngày thành công.” Nhưng nguyện cốt yếu là từ lòng tin sâu sắc, nếu lòng tin bị lay động, thì sự tinh tấn ban đầu sẽ bị phế bỏ và tâm đi ngược lại.

    2. Chữ nguyện trong pháp xuất thế:

    (1) Người học phát nguyện – Người học Phật trước hết luận về phát tâm, phát tâm Bồ-đề chính vì muốn cắt đứt sanh tử, cũng là nhân để chứng quả. Nếu như nhân địa không chân thật thì quả không tương xứng. Phát tâm Bồ-đề tức là nguyện. Bồ-đề là giác, tâm giác ngộ thông suốt tất cả, cùng với mười phương chư Phật, mười phương chúng sanh không ngăn cách vi trần. Vì không ngăn cách với Phật, nên nguyện theo học Phật; vì không ngăn cách với chúng sanh, nên nguyện cứu khổ chúng sanh. Do đó, tất cả những ai học Phật nhất định phải phát nguyện.

    (2) Chư Phật, Bồ-tát phát nguyện – Nhân địa tu hành của mười phương chư Phật tuy đồng phát nguyện Bồ-đề, nhưng mỗi vị đều có nguyện lực thù thắng đặc biệt. Như đức Bổn sư nguyện ở trong cõi đời ô trược; ngài Địa Tạng nguyện cứu hết chúng sanh ở địa ngục; Bồ-tát Quán Thế Âm tầm thanh cứu khổ. Tất cả các ngài đều có thệ nguyện thù thắng đặc biệt. Như mười đại nguyện vương của Bồ-tát Phổ Hiền thâu nhiếp tất cả nguyện, cũng là nguyện mà tất cả chư Phật và Bồ-tát cùng phát khởi.

    3. Chữ nguyện trong tông Tịnh độ:

    (1) Nguyện của chư Phật – Thế giới Cực lạc là do nguyện lực của đức Phật A-di-đà mà thành tựu. Pháp môn Tịnh độ là nguyện lực khai sáng của đức Phật A-di-đà. Lẽ nào người tu tịnh nghiệp lại không biết nguyện lực của đức Phật hay sao? Từ vô lượng kiếp trước, đức Phật A-di-đà là Tỳ-kheo Pháp Tạng, ở chỗ đức Phật Thế Tự Tại Vương phát thệ 48 lời nguyện, trang nghiêm cõi Phật, nhiếp thọ chúng sanh. Tu hành trong quốc độ của Phật là mở bày rộng lớn thù thắng vi diệu bậc nhất, hạnh nguyện nhiếp thủ hai trăm mười ức cõi chư Phật thanh tịnh vi diệu. Nên người tu tịnh nghiệp phải lấy 48 nguyện ấy làm thời khóa tụng hằng ngày cho chính mình.

    (2) Chúng sanh nguyện cầu vãng sanh – Chúng ta niệm Phật phải phát nguyện cầu vãng sanh. Kinh A-di-đà dạy: “Chúng sanh nghe việc đó nên nguyện sanh về cõi ấy (Cực lạc)”.

    Đức Bổn sư cũng ân cần khuyến khích sự phát nguyện vãng sanh. Chúng ta không những có lòng tin sâu sắc mà còn phải có nguyện chân thật, vì tịnh nghiệp không từ nơi người khác mà từ lòng chí thành cung kính tin tưởng lời Phật, và sự phát nguyện vãng sanh.

    C. Hạnh

    Hạnh môn trong kinh Vô lượng thọ (Đại kinh)[52] chia làm ba bậc (tam bối):

    Bậc thượng là lập hạnh trong đời sống: một, xuất gia; hai, phát tâm Bồ-đề; ba, chuyên tâm niệm Phật; bốn, tu các công đức.
    Bậc trung: một, phát tâm Bồ-đề; hai, chuyên tâm niệm Phật và ba là ít nhiều tu thiện.
    Bậc hạ: một, phát tâm Bồ-đề; hai, chuyên tâm niệm Phật và ba là tin vui nghe pháp.

    Bậc thượng, trung là không tin vui nghe pháp; bậc hạ là thiếu tu các công đức. Vì thế nên hạnh tu công đức và hành thiện đều phát xuất từ lòng tin vui nghe pháp. Bậc hạ là không có năng lực thực hành điều này, chỉ sanh tuệ do nghe mà thôi.

    Hạnh môn trong Quán kinh (Quán vô lượng thọ kinh): 

    Thứ nhất, ba phước của tịnh nghiệp:

    (1) Hiếu dưỡng cha mẹ: Hạnh môn tịnh nghiệp trong Quán kinh là lấy sự hiếu dưỡng cha mẹ làm đầu, cho nên nghĩa của chữ hiếu rất lớn, rất sâu, rất rộng, nó có mối quan hệ rất lớn đối với tịnh nghiệp.
    Kinh nói:[53] Đức Phật Thích-ca là bậc đại hiếu, trải qua nhiều kiếp báo ân song thân, nhờ đó mà ngài mau chóng thành Chánh giác. Chúng sanh trong sáu đường đều là cha mẹ thời quá khứ. Cha mẹ nhiều kiếp, ân sâu ba đời, nhân quả luân hồi trong sáu nẻo, chìm đắm trong biển khổ biết ngần nào. Thế nên một niệm hiếu là căn bản của tâm Bồ-đề.

    (2) Phụng sự sư trưởng: Cha mẹ sanh ra sắc thân ta, sư trưởng sanh ra tuệ mạng ta, ân đức đó rất nặng. Người xưa phụng sự sư trưởng không những thân này, mà còn quên mình vì pháp để đền đáp ân sâu nặng của sư trưởng. Tâm thờ thầy tức là thờ cha mẹ, làm được như thế tức là tâm chí thành, tâm hiếu thuận, làm tròn một việc hiếu là cất chứa bao nhiêu việc thiện. Cho nên hạnh thờ thầy, phụng sự sư trưởng cũng rất quan trọng.

    (3) Lòng từ không sát sanh: Trong bốn vô lượng tâm, tâm từ đứng đầu. Giáo pháp đức Phật trước nhất chú trọng về lòng từ. Nếu thực hành lòng từ một cách trọn vẹn thì chỉ có Bồ-tát ở địa vị cao nhất, còn sức lực phàm phu không thể làm được. Mặc dù không đủ khả năng tu từ trọn vẹn, nhưng cũng phải nỗ lực tu từ, không nên làm trái với lòng từ. Người sát sanh là ngược lại với lòng từ, mang tội rất lớn. Vì tham, vì sân cho nên giết hại; tất cả những hành vi ấy đều là nghiệp nhân của ba đường. Do vậy, người tu hành tịnh nghiệp không thể không thọ trì giới không sát sanh.

    (4) Tu mười thiện nghiệp: Mười thiện nghiệp là nhân sanh thiên, là tư lương để hồi hướng vãng sanh Tây phương. Trong văn sao giải thích nghĩa thập thiện rằng: mười nghiệp thiện này bao quát hết tất cả, nếu ai có khả năng tuân hành thì không việc ác nào là không đoạn trừ, không việc thiện nào là không tu. Phải hiếu kính cha mẹ, quí mến anh em, vợ chồng phải kính trọng nhau, hết lòng dạy dỗ con cái cho chúng lương thiện; đối với láng giềng sống chan hoà nhẫn nhịn, nhún nhường, và dạy nhân quả thiện ác cho mọi người tu sửa. Đại sư Liên Trì[54] dạy: “Hoàn thiện được muôn điều lành tức là Phật vậy.”

    (5) Thọ trì Tam quy: Tam quy là nền tảng cơ bản để vào Phật đạo, cho đến Bồ-tát ở địa vị Địa thượng, trong từng niệm của mỗi địa cũng không lìa Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Cho nên hành trang để vãng sanh Tây phương không thể tách rời Tam quy. Bồ-tát quy y Phật, cũng giống như người con hiếu thảo trở về bên cha mẹ. Những người phàm phu, tuy không thành kính như Bồ-tát, nhưng nghi thức thọ trì Tam bảo thì không thể thiếu, tức là tâm quy mạng đương nhiên là phải có. Đây là điều kiện quan trọng để vãng sanh Tây phương.

    (6) Các giới cụ túc: Thọ trì giới không khiếm khuyết gọi là cụ túc. Nói các giới là vì giới tướng không phải là một; trước hết là từ năm giới, mười giới, cho đến ba tụ tịnh giới.[55] Lời Phật viên dung, nhiếp hóa tất cả hữu tình, đưa chúng sanh bỏ nhiễm ô quay về thanh tịnh. Và cốt yếu chính là ở nơi hành giả tùy phần lãnh thọ giới pháp mà được lợi ích. Pháp môn Tịnh độ tùy theo căn cơ mà nhiếp hóa, nhưng nghĩa chính là thanh tịnh, do vậy giữ giới tức là tu. Và do Vô duyên đại từ[56] cho nên không giới hạn cách thức cứu độ, lại chỉ bày hạnh môn vô tận, kỳ vọng liên phẩm tăng cao. Lòng từ bi cao vời thay!

    (7) Không phạm oai nghi: Ở trên đã trình bày về giới cụ túc, tức là đại cương sanh thiện diệt ác. Còn ở đây nói không phạm oai nghi là chỉ cho ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh ngăn ngừa phòng hộ những lỗi vi tế của thân tâm. Giải thích theo nghĩa hẹp thì hai câu trên đều chỉ cho Tỳ-kheo mà nói. Giải thích theo nghĩa rộng thì tất cả hành môn đều nằm trong đó. Tông Tịnh độ viên dung sâu rộng, hoàn toàn giống với Hoa nghiêm, không giáo pháp nào không thâu nạp, không căn cơ nào không nhiếp hóa. Muôn hạnh của Bồ-tát trong văn kinh ấy đều nói đầy đủ.

    (8) Phát tâm Bồ-đề: Bồ-đề là quả vị giác ngộ vi diệu mà đức Phật đã chứng. Tánh giác này vốn ai cũng có đầy đủ; nếu nói theo lý thì đó là Phật. Chỉ tiếc rằng chúng ta không biết tâm này hoàn toàn giống như chư Phật, cho nên không trân trọng quý mến nó, chạy theo mê tình, dong ruổi tìm cầu bên ngoài, khởi phiền não tạo nghiệp, rồi từ nhân tạo nghiệp gánh chịu quả báo luân hồi trong sáu nẻo, khổ đau không thể kể hết.
    Nay được nghe pháp vi diệu, biết được tâm này ngang bằng với Phật, thì ai lại không chịu xây dựng nền móng làm Phật, mà cứ mãi dong ruổi, để rồi phải chịu rơi vào biển khổ sanh tử?! Thế nên, phát tâm là trên cầu Phật đạo, kiên trì giới luật, rộng tu vạn hạnh, và tâm thề thành Phật tức là tâm Bồ-đề.

    (9) Tin nhân quả: Chư Phật thành Chánh giác hay chúng sanh bị đọa lạc ba đường đều là việc nhân quả. Pháp thế và xuất thế gian không có một pháp nào nằm ngoài nhân quả. Tuy nhiên, do chúng sanh luôn mê muội nên nhân quả nằm ngay trước mắt mà không biết, hay có người học Phật, ngộ nhận lệch lạc về chữ Không, nên nói không có nhân quả. Trong Chứng đạo ca, ngài Vĩnh Gia[57] dạy: “Hiểu Không một cách rỗng toác, bác bỏ nhân quả, để rồi tối tăm mờ mịt chuốt lấy họa tai ương.”

    Thật quá nguy hiểm! Vì thế phải có lòng tin nhân quả sâu sắc, nếu không thì quả khổ ba đường (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh) khó tránh.

    (10) Tụng đọc Đại thừa: Kinh luận Đại thừa là từ văn tự Bát-nhã, từ văn tự Bát-nhã khởi lên quán chiếu Bát-nhã, đi sâu vào là thật tướng Bát-nhã. Tịnh độ là Diệu hữu. Diệu hữu là Chân không; Chân không là Diệu hữu. Lìa Diệu hữu nói Chân không tức là nghiêng lệch về không. Lìa Chân không để tìm Diệu hữu tức rơi vào ba cõi. Cả hai đều là nhận thức sai lệch không phải Trung đạo. Tịnh độ không rời Bát-nhã, Bát-nhã không rời Tịnh độ. Cho nên ở đây đề cập đến việc đọc tụng kinh điển Đại thừa chính là một trong những phương pháp hướng đến tịnh nghiệp.

    (11) Khuyến khích hành giả tinh tấn: Người tu tịnh nghiệp thì cả mình và người đều được lợi ích. Xây dựng cho chính mình tức xây dựng cho người khác, thành đạt cho chính mình cũng làm cho người khác được thành đạt. Thiện pháp thế gian còn không quên việc lợi ích cho người khác, huống chi giáo pháp Phật giáo Đại thừa. Khuyến khích hành giả tinh tấn là hạnh tất yếu của tịnh nghiệp! Mình niệm Phật cũng nên khuyên người khác niệm Phật. Mình tu thiện nên khuyến khích người khác tu thiện.

    Những lời trình bày trên chỉ là phương tiện, chứ chẳng phải nói nhiều. Nếu ai hướng dẫn người vào đạo thì tùy theo căn cơ mà làm lợi ích, tâm cứ chí thành cần cầu, đó là cái diệu dụng vô cùng.

    Thứ hai, ba tâm tịnh nghiệp:

    (1) Tâm chí thành: Tâm chí thành là tâm ngay thẳng. Kinh Duy-ma[58] nói: “Tâm ngay thẳng (trực tâm) tức là đạo tràng của Bồ-tát”. Luận Khởi tín[59] cũng dạy: “Tâm ngay thẳng, chánh niệm chơn như”. Đem tâm chí thành niệm Phật, tức là trực tâm, chánh niệm chơn như. Đây là cái niệm của những người hồn nhiên, cho nên phù hợp với đạo vi diệu. Luận rằng pháp môn Bát-nhã đệ nhất nghĩa đế, bậc thượng trí còn không hiểu nổi, nhưng những kẻ hồn nhiên lại do vô tâm cho nên phù hợp với đạo vậy. Đó chính là cái diệu dụng của tâm chí thành. Tuy nhiên chẳng có gì kỳ lạ cả, tâm ngay thẳng chính là đạo, nó vượt ngoài cái tình, lìa sự nhận thức, dứt hẳn nói năng suy nghĩ. Vì thế cái diệu dụng của tâm Tịnh độ đạt đến mức cùng cực như vậy, lẽ nào đó không phải là công đức bất khả tư nghị ư!?

    (2) Tâm sâu sắc: Phẩm Bồ-tát Phổ Hiền hạnh nguyện[60] nói: “Nếu không có chúng sanh thì tất cả Bồ-tát nhất định không thể thành Vô thượng chánh giác.” Cho nên muốn thành Phật đạo trước hết đem tâm đại bi làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Kinh dạy tiếp:[61] “Nhân nơi lòng đại bi mà phát sanh tâm Bồ-đề, nhân nơi Bồ-đề mà thành Chánh đẳng chánh giác”. Nhưng tâm đại bi này bao trùm cả pháp giới, kẻ sơ cơ mới học không thể thực hiện được, chỉ tùy theo khả năng mình kham nhận mà phát tâm làm lợi ích cho mọi người, tu hành lợi ích cho mọi người, đó là nghiệp mà người mới học Phật phải nỗ lực tu tập. Rộng tu thiện hạnh, tích lũy công đức, là tâm sâu sắc của người mới học.

    (3) Tâm phát nguyện hồi hướng: Thành tâm niệm Phật là trên cầu Phật đạo. Tâm sâu sắc làm lợi ích cho người khác là dưới hóa độ chúng sanh. Hợp cả hai lại thành một tâm Bồ-đề, đều là nhân hạnh. Tu nhân hạnh là cầu quả Phật, hồi nhân hướng quả. Tu nhân hạnh này không phải tự lợi mà để lợi ích cho người khác, đây gọi là hồi tự hướng tha. Phẩm So sánh công đức bố thí trong kinh Địa Tạng[62] dạy:

    “Bố thí như thế được phước vô lượng; nếu lại đem hồi hướng, bất luận là nhiều hay ít cuối cùng cũng sẽ thành Phật”.

    Hồi hướng tức là hồi tự hướng tha. Thế mới biết, nếu vì mình mà tu thì phước ít, vì người mà tu thì phước nhiều. Nhân địa phát tâm của chư Phật đều là vì chúng sanh mà khởi tâm đại bi. Cho nên nói công ơn của đức Phật khó mà đáp đền.

    Hạnh môn trong kinh A-di-đà:

    Trong ba kinh Tịnh độ[63] đều đã chỉ bày hạnh môn, nhưng Quán kinh thì quá dài dòng, còn kinh A-di-đà lại giản lược, song giản lược lại nhiếp hóa dài dòng, thông suốt không cùng tận. Không những hạnh môn của Quán kinh được thâu nhiếp hết trong đó, mà cả Hoa nghiêm, Pháp hoa và tất cả kinh điển Đại thừa, tám vạn bốn ngàn hạnh môn cũng nhiếp trì trong một câu danh hiệu Phật. Nên nói, danh hiệu Phật bao trùm tất cả, niệm danh hiệu Phật tức xưng tán công đức Phật. Thiền sư Triệt Ngộ[64] dạy: “Một câu Di-đà là Phật tâm của chính ta, dọc khắp năm thời, ngang cùng tám giáo.”[65] Nếu nhất tâm thọ trì danh hiệu thì đầy đủ tất cả!

    Hạnh môn của đại Bồ-tát Thế Chí trong kinh Lăng-nghiêm:

    Trong Lăng-nghiêm kinh Đại Thế Chí Bồ-tát Niệm Phật viên thông chương[66] lấy sự nhớ nghĩ làm chính. Nói nhớ nghĩ tức ví dụ mẹ con luôn nhớ nhau. Kinh Vô lượng thọ[67] dạy:

    “Ai đã từng diện kiến đức Thế Tôn thì có khả năng tin được việc này”.

    Nếu người học Phật, kính Phật, thường niệm Phật, là luôn nhớ nghĩ đến Phật; như con nhớ mẹ, từng giây, từng phút, từng giờ không bao giờ quên được mẹ, thì tạp niệm làm sao có cơ hội xen vào được?!

    Hạnh môn của Bồ-tát Phổ Hiền trong kinh Hoa nghiêm:

    Mười đại nguyện vương của Bồ-tát Phổ Hiền: Lễ kính, xưng tán, cúng dường v.v… đều là hạnh niệm Phật. Như nguyện sám hối là thanh tịnh ba nghiệp. Nguyện hằng thuận chúng sanh là để hóa độ chúng sanh. Nguyện tùy hỷ, tùy học, thỉnh Phật trụ thế, thỉnh chuyển pháp luân đều là thượng cầu hạ hóa. Nguyện hồi hướng là hồi tự hướng tha, nghĩa là đem công đức tu hành của mình ban bố cho chúng sanh.

    Những lời phát nguyện của bồ-tát Phổ Hiền và Địa Tạng là một, đều vì chúng sanh. Vì sao? Vì chúng sanh và ta đồng một thể tánh, là tâm Bồ-đề, cuối cùng tất cả đều hướng về Cực lạc.

    Hạnh môn trong phẩm Tịnh hạnh kinh Hoa nghiêm:

    Trong bài tựa Văn sao tục biên Tịnh hạnh phẩm ghi: Nếu tại Tín vị[68] thì lấy phẩm Tịnh hạnh làm nhân địa của tâm, khế hợp với quả vị giác ngộ để hoằng thệ đại nguyện. Tuy đạt đến quả giác ngộ thâm sâu như Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác nhưng vẫn còn dùng 141 nguyện[69] làm căn cứ để tấn tu. Cho nên phẩm kinh này rất quan trọng, người tu Tịnh độ cần đọc tụng nghiên cứu. Chúng sanh thời mạt pháp căn cơ thấp kém, nếu mọi thời mọi lúc, tâm niệm thường tụng văn này, thường phát nguyện như thế, thì ba nghiệp mau chóng được thanh tịnh, niệm niệm khế hợp với tâm Phật, đến khi lâm chung sẽ được sanh lên thượng phẩm!

    Hạnh môn trong luận Vãng sanh của Bồ-tát Thiên Thân:

    1. Lễ bái — Luận[70] nói rằng:

    “Nếu thiện nam, thiện nữ nào tu hành thành tựu năm pháp môn quán niệm, nhất định sẽ được vãng sanh về quốc độ An lạc và được diện kiến đức Phật A-di-đà. Năm pháp môn quán niệm đó thế nào? Một, lễ bái; hai, tán thán; ba, phát nguyện; bốn, quán sát; năm, hồi hướng. Thế nào là lễ bái? Là thân nghiệp lễ bái đức A-di-đà Như Lai ứng chánh biến tri, với tâm nguyện muốn sanh về cõi ấy”.

    Hạnh môn của ngài Phổ Hiền thứ nhất là lễ kính chư Phật, nay đảnh lễ đức Phật A-di-đà tức là kính lễ theo hạnh ngài Phổ Hiền và cũng là cái lý: Đảnh lễ một đức Phật là đảnh lễ tất cả chư Phật khắp pháp giới; lễ được khắp mà chẳng phải lễ nhiều, chuyên lễ mà chẳng phải lễ ít.

    2. Tán thán — Luận dạy:

    “Thế nào là tán thán? Là xưng tán danh hiệu đức Như Lai, hoặc tướng ánh sáng trí tuệ của đức (A-di-đà) Như Lai, hoặc danh nghĩa với mục đích muốn tương ưng với hạnh tu hành như thật.”

    Kinh lại dạy:[71]
    “Ánh sáng vô lượng của đức Phật ấy chiếu khắp mười phương cõi nước, không có gì cản trở được nên hiệu là A-di-đà”.

    Từng tiếng niệm danh hiệu Phật là từng tiếng xưng tán công đức, xưng tán tướng ánh sáng trí tuệ của đức Như Lai (A-di-đà), cũng là xưng tán công đức Bát-nhã của Phật. Đồng thời niệm danh hiệu Phật phải suy nghĩ về nghĩa, do đó trì danh hiệu là thâu nhiếp toàn bộ hạnh môn Bát-nhã.

    3. Tác nguyện — Luận dạy:

    “Thế nào là tác nguyện? Là tâm thường tác nguyện. Nhất tâm chuyên niệm, nhất định sẽ vãng sanh về nước An lạc. Muốn như thật phải tu hạnh Xa-ma-tha”.[72]

    Pháp sư Đàm Loan giải thích: Xa-ma-tha tức là dừng (chỉ), nói rộng có ba nghĩa:

    Một là nhất tâm, chuyên niệm đức A-di-đà Như Lai, nguyện sanh về nước của Ngài. Nếu niệm danh hiệu A-di-đà Như Lai và nhớ nghĩ tên quốc độ ấy thì có khả năng chấm dứt tất cả ác.

    Hai là cõi An lạc ấy vượt qua ba cõi. Nếu người nào vừa sanh về cõi ấy thì tự nhiên thân, miệng, ý đều dừng ác.

    Ba là nhờ sức trụ trì của đức A-di-đà Như Lai chánh giác mà giúp cho tâm của chúng ta tự nhiên chấm dứt sự mong cầu chứng quả Thanh văn hay Bích-chi Phật. Nếu chấm dứt ba việc trên thì tự nhiên phát sanh công đức như thật từ Như Lai. Cho nên ai cầu nguyện sanh về Tịnh độ thì công đức không thể nghĩ bàn.

    4. Quán sát — Luận dạy:

    “Thế nào là quán sát? Là quán sát đối tượng bằng chánh niệm, là tu hạnh Tỳ-bà-xá-na[73] một cách như thật. Quán sát có ba thứ: Một, quán sát công đức trang nghiêm cõi Phật A-di-đà; hai, quán sát công đức trang nghiêm của đức Phật A-di-đà; ba, quán sát công đức trang nghiêm của các vị Bồ-tát”.

    Pháp sư Đàm Loan giải thích: Tỳ-bà-xá-na tức là quán, cũng có hai nghĩa: Một, chính tại nơi đây, quán tưởng ba thứ công đức trang nghiêm ấy. Do công đức như thật cho nên người tu hành cũng đạt được công đức như thật. Người có công đức như thật nên quyết định được sanh vào cõi ấy. Hai, khi sanh về cõi Tịnh độ thì được diện kiến đức Phật A-di-đà. Nếu Bồ-tát chưa chứng tịnh tâm thì dứt khoát cũng chứng được pháp thân bình đẳng. Đây chính là ý nghĩa của Quán kinh.

    5. Hồi hướng — Luận dạy:

    “Bồ-tát dùng phương tiện khéo léo nói về năm thứ tu hành như Lễ bái v.v… là gom tất cả công đức thiện căn, không mong cầu an trụ, không nắm giữ niềm vui riêng cho bản thân mà chỉ muốn cứu khổ cho tất cả chúng sanh, phát nguyện nhiếp thủ tất cả chúng sanh, cùng sanh về cõi Phật an lạc; nên gọi là Bồ-tát thành tựu phương tiện hồi hướng khéo léo”.

    Giải thích:[74]

    “Theo kinh Vô lượng thọ mà đức Phật nói tại thành Vương-xá, trong ba hạng vãng sanh (Tịnh độ), tuy hạnh có ưu liệt nhưng ai nấy đều phát tâm vô thượng Bồ-đề. Tâm vô thượng Bồ-đề này tức là tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện làm Phật là tâm cứu độ chúng sanh. Tâm cứu độ chúng sanh là tâm nhiếp thủ chúng sanh sanh về cõi Phật Tịnh độ. Thế nên, người nguyện sanh về cõi Tịnh độ an lạc cần phát tâm vô thượng Bồ-đề. Nếu người không phát tâm vô thượng Bồ-đề, chỉ nghe cõi ấy hưởng mãi niềm vui, rồi vì ham vui mà nguyện sanh thì nhất định không được vãng sanh.

    Cho nên nói, không mong cầu an trụ, không nắm giữ niềm vui riêng cho bản thân mà muốn cứu khổ cho tất cả chúng sanh. An trụ, nắm giữ niềm vui là cõi Tịnh độ an lạc ấy nhờ bổn nguyện an trụ và nắm giữ của đức A-di-đà Như Lai nên hưởng niềm vui không dứt.

    Giải thích danh nghĩa hồi hướng: Nghĩa là đem tất cả công đức của mình tích tập, ban bố cho tất cả chúng sanh cùng hướng đến Phật đạo.

    Phương tiện khéo léo: Nghĩa là Bồ-tát nguyện đem ngọn lửa trí tuệ của mình đốt rụi cây cỏ phiền não của tất cả chúng sanh; nếu còn một chúng sanh nào chưa thành Phật thì nguyện không thành Phật. Nhưng nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật mà Bồ-tát đã thành Phật thì ví như ngọn lửa muốn thiêu rụi hết tất cả cỏ cây, cỏ cây chưa cháy hết mà lửa đã tàn. Do đặt thân mình ở sau mà thân lại ở trước, nên gọi là phương tiện khéo léo. Trong đây nói phương tiện nghĩa là nguyện nắm giữ tất cả chúng sanh cùng sanh về cõi Phật an lạc. Cõi Phật ấy là con đường phương tiện thành Phật rốt ráo vô thượng”.

    Luận dạy:

    “Bồ-tát khéo biết hồi hướng thành tựu như vậy là có khả năng xa lìa ba pháp trái với Bồ-đề. Những gì là ba? Một, nương vào cửa trí tuệ, không mong cầu cái vui cho riêng mình, loại trừ ngã tâm tham trước của chính mình.”

    Giải thích:

    “Biết tiến, giữ hay rút lui thì gọi là trí; biết không, vô ngã là tuệ. Do nương vào trí cho nên không tìm cái vui riêng cho chính mình. Do nương tuệ nên cách ly được ngã tâm tham trước tự thân.”

    Luận dạy:

    “Hai, nương vào cửa từ bi, nhổ tất cả khổ cho chúng sanh, giúp chúng sanh xa lìa tâm không an lạc.”

    Giải thích:

    “Nhổ cái khổ gọi là từ, ban bố niềm vui gọi là bi. Nhờ nương vào lòng từ nên dứt trừ nhổ tất cả khổ cho chúng sanh. Nhờ nương lòng bi nên chúng sanh xa lìa tâm không an lạc”.

    Luận dạy:

    “Ba, nương vào cửa phương tiện, thương xót tất cả chúng sanh, loại trừ cái tâm ham muốn cung kính cúng dường tự thân”.

    Giải thích:

    “Ngay thẳng (chánh trực) gọi là phương, ‘không vì mình’[75] là tiện. Do nương vào ‘ngay thẳng’ nên sanh tâm thương xót tất cả chúng sanh. Do nương vào ‘không vì mình’ nên xa lìa cái tâm ham muốn sự cung kính cúng dường cho mình”.

    Luận dạy:

    “Bồ-tát xa lìa ba pháp trái với Bồ-đề như vậy, cho nên đạt được trọn vẹn ba pháp tùy thuận Bồ-đề. Những gì là ba? Một, tâm thanh tịnh không ô nhiễm, là do không tìm cầu những niềm vui cho riêng mình”.

    Giải thích:

    “Bồ-đề là nơi thanh tịnh không nhiễm ô. Nếu tìm cầu niềm vui cho riêng mình thì trái với Bồ-đề. Thế nên, tâm thanh tịnh không nhiễm là thuận với Bồ-đề”.

    Luận dạy:

    “Hai, tâm an lạc thanh tịnh, do dứt trừ nhổ mọi đau khổ cho tất cả chúng sanh”.

    Giải thích:

    “Bồ-đề là nơi làm cho tất cả chúng sanh an ổn thanh tịnh. Nếu không khởi tâm dứt trừ, nhổ đau khổ sanh tử cho tất cả chúng sanh thì là trái với Bồ-đề. Thế nên, nhổ sạch tất cả khổ cho chúng sanh là thuận với Bồ-đề”.

    Luận dạy:

    “Ba, tâm an vui thanh tịnh, do giúp tất cả chúng sanh đạt được đại Bồ-đề, để nhiếp thủ chúng sanh sanh về cõi Tịnh độ”.

    Giải thích:

    “Bồ-đề là nơi thường an vui rốt ráo. Nếu không làm cho tất cả chúng sanh thường an vui tuyệt đối thì trái với Bồ-đề. Nương vào đâu mà thường an vui tuyệt đối? Là nương vào môn Đại thừa. Đại thừa là cõi Phật an lạc. Do đó nói, nhờ nhiếp thủ chúng sanh nên được vãng sanh về cõi ấy”.

    6. Quay về Bát-nhã một cách tuyệt đối — Luận dạy:

    “Nói về ba pháp môn trí tuệ, từ bi và phương tiện là nhiếp thủ Bát-nhã, Bát-nhã nhiếp thủ phương tiện. Phải biết như thế”.

    Giải thích:

    “Bát-nhã là đạt được trí tuệ chân như. Phương tiện là thông trí quyền biến. Đạt tuệ chân như là tâm hành vắng lặng; thông quyền tức xét mọi căn cơ chúng sanh. Trí xét mọi căn cơ chúng sanh nhưng lại không biết (làm mà không thấy làm). Tuệ vắng lặng cũng không biết có cứu xét toàn diện. Thế thì, trí tuệ phương tiện tương duyên mà động, tương duyên mà tỉnh. Động không mất công năng tỉnh của trí tuệ, tỉnh cũng không bỏ sức động của phương tiện.

    Do đó trí tuệ, từ bi và phương tiện nhiếp thủ Bát-nhã, Bát-nhã nhiếp thủ phương tiện. Nghĩa là trí tuệ, phương tiện là cha mẹ của Bồ-tát. Nếu không nương trí tuệ, phương tiện thì không thành tựu pháp Bồ-tát. Vì sao? Vì nếu độ chúng sanh mà không có trí tuệ thì nhất định rơi vào điên đảo. Nếu không có phương tiện, khi quán pháp tánh thì chứng thực tế,[76] thế nên cần phải biết”.

    IV. HẠNH MÔN CỦA TỔ SƯ ĐÔNG ĐỘ

    Ngài Tuệ Viễn Tịnh Ảnh[77]

    1. Hạnh hộ pháp:

    Thời kỳ Châu Võ diệt pháp, ngài Tuệ Viễn và ngài Tĩnh Ái[78] cùng bàn luận việc chánh. Ngài Tĩnh Ái xả thân, còn ngài Tuệ Viễn thì đi tạm ẩn; đi ở không đồng, mỗi vị đều có nhân duyên riêng. Lúc đó, ngài Tuệ Viễn ra oai chống cự bạo chúa, xem quyền lực chẳng ra gì, nghiêm nghị triệt để, không chịu khuất phục, cố nhiên là ngài xem cái chết như không. Vì không chuyển hoá được bạo chúa nên ngài mới tạm ẩn tránh ở Tây sơn quận Cấp. Ở đó, ngài tụng các kinh như Pháp hoa,… mỗi kinh tụng ngàn lần, thông suốt tất cả pháp.

    2. Nghiêm tịnh Tỳ-ni:

    Lời dạy của đức Bổn sư để lại rằng: Người học Phật cần phải lấy giới làm thầy, muốn sanh về cõi Tịnh độ thì phải nghiêm trì Tỳ-ni (giới luật), tu hạnh thanh tịnh, có thanh tịnh thì nghiệp mới thanh tịnh.
    Lúc ngài Tuệ Viễn mới vào đạo, chuyên tinh học luật, năm hạ nghe giảng, suốt ròng từ đầu đến cuối. Cho đến đời Tùy, phép tắc Sa-môn được đặt ra, làm thầy thì chánh khí phải hùng dũng, đạo phong phải nghiêm túc; trừng trị những ai sai phạm những điều đã qui định, không để sự cưỡng ép. Hoặc đi khất thực trái phép, hoặc oai nghi bất thường thì không cho tham dự vào hàng thính chúng. Hoặc ngủ nghỉ thất thường, nghe pháp trễ nãi, hoặc liên quan các hình thức khác đều bị phạt không tha.

    3. Hạnh hoằng pháp:

    Truyện[79] kể: Từ khi ngài Tuệ Viễn cạo tóc tìm thầy, trải qua hai đời, hóa độ khắp tám phương, trước tác, sớ giải, tổ chức, giảng đạo không ngừng nghỉ; dạy dỗ khai ngộ những ai còn vướng đầy bụi trần. Không những thế ngài còn là người thông đạt nghĩa lý thâm sâu, có cách lãnh ngộ mới. Bảy hạ tại huyện Nghiệp giảng dạy Thập địa.[80]Từ đó ngài giảng dạy suốt tại nơi đây, người nghe hơn cả ngàn người; ý chí lúc nào cũng gắn liền với việc hoằng truyền, tùy theo căn cơ trình độ mà giảng dạy, chú thích sớ chương, số lượng sách vở chú giải hơn năm mươi quyển. Sự nghiệp hoằng pháp của ngài là chỗ truyền dạy rộng rãi. Hiện nay, những bộ Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ[81] và Quán kinh sớ[82] của ngài vẫn còn; người tu hành tịnh nghiệp nên dựa vào đó để diễn giảng tu tập.

    Ngài Thiên Thai Trí Giả

    1. Giáo tông Pháp hoa:

    Thiên thai Trí Giả đại sư[83] là người truyền thừa giáo quán tông Thiên thai. Thiên thai tông còn gọi là Pháp hoa tông, vì giáo nghĩa lấy từ kinh Pháp hoa. Pháp hoa chỉ thẳng Phật thừa, hoàn toàn giống với Tịnh độ, nên người hoằng truyền Pháp hoa phần nhiều kiêm cả Tịnh độ, người tu tịnh nghiệp phần đông kiêm cả Pháp hoa. Thuở nhỏ, ngài Trí Giả mỗi khi thấy tượng liền cúi đầu đảnh lễ, gặp Tăng thì cung kính, nằm thì chắp tay, ngồi thì quay mặt về hướng Tây. Năm lên bảy, ngài học phẩm Phổ môn, chỉ cần học qua một lần thì có thể tụng được, người đời truyền rằng ngài là Thích-ca tái sanh; chuyện này không phải là ngẫu nhiên! Đến khi ngài thọ giáo tại núi Đại Tô (với ngài Tuệ Tư), hành trì Pháp hoa tam-muội,[84] tụng đến phẩm Dược Vương liền thấy hội Linh Sơn, chưa kịp tan thì ngài đã chứng Pháp hoa tam-muội tiền phương tiện.[85]

    2. Thực hành chú trọng thiền quán:

    Giáo nghĩa Thiên thai chính là chỉ quán, định tuệ song vận là thiền Đại thừa. Kể từ ngài Trí Giả, pháp môn này đã được truyền bá mạnh mẽ, từ triều đình đến dân quê, ai nấy đều quy tâm. Ngày xưa, tại các trường giảng dạy, thỉnh thoảng giảng tập thiền, dạy chỉ quán, viên đốn khắp Vũ Vực.[86] Luận rằng, từ giới sanh định, nhân định phát tuệ, nếu không tu ba học vô lậu (giới, định, tuệ) thì từ đâu có được Bảo sở (niết-bàn)? Tôn chỉ nhất tâm tam quán phải lãnh hội ngay, đốn triệt nguồn pháp, một sắc một hương đều là trung đạo đệ nhất nghĩa đế; bởi vì nó cùng với Thiền tông trực chỉ, tuy là khác đường nhưng cùng về một chỗ.

    3. Hạnh viễn ly:

    Người học Phật lấy xuất trần làm chí hướng, cho nên quý nhất là hạnh xuất ly. Như ngài Tuệ Viễn không bao giờ rời núi, quyết chí tu hành theo phép tắc. Chỉ có Bồ-tát khi truyền bá giáo pháp, xem thấy nơi nào có nhân duyên, thì tới nơi đó dù là triều đình hay chợ búa, mặc dù khổ tâm nhưng với mục đích hộ trì chánh pháp, lợi ích chúng sanh. Ngài Trí Giả danh tiếng chấn động cả triều đình, làm cho các quan chức đều ngưỡng mộ kính lễ. Tuy ngài ở chùa Ngõa Quan tại Kim Lăng, nhưng ý chí lúc nào cũng tại sông núi; do vậy mà đêm mộng thấy mình đi quanh trên núi cao. Về sau, ngài cùng với Tuệ Biện, hơn hai mươi người vào ở ẩn trong núi Thiên Thai.

    4. Quy tâm Tịnh độ:

    Sách truyện[87] kể: Ngài Trí Giả bảo học trò Trí Việt đến chùa Thạch Thành quét dọn. Ngài nói: “Tôi sẽ ở trước đức Phật mạng chung”. Giường đặt ở vách phía Đông, mặt quay về hướng Tây, xưng niệm đức Phật A-di-đà, Bát-nhã, Quán Âm. Lại xướng đề kinh Pháp hoa, tụng kinh Vô lượng thọ, ca ngợi 48 lời nguyện, trang nghiêm Tịnh độ, ao hoa cây báu, chỗ dễ đến nhưng lại không có người. Ngài lại bảo đưa hương thơm súc miệng, nói mười Như,[88] bốn bất sanh,[89] mười pháp giới,[90] ba quán,[91] bốn giáo,[92] bốn vô lượng (từ, bi, hỷ, xả), lục độ (bố thí, trì giới…) v.v… Khi ấy ngài mới nói rằng:

    “Quý thầy bạn của tôi từ chỗ Quán Âm, Thế Chí đều đến đón tôi.”

    Nói xong ngài còn dặn dò đệ tử: Ba-la-đề-mộc-xoa[93] là thầy của ông, bốn thứ tam-muội[94] là người hướng dẫn sáng suốt cho ông. Nói xong, ngài ngồi ngay thẳng như đang vào định, nhập diệt trước tượng đá lớn ở núi Thiên Thai.

    Ngài Minh Chiêm[95] ở Chung Nam

    1. Hạnh hộ pháp:

    Lúc nạn Chu-Võ[96] xảy ra, các bậc cao Tăng đại đức đều đi ẩn cư để tránh nạn, sư Minh Chiêm cũng trong số đó. Năm mười bảy tuổi, sư được tiến cử làm tiến sĩ nhưng không đến nhận chức. Bản tánh ham thích phương xa nên sư xuống tóc xuất gia. Sư thông hiểu cả Đại, Tiểu thừa, giỏi về sách thế tục. Thời Văn đế nhà Tùy, vua sắc lệnh cho ngài thống lĩnh sa-môn. Đến khi Dượng đế lên ngôi ra lệnh cho Tăng, Đạo phải tôn kính mình. Lệnh vừa ban xuống, Đạo môn (Đạo giáo) liền tuân chỉ, riêng dòng họ Thích chẳng tuân theo. Sư Minh Chiêm vì đại chúng từ chối, sư mạo phạm kháng cự chống lại chiếu chỉ nhà vua, từ đó Dượng đế nể phục. Đến khi nhà Tùy diệt vong, nhà Đường khôi phục hưng thịnh, nhận lời mời của Thái Tông, sư chỉnh đốn lại đạo. Thấy thế, Thái Tông rất vui mừng, liền ban sắc toàn quốc phải ăn chay sáu ngày trong ba tháng, chỗ tập quân trận đều dựng chùa thờ Phật.

    2. Quy tâm Tịnh độ:

    Sư Minh Chiêm giỏi cả nội, ngoại điển, nhưng nguyện của sư là muốn vãng sanh về Tây phương. Trong truyện[97] ghi lại tình tiết lúc sư vãng sanh: Sư mời các Đại đức về chùa Hưng Thiện để thiết trai cúng dường và xin từ biệt. Hôm ấy, Bộc xạ[98] Phòng, Đỗ[99] cùng các quan chức triều đình đến đông đủ, cúng dường tài vật rất nhiều, nhưng sư đều từ chối và làm lễ cáo biệt mọi người. Cũng trong ngày hôm ấy, sư chống gậy rời khỏi kinh trở về chùa Trí Cự. Đến đó, sư hết lòng thành kính, chú tâm quán tưởng Tây phương, tâm đạo bừng sáng, sư bảo thị giả:

    “Đức Phật A-di-đà đến rồi”; chốc lát lại bảo: “Hai vị Bồ-tát cũng đã đến. Ta đối với Quán kinh chỉ thành tựu được mười hai,[100] còn lại thì không hiểu.”

    Lúc đó, diện mạo của ngài rực rỡ đầy đủ các tướng tốt, yên lặng mà thị tịch, nhằm ngày 27 tháng 10, năm thứ hai niên hiệu Trinh Quán, thọ 70 tuổi.

    Ngài Đạo Mão[101] ở Hàn Lăng

    1. Giáo tông Hoa nghiêm:

    Trước khi tông Hoa nghiêm chưa được thành lập ở Trung Quốc thì đã có tông Địa luận và có sự hoằng truyền giáo nghĩa luận Thập địa. Luận Thập địa là do Bồ-tát Thế Thân trước tác, nhằm để giải thích nghĩa Hoa nghiêm thập địa. Tông này là giềng mối trước tiên của tông Hoa nghiêm. Ngài Đạo Mão ở chùa Hàn Lăng Sơn, thường giảng dạy Địa luận. Sách truyện[102] kể rằng: Ngài là người thông thạo tất cả, tài biện luận chấn động tận trời, nói năng vấn đáp trôi chảy, suy nghĩ thấu triệt tình lý, tiếng tăm vang dội, nhưng ngài lại có tánh rất khiêm nhường, do vậy mà công đức ẩn tàng, tài kiệt xuất đi trước.

    Có một đêm tối tăm mờ mịt, ngài Đạo Mão đưa tay lên liền phát ra ánh sáng, chiếu thấu vào chánh điện.[103] Sự tích ấy thật khó lường được!

    2. Nguyện về Tịnh độ:

    Trong truyện kể rằng: Chí của ngài gắn kết với Tây phương, nguyện của ngài muốn vãng sanh An dưỡng. Ngài tự biết khi mạng chung sẽ sanh về Cực lạc, nên hữu duyên dự báo trước, đến đầu tháng tám sẽ từ biệt. Tháng hẹn đã đến, ngài liền lên tòa cao, ngửa mặt nhìn lên, thấy chúng trời rực rỡ, đồng thời cũng nghe thấy tiếng đàn sáo. Ngài nói:

    “Cõi trời vẫn còn nguồn gốc sanh tử, không phải ý nguyện của ta, ta luôn mong về Tịnh độ, lẽ nào không được toại nguyện ư?”
    Nói xong, thiên nhạc vụt bay, chốc lát liền mất, thay vào đó hoa nhạc Tây phương bay đến như mây, cả chúng đều thấy. Lúc đó, ngài Đạo Mão bảo: “Đại chúng ở lại mạnh giỏi, nay linh tướng ở Tây phương đến đón, tôi vãng sanh đây!” Nói xong, ngài ngồi thẳng trên tòa cao mà viên tịch. Lúc đó, nhằm tháng tám, năm thứ bảy niên hiệu Trinh Quán.

    Ngài Đạo Xước[104] ở Huyền Trung

    1. Đặc biệt chú trọng trì danh:

    Tông Tịnh độ từ Lô sơn khải giáo, đều lấy lễ tụng quán hạnh làm chính, đó là năm cách niệm của luận Vãng sanh; đến đời ngài Đạo Xước mới đặc biệt chú trọng trì danh, tới thời Đường mới bắt đầu lan rộng, giáo pháp đức Phật được hóa độ hưng thịnh, đạo phong phổ cập khắp cả nước, lan tỏa không dứt, đến mọi tầng lớp quan, dân. Phương pháp ấy không những lợi lạc tất cả mà còn giản dị dễ thực hành. Bởi vì cách quán này là lấy Tiểu kinh (kinh A-di-đà) làm chính, cũng lấy một phương pháp trì danh bao trùm ba căn, nhiếp cả sự lý, nắm toàn bộ tông giáo. Hằng ngày, ngài hành trì bảy vạn danh hiệu Phật, và hướng dẫn người khác cũng niệm Phật, lấy hạt đậu làm số đếm, hạt đậu được đếm đó chứa đến ngàn thạch.[105] Khi ấy cả đạo lẫn đời đều hướng đến, số người được ngài hóa độ vãng sanh không thể đếm hết.

    2. Chú trọng đến niềm tin:

    Tất cả pháp môn tu trì đều chú trọng đến niềm tin, ai tụng kinh Pháp hoa có thể rõ. Trong kinh A-di-đà lại nói về pháp khó tin, cho nên ba điều quan trọng của tông Tịnh độ, cơ bản là niềm tin. Nếu nguyện hạnh không đủ thì niềm tin không đủ. Lòng tin chơn thật thì tâm nguyện sanh chơn thật. Tâm nguyện chơn thật thì thuận buồm xuôi gió, rất dễ thực hành. Nếu như coi thường niềm tin chỉ dựa vào công hạnh của mình, như thế là tạo ra sự gian nan khó tiến đến được. Trong tập An lạc của ngài Đạo Xước đặc biệt chú trọng vào nghĩa của đề án này. Ngài nói:

    “Chúng sanh nhớ nghĩ xưng danh, nhớ nghĩ mà không tròn sở nguyện, là do không tu hành như thật, không tương ưng với danh nghĩa. Vì sao? Là vì không biết thân Như Lai là thật tướng”.[106]

    Xét theo việc này thì Quán kinh chính là nghĩa của thân pháp giới,[107] cũng chính là vào nhà Hương quang (khí hương), nghĩa là hàm dưỡng nhiếp trì. Ngài nói tiếp:

    “Lại có ba thứ không tương ưng: Một, lòng tin không thuần, hoặc còn hoặc mất. Hai, lòng tin bất nhất, nghĩa là không có quyết định. Ba, lòng tin không liên tục, nghĩa là còn nhiều niệm xen tạp”. Nếu như lòng tin được thành tựu thì nhất định được sanh Tịnh độ.

    3. Thượng cầu hạ hóa:

    Ngài Đạo Xước tinh tấn tu hành, cảm ứng rất nhiều. Có một vị Tăng đang ở trong định, thấy ngài Đạo Xước lần chuỗi niệm Phật như núi lớn bảy báu, lại thấy linh tướng Tây phương hiện ra nhiều màu sắc sặc sỡ. Ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ hai, niên hiệu Trinh Quán, ngài biết mình sắp nhập diệt, nên thông báo khắp Tăng tục, mọi người đến rất đông. Song lúc ấy, cả chúng đều thấy ngài Đàm Loan ở trên thuyền bảy báu bảo ngài Đạo Xước rằng:

    “Tuy thầy đã thành tựu nhà Tịnh độ, nhưng vì dư báo chưa hết mà thôi!”[108]
    Lại thấy hóa Phật đứng trên không, rải hoa trời xuống. Trong chúng có những người được hoa ấy, cảm thấy hoa ấy mềm mại đáng yêu. Ngoài ra, còn có các điềm tốt khác không thể kể hết. Do đó sắc diện, sức lực của ngài mạnh khỏe, hồng hào trở lại. Từ đó Tăng tục hướng đến, thường niệm danh hiệu Phật, tiếng vang thấu tận núi rừng hang động. Những thành ấp gần đó ngưỡng vọng về, hoặc nghe thấy mãi thành thói quen, người ở xa đến cửa thành bên cũng nghe, ảnh hưởng phong khí ấy mà đồng niệm Phật theo.

    Ngài Thiện Đạo ở Trường An

    1. Thành kính lễ tán:

    Hòa thượng Thiện Đạo,[109] ở đời tôn xưng ngài là vị Tổ thứ hai của Liên tông. Sự hoằng hóa dạy dỗ của ngài, hầu như không ai sánh bằng. Lúc ngài sống tại Trường An, những người ở phố chợ hay đến hỏi pháp, ngài đều trả lời trôi chảy. Hành môn Tịnh độ của ngài rất chú trọng vào thành kính lễ tán. Văn Vãng sanh lễ tán[110] ghi rằng:

    “Một, tu cung kính, nghĩa là cung kính lễ bái. Hai, không tu các pháp môn khác, nghĩa là chuyên xưng danh hiệu Phật, chuyên niệm chuyên tưởng, chuyên lễ, chuyên tán thán. Ba, tu liên tục, không có gián đoạn, nghĩa là cung kính lễ bái liên tục, xưng danh, tán thán, nhớ nghĩ, quán sát, hồi hướng, phát nguyện, tâm tâm liên tục, không có các nghiệp khác xen tạp. Lại không để tham, sân, si xen vào, tùy phạm mà sám hối, không để cách niệm, cách giờ, cách ngày, luôn luôn thanh tịnh”; đó là do tâm thành kính quy mạng, cầu ba nghiệp thanh tịnh, trang nghiêm cõi Phật.

    2. Chuyên xưng danh hiệu:

    Truyện[111]kể rằng: ngài vào thất quỳ niệm danh hiệu Phật, khi nào lực kiệt mới thôi. Khi ra thất diễn nói pháp môn Tịnh độ, hơn ba mươi năm chưa từng ngủ nghỉ. Ngài hướng dẫn mọi người cùng trì danh hiệu Phật làm chính. Trong Quán kinh tứ thiếp sớ[112] nói rằng:

    “Trên đây tuy nói đến lợi ích của hai môn định tán, trông mong bổn nguyện của đức Phật, nhưng ý thì lúc nào cũng cùng chúng sanh nhất hướng chuyên niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà”.[113] Bởi vì, trong bốn mươi tám lời nguyện, bổn nguyện của đức Phật là lấy danh hiệu nhiếp thọ chúng sanh. Pháp vô duyên đại từ bao trùm khắp ba căn (thượng, trung, hạ), pháp vốn là như thế. Ai tạo năm tội nghịch, mười ác mà hồi tâm trở lại thì được dự vào phẩm cuối, cho đến quả vị Đẳng giác, đều có thể thành. Vì sao? Vì ba thân,[114] bốn độ,[115] một danh hiệu Phật là nhiếp hết tất cả.

    3. Đặc biệt chú trọng vào phước giữ giới:

    Truyện kể rằng: “Ngài giữ gìn giới phẩm không phạm một mảy may nào. Thức ăn ngon đều đem cúng dường cho chúng, còn mình ăn thức ăn dở. Những gì người ta đem cúng dường, ngài dùng để chép kinh A-di-đà hơn mười vạn quyển và vẽ cảnh Tịnh độ biến tướng[116] hơn ba trăm bức, tu sửa chùa tháp, thắp đèn sáng liên tục; kẻ Tăng người tục được ngài hóa độ rất đông. Trong số đó có người tụng kinh A-di-đà từ mười vạn đến năm mươi vạn lần; có người trong một ngày niệm danh hiệu đức Phật từ một vạn đến mười vạn. Trong thời gian đó, số người đạt được tam-muội sanh Tịnh độ thì không thể kể hết”. Được thế là do mỗi mỗi đều thực hành ba tâm,[117] ba phước[118] trong Quán kinh. Cho nên khi làn gió giáo pháp Liên tông thổi đến, thì tất cả đều được mát dịu.

    Ngài Khuy Cơ ở Từ Ân

    1. Giáo thông tánh tướng:

    Thế gian gọi ngài Khuy Cơ[119] là bậc Long tượng của Tướng tông (Pháp tướng tông). Nhưng tìm nơi sách truyện chép[120] thì ngài từng tham cứu với ngài Huyền Trang dịch thuật Bát-nhã và từng giảng kinh Pháp hoa, lại tạo tượng Bồ-tát Văn-thù bằng đá ngọc tại núi Ngũ Đài, chép kinh Bát-nhã bằng chữ vàng, cảm được điềm lành của thần quang. Ngài Khuy Cơ không những giỏi Tướng tông mà còn thông thạo về Tánh không; cho đến truyền dạy pháp Duy thức, Nhân minh và được danh xưng là chủ của trăm bản sớ giải, điều đó không ai mà không biết. Đặc biệt sự nghiệp hoằng hóa của ngài kiêm luôn cả tánh tướng; Cho nên chúng ta thấy được các bậc đại đức thời xưa không lệ thuộc vào một cảnh nào.

    2. Kiêm cả việc hoằng hóa Tịnh độ:

    Ngài Khuy Cơ không những hoằng hóa tánh tướng mà còn hoằng dương cả Tịnh độ. Những tác phẩm trước tác của ngài như A-di-đà kinh thông tán, Tây phương yếu quyết. Bản kinh này Kim Lăng khắc kinh xứ[121] có khắc in. Tuy giáo pháp Duy thức vốn từ Bồ-tát Di-lặc, nhưng trong kinh Vô lượng thọ,

    Bồ-tát Di-lặc nói: “Nay được gặp đức Phật, lại nghe kinh Vô lượng thọ, không ai là không vui mừng, tâm được khai sáng”. Đức Phật thọ ký cho Bồ-tát Di-lặc vãng sanh vào nước Vô lượng thọ. Bồ-tát Di-lặc bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Con xin y giáo phụng hành không dám nghi ngờ”. Giáo pháp Duy thức truyền đến Bồ-tát Thiên Thân, nhưng Bồ-tát Thiên Thân lại viết luận Vãng sanh, quy mạng đức Phật A-di-đà, phát nguyện vãng sanh Tây phương. Do đó Tướng tông cùng Tịnh độ chỉ là một chứ không hai.

    Ngài Hoài Cảm ở Trường An

    1. Từ thành tín mà vào:

    Pháp sư Hoài Cảm[122] tính tình nghiêm khắc, cương nghị, tu học tinh tấn khổ luyện. Nghe kinh dạy niệm Phật trong thời gian ngắn sẽ được vãng sanh An dưỡng, lòng sư vẫn hoài nghi chưa tin, nên đến hỏi đại sư Thiện Đạo. Ngài Thiện Đạo bảo: “Người truyền giáo hóa độ mọi người, hễ ai tin rồi sau mới giảng, còn những ai mờ mịt thì không giảng”. Ngài Hoài Cảm nói: “Lời chư Phật chơn thật, không tin thì không giảng”. Ngài Thiện Đạo bảo: “Theo như ta thấy, việc khuyên người niệm Phật vãng sanh lẽ nào là do ma nói? Nếu ông tin lời đó thì hãy chí tâm niệm Phật sẽ có sự chứng nghiệm”.

    Nghe thế, ngài mới vào đạo tràng, trải qua 21 ngày nhưng vẫn không thấy linh cảm. Sư tự trách mình tội chướng sâu dày, nên muốn tuyệt thực chấm dứt sự sống. Ngài Thiện Đạo không cho, khuyến khích sư hãy nỗ lực tinh tấn thêm. Từ đó, Sư nỗ lực trải qua ba năm, cảm ứng đến Phật, thấy ánh sáng vàng ròng, thấy sợi lông trắng (ngọc hào) giữa hai chân mày của Phật, liền chứng niệm Phật tam-muội. Sư có trước tác luận Thích tịnh độ quần nghi.

    2. Niệm Phật trong nhà tối:

    Sư thường dạy người nên niệm Phật trong nhà tối, bởi vì trong nhà tối cắt đứt các giác quan nghe thấy, tâm xả các duyên. Phàm những gì ham muốn thế gian là một nạn, chưa được giải trừ nó sẽ làm loạn tưởng, thì niệm Phật tam-muội không được hiện tiền, khiến khó thành tựu. Nếu đóng thất ở một mình, hoặc nhắm mắt không nhìn, từ đó được vắng lặng, tâm được an trụ, suy nghĩ việc gì dứt khoát sẽ thành. Cho nên phải ở trong nhà tối mà thực hành tam-muội này. Đây là sự thành tín cao nhất, vì vậy mà ở trong nhà tối niệm Phật có thể chứng ngộ. Nhưng nếu tâm không chí thành, sức tin không vững chắc, một khi vào nhà tối dễ bị hôn trầm, thậm chí còn khởi lên các việc ma! Do đó phương pháp tu trì cần phải hợp với căn cơ, không thể bàn luận hiểu một cách đại khái cho qua chuyện.

    Ngài Hoài Ngọc ở Dũng Tuyền

    1. Thường thực hành Bố-tát:[123]

    Trong truyện[124] kể rằng: Thích Hoài Ngọc,[125] họ Cao, người Đan Khâu (huyện Ninh Hải, tỉnh Chiết Giang). Ngài luôn chấp trì giới luật, danh tiết cao vời, ngày ăn một bữa, luôn ngồi, cuộc sống đơn giản, chỉ một y vải hành trì pháp sám hối. Bởi vì, giới là nền móng của nhơn đạo, dứt ác tu thiện, vượt thẳng qua biển Phật. Nhưng phương pháp tu giới chủ yếu là sám hối, nên ngài hành pháp Bố-tát, là chú trọng sám hối. Nếu phạm mà không sám hối thì tội ấy càng nặng, còn như sám hối liền được thanh tịnh. Nếu như chưa đạt quả cùng cực thì không xả pháp sám hối. Bồ-tát Di-lặc trong mười hai thời (trong ngày) còn lễ mười phương Phật, tu pháp sám hối. Nếu người trì giới, tu pháp sám hối, đắc lực hoàn toàn ở quy kính, và nghĩa tha lực cùng đồng với tông Tịnh độ!

    2. Chuyên tu tịnh nghiệp:

    Trong truyện kể rằng: Mỗi ngày ngài Hoài Ngọc niệm danh hiệu đức Phật đến năm vạn câu, một đời tụng kinh A-di-đà đến ba mươi vạn quyển. Ngày mồng 9 tháng 6 năm đầu niên hiệu Thiên Bảo, bất chợt thấy Thánh tượng Tây phương nhiều như cát sông Hằng, có một người tay bưng đài bạch ngân từ cửa sổ mà vào. Ngài Hoài Ngọc mới nói: “Tôi hợp với kim đài”. Ngài vừa nói xong, đài bạch ngân liền mất. Lúc đó, ngài Hoài Ngọc chí thành gấp bội, trên hư không có tiếng nói: “Trên đầu đã có ánh sáng rực rỡ rồi, mời ngồi xếp bằng kết ấn Phật Di-đà”. Tức thì hào quang Phật sáng khắp cả thất, ngài Hoài Ngọc đưa tay cản người khác, nói: “Chớ chạm vào ánh sáng này”. Đến giờ sửu ngày 13 lại có ánh sáng bạch hào xuất hiện, Thánh tượng đầy cả hư không. Ngài Hoài Ngọc nói: “Nếu nghe hương thơm lạ là điềm báo hiệu ta viên tịch”. Đệ tử là Tuệ Mạng mới thưa thầy: “Nay thầy về cõi nào?”

    Ngài Hoài Ngọc dùng kệ trả lời:
    Thanh tịnh trong sạch không bụi trần,
    hoa sen hóa sanh là cha mẹ,
    tu đạo đến nay qua mười kiếp,
    ra khỏi Diêm-phù chán các khổ.
    Một đời khổ hạnh hơn mười kiếp,
    rời khỏi Ta-bà về Tịnh độ.

    Ngài Hoài Ngọc nói kệ rồi hương thơm tràn khắp hư không, chúng đông vô kể, đồng thời thấy đức Phật A-di-đà, Quán Âm, Thế Chí thân sắc vàng tía, cùng ngự trên đài kim cang đến nghinh đón. Thấy thế, ngài Hoài Ngọc mỉm cười rồi viên tịch. Nhục thân đến đời Tống vẫn còn. Quận thái thú làm kệ khen rằng:
    Thầy tôi một niệm lên Sơ địa,
    cõi Phật hân hoan đón hai lần.
    Trước cửa Hòe già sừng sững đứng,
    cành cây thấp xuống treo đài vàng.

    Ngài Đại Hạnh ở Thái Sơn

    1. Pháp hoa tam-muội:

    Truyện[126] kể rằng: Thích Đại Hạnh[127] là người Tề Châu. Cuối đời, ngài về Thái Sơn, kết cỏ làm áo, bẻ cây làm thức ăn, thực hành Pháp hoa tam-muội, cảm ứng ngài Phổ Hiền hiện thân. Ngài Đại Hạnh than rằng: “Mạng sống là vô thường, dễ bị mai một, chưa biết đời sau sẽ sanh vào nơi nào”.

    Từ đó trở đi, lúc nào ngài cũng nghiên cứu kinh điển. Bất chợt diện kiến được Tây phương thánh giáo và từ đó ngài chuyên tâm nhớ nghĩ đức Phật A-di-đà. Trải qua 21 ngày, vào lúc nửa đêm, ngài bỗng thấy đất lưu ly, tâm nhãn khai thông bừng sáng, thấy mười phương Phật cũng giống như tượng trong gương sáng.

    2. Vãng sanh ngay đại điện:

    Trong truyện kể: Vua cho mời ngài Đại Hạnh vào nội cung, ngự trên đại điện và ban sắc hiệu là Bồ-tát Thường Tinh Tấn, phong chức Khai quốc công. Lúc ấy, ngài thị hiện bệnh nhẹ rồi nằm nghiêng hông bên phải mà viên tịch.

    Xét về đời nhà Đường, trên từ vua chúa, dưới đến quan dân đều quy y Tam bảo; những bậc đại đức rất đông, sự ứng cơ giáo hóa của các vị Thánh hiền không dứt, không thời nào hưng thịnh hơn! Sử lại ghi: Từ năm Trinh Quán đến Khai Nguyên, trong khoảng một trăm năm, nhà cửa đông đúc, nhân dân no đủ, không dùng đến hình phạt. Nhưng tiếc thay, cực thịnh rồi lại suy tàn, Huyền Tông sanh tâm kiêu mạn, ăn chơi xa xỉ, dục vọng tột cùng, đến nỗi phải bại hoại. Cuộc đời thật vô thường!

    Ngài Tiềm Chơn ở Hưng Thiện

    1. Hiển mật viên thông:

    Trong truyện[128]kể: Ngài Thích Tiềm Chơn,[129]thuở nhỏ thích sách Phật và quy y theo cửa Phật ở chùa Linh Giác vào năm thứ 26 niên hiệu Khai Nguyên. Năm sau, ngài thọ giới Cụ túc và học tập Luật thừa, lần lượt đi luận giảng khắp nơi, học thông nội ngoại điển, thông thạo tánh tướng. Nhận sắc chỉ, ngài dịch lại bộ Văn-thù-sư-lợi bồ-tát Phật sát trang nghiêm kinh sớ, trước thuật Bồ-đề tâm nghĩa, Phát bồ-đề tâm giới mỗi thứ một quyển, Tam tụ tịnh giới và Thập thiện pháp giới mỗi thứ một quyển. Lại theo Tam tạng Bất Không học mật giáo, nhập đàn tràng Mạn-noa-la,[130] thọ pháp quán đỉnh,[131] được trao truyền ấn thành Phật. Ngài thông thạo cả Hiển giáo và Mật giáo, xiển dương tôn chỉ vi diệu, đệ tử rất đông.

    2. Cầu sanh Tịnh độ:

    Truyện lại kể: Ngày 14 tháng 5, năm thứ tư, niên hiệu Trinh Nguyên, ngài để lời di chúc răn dạy đệ tử, cáo bệnh nghỉ ngơi. Đến ngày thứ 21, ngài nằm nghiêng hông về bên phải xếp tréo chân, miệng tụng danh hiệu đức Phật A-di-đà và viên tịch tại bổn viện là chùa Hưng Thiện. Xét về Mật tông, vào đời Đường trao truyền rất nghiêm ngặt, nếu ai không tinh chuyên trì giới, hành luật, và hiểu biết không tương ưng, thì không được thọ pháp quán đỉnh. Ngài Tiềm Chơn lên đàn quán đỉnh, thọ ấn thành Phật, hoằng truyền hộ trì thánh giáo, đệ tử rất đông, nhưng khi viên tịch nhất ý hướng về Tây phương. Những lời huấn thị khuôn khổ phép tắc của ngài có lòng từ bi, thật thắm thiết thay!

    Ngài Trừng Quán[132] ở Ngũ Đài

    1. Dung nhiếp các tông:

    Ngài Trừng Quán ở Ngũ Đài, được thế gian tôn xưng là Quốc sư Thanh Lương. Ngài là người sớ giải Bát thập hoa nghiêm và Tứ thập hoa nghiêm. Đầu tiên, ngài ở chùa Thê Hà, Nhuận Châu, đảnh lễ và hầu thầy xin học Tướng bộ luật,[133] rồi lại học Nam sơn luật.[134] Thuở nhỏ ngài thường tụng Pháp hoa, lại đến Kim Lăng và được pháp sư Huyền Bích truyền Tam luận tại Quan Hà. Nhờ sự hoằng truyền của ngài nên Tam luận được thịnh hành ở Gian Biểu.

    Niên hiệu Đại Lịch, ngài đến chùa Ngõa Quan truyền luận Khởi tín, kinh Niết-bàn, lại đến Hoài Nam học Khởi tín nghĩa sớ (ngài Hải Đông soạn) với ngài Pháp Tạng. Lại ôn tập kinh Đại hoa nghiêm (Bát thập hoa nghiêm) với ngài Thiên Trúc Thân pháp sư. Sau đó, ngài đến Tô Châu học Thiên thai chỉ quán với pháp sư Trạm Nhiên, yết kiến Trung sư (Tuệ Trung) ở Ngưu Đầu, Khâm sư (Đạo Khâm) ở Kính Sơn, sư Vô Danh ở Lạc Dương và học hỏi thiền pháp Nam tông, lại tham kiến thiền sư Tuệ Vân học diệu lý thiền Bắc tông. Ngài còn học kinh truyện, Tử sử,[135] Tiểu học,[136] Thương nhã,[137] Thiên Trúc Tất-đàm,[138] các bộ dị chấp,[139] Tứ vi (4 bộ Vi-đà [Phệ-đà]), Ngũ minh, phép tắc Mật chú. Năm thứ 11 niên hiệu Đại Lịch, ngài nguyện đến Ngũ Đài, mỗi một bước đều đảnh lễ. Đến Nga My, ngài cầu diện kiến Bồ-tát Phổ Hiền, rồi trở lại Ngũ Đài ở chùa Đại Hoa Nghiêm, chuyên hành trì phương đẳng sám pháp (sám hối tội chướng 6 căn).

    2. Phát nguyện sớ giải kinh:

    Trụ trì chùa Hoa Nghiêm thỉnh ngài giảng Bát thập hoa nghiêm (Hoa nghiêm 80 quyển) tân dịch.[140] Ngài phát nguyện soạn sớ giải kinh Hoa nghiêm, bắt đầu làm vào năm thứ nhất niên hiệu Hưng nguyên, đến năm thứ ba niên hiệu Trinh Nguyên, xong được hai mươi tập; ngài tổ chức trai phạn cho ngàn vị Tăng để mừng lạc thành (hoàn tất), và cũng để báo đền ân đức Phật. Khi ấy, vua nước Ô Trường dâng cúng bộ Hoa nghiêm 40 quyển, do ngài Tam tạng Bát-nhã người Kế Tân dịch. Vua Đức tông mời ngài (Trừng Quán) tham dự vào việc ấy và mời ngài làm sớ giải. Tại am tranh ở Chung Nam Sơn, ngài biên soạn thành 10 quyển (Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ). Vua sắc lệnh chia làm hai, mỗi lần giảng là một thiên, cảm ứng điềm lành hoa sen.

    3. Nguyện giúp đỡ nhau:

    Ngài thường phát mười điều nguyện: Một, luôn ở nơi phương trượng, chỉ có ba y và một bình bát, không cất chứa các vật khác. Hai, vứt bỏ mọi danh lợi đương thời. Ba, mắt không nhìn người nữ. Bốn, không đến nhà thế tục. Năm, chưa xả bỏ chấp thọ (giữ lại thân mạng), thường tụng kinh Pháp hoa. Sáu, luôn tụng kinh điển Đại thừa, bố thí khắp mọi hàm linh (hữu tình). Bảy, thường tụng kinh Đại hoa nghiêm. Tám, cả đời không nằm kể cả ngày hay đêm. Chín, không ham danh làm mê hoặc quần chúng, hay tự khoe khả năng công đức của mình. Mười, lòng đại bi không thoái chuyển, cứu giúp hết hữu tình trong pháp giới. Cả cuộc đời ngài luôn hành trì theo những hạnh nguyện đó.

    4. Pháp ngài hành trì theo hạnh Phổ Hiền:

    Hạnh nguyện giúp đỡ của ngài là hạnh Phổ Hiền, trong bộ sau bản kinh Hoa nghiêm 40 quyển,[141] tức là phẩm Hạnh nguyện Phổ Hiền. Nội dung ghi chép việc Thiện Tài phát tâm Bồ-đề, sau lại đem mười nguyện vương chỉ dạy về Cực lạc, đó là chỗ nương tựa của một bộ kinh lớn, tức là tông chỉ của Hoa nghiêm, rõ ràng là ở nơi Tịnh độ! Luận rằng: Hoa nghiêm chỉ rõ pháp giới vô tận, trần sát giao nhau, tức là thế giới Cực lạc trong mỗi mỗi trần, đều có đủ cõi Phật vô tận. Chỉ cần thấy một trần ở Cực lạc, tức là thấy toàn thể Hoa tạng. Cho nên gọi Cực lạc là nhập môn Hoa nghiêm là vậy, cũng nói Cực lạc là trở về với Hoa nghiêm là thế. Tự nghiền ngẫm sâu xa về sự mầu nhiệm cao vời của nghĩa này thì sẽ rõ, đâu chỉ có ở Hoa nghiêm mà Pháp hoa cũng chỉ rõ về đức Phật A-di-đà và đức Bổn sư đồng là một trong số 16 vị vương tử cùng nói Pháp hoa.
    Cho nên người học Pháp hoa tức là kiêm luôn Tịnh độ, vì thế mà Lô sơn liên xã đặc biệt chú trọng Pháp hoa, việc ấy cũng đáng để suy nghĩ. Hoa nghiêm, Pháp hoa từ đầu cho đến cuối đều quy về Tịnh độ và nghĩa trong đó có đủ ý vị mầu nhiệm. Vì vậy mà kinh A-di-đà là kinh bất khả tư nghị.

    Ngài Tuệ Nhật ở Võng Cực[142]

    1. Nối gót ngài Huyền Trang:

    Pháp sư Tuệ Nhật kết thuyền qua biển, đến Thiên Trúc, đảnh lễ thánh tích, tìm cầu bản Phạn, thăm hỏi các bậc thiện tri thức, trải qua 13 năm lãnh thọ pháp huấn, nghĩ đến việc làm lợi ích mọi người. Ngài đã trải qua bao gian khổ, nhàm chán Diêm-phù, đi đến nước nào, làng nào đều thấy có vui có khổ, ngài nghĩ phải làm cách gì, hạnh gì để mau chóng thấy Phật. Ngài hỏi khắp các vị Tam tạng Thiên Trúc, các học giả đều ca ngợi Tịnh độ. Nghe vậy ngài đảnh lễ ghi nhận.

    2. Nhìn thấy Quán Âm:

    Ngài lần đi đến nước Kiền-đà-la phía Bắc Ấn Độ, ở Đông bắc vương thành có một ngọn núi lớn, núi ấy có tượng đức Quán Âm, hễ ai có tâm chí thành cầu nguyện thì thấy ngài hiện thân. Ngài Tuệ Nhật khấu đầu bảy ngày, lại nhịn ăn lấy cái chết làm kỳ hẹn. Đến ngày thứ bảy, cảnh trời chưa tối, đức Quán Âm xuất hiện trên hư không, sắc tướng vàng tía, cao hơn một trượng, ngồi trên hoa sen báu, duỗi cánh tay phải rờ đảnh ngài Tuệ Nhật nói rằng: “Ngươi muốn truyền pháp tự lợi lợi tha, Tây phương Tịnh độ thế giới Cực lạc cõi đức Phật A-di-đà, khuyến khích niệm Phật tụng kinh, hồi nguyện vãng sanh, đến nước đó sẽ thấy đức Phật và ta, được lợi ích lớn. Ngươi nên tự biết, pháp môn Tịnh độ vượt hơn tất cả các hạnh.” Nói rồi liền biến mất. Ngài Tuệ Nhật tuyệt thực đã đuối sức, nhưng khi nghe thế tinh thần và thể xác lại phấn chấn mạnh mẽ hơn.

    3. Trở về Đông truyền bá Tịnh độ:

    Ngài vượt núi trở về Đông (Trung Quốc), tính ra ngài đi hơn bảy mươi nước, trải qua mười tám năm. Năm thứ bảy niên hiệu Khai Nguyên, ngài về đến Trường An, dâng lên nhà vua kinh lá Bối,[143] chân dung đức Phật v.v…, ngài khai ngộ tâm vua. Vua ban hiệu cho ngài là Tam tạng Từ Mẫn. Cả cuộc đời ngài là chuyên tu Tịnh độ, ngài có biên soạn một tác phẩm về Tịnh độ, lưu lại ở đời là Vãng sanh Tịnh độ tập hạnh (3 quyển).

    Ngài Phi Tích[144] ở am tranh

    Ngài Phi Tích trước tác luận Niệm Phật tam-muội bảo vương dạy người niệm Phật.

    1. Niệm Phật theo hơi thở:

    Luận Bảo vương, pháp môn (thứ 9) “Sanh nơi này sanh nơi khác, một niệm mười niệm”[145] ghi:

    “Hỏi rằng: ‘Bàn về việc dễ thực hành khó thực hành, quán thân tức là Bồ-đề, ý đó thế nào? Con người sanh ra ở đời cũng giống như tia lửa của đá, điện chớp, một niệm trôi qua hối hận không kịp. Người tu đạo không quan trọng với tâm huống là quan trọng cái thân. Đã không quan trọng cái thân thì huống gì là ngoài thân. Luôn sợ rằng một hơi thở ra mà không trở lại thì qua đời sau. Giông tố nổi lên, trôi dạt nơi đâu. Vậy xin chỉ rõ pháp môn: một niệm mười niệm, sanh nơi này sanh nơi khác’.

    Trả lời: Nói về người tu Tịnh độ thì công đức rất lớn. Hàng Nhị thừa mới lắng thần trong hư vô, đắm chìm vào cái không mà lại sợ cái tướng, không nghĩ đến chúng sanh, cho nên không có Tịnh độ. Đại thừa thì có Tịnh độ, theo như kinh Bi hoa dạy: ‘Đức Phật A-di-đà thuở xưa là một vị Chuyển luân vương tên là Vô Tránh Niệm, đầy đủ cả bảy báu và ngàn người con. Nhờ bậc thiện tri thức là đại thần Bảo Hải nên nhà vua hướng đến Phật Bảo Tạng mà phát tâm Bồ-đề, nguyện về Tây phương Cực lạc Tịnh độ’. Theo trong các kinh thì khi xưa, chư Phật và Bồ-tát, Thanh văn v.v… đều từng là những người con có những tên riêng biệt. Thái tử lớn tên Bất Thuấn tức là Quán Thế Âm. Người kế tên Ma-ni tức là Đại Thế Chí. Người kế tên Vương Chúng tức là Văn-thù-sư-lợi. Người kế tên Năng-già-nô, tức là Bồ-tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh. Người kế tên Vô Úy tức là Như Lai Liên Hoa Tôn. Người kế tên Am-ba-la, tức là Bồ-tát Hư Không Quang Minh. Người kế tên Thiện Tý, tức là Bồ-tát Sư Tử Hương. Người kế tên Mẫn-đồ chính là Phổ Hiền. Người kế tên Mật-tô, chính là đức Phật A-súc; vương tử Mật-tô từ khi phát tâm đến nay, khi thực hành trong từng bước, từng tâm thường niệm chư Phật, nay đã chứng Chánh giác, sanh vào cõi Diệu Lạc. Ta cho rằng kinh hành đến muôn ngàn, từng bước vào rừng sâu thì khác gì sự quán chiếu của Mật-tô. Như người gắn ngọc Minh kha[146] vào gậy, động ngọc triều thiên, oai nghi nghiêm túc nhẹ nhàng mà lại cỡi xe ngựa chạy như bay, thì đâu bằng dụng tâm mà bước từng bước! Nay ví dụ nêu ra thì như cách nói ở trước! Luận rằng ngậm miệng kết tóc, sống chết giao nhau, chưa biết hơi thở ra có vào hay không; một hơi thở ra mà không trở lại, thì qua đời khác, thật đúng như là ông hỏi. Người đời đa số chỉ dùng ngọc báu, thủy tinh, kim cang, hạt Bồ-đề làm tràng hạt, còn tôi thì đếm hơi thở ra vào làm chuỗi niệm, xưng danh hiệu đức Phật tùy theo hơi thở, như thế đã có chỗ nương tựa vững chãi thì sợ gì hơi thở ra mà không trở vào, lại qua đời khác ư! Tôi đi đứng nằm ngồi, thường dùng chuỗi này, dẫu bị hôn muội, vẫn ôm Phật mà ngủ, đến khi thức giấc thì lại tiếp tục, như thế trong mộng được thấy đức Phật. Cũng như dùi gỗ lấy lửa, phải hoạt động liên tục thì mới có lửa; cũng vậy, mộng như thế mãi không thôi thì thành tựu được tam-muội, thấy được ngọc hào, mong được đức Phật thọ ký vậy thì vạn lần không mất một”.

    2. Hạnh không khinh thị:

    Niệm Phật vị lai trong luận Bảo vương, tức là tông chỉ “Bất khinh” trong kinh Pháp hoa. Niệm Phật của tông Tịnh độ chính là nhập Phật tri kiến. Luận nói rằng: “Ba nghiệp sáu trần khởi tâm khắp các duyên, mới phát nguyện vi diệu, nhập vào cảnh giới Phật, mỗi mỗi duyên khởi không tách rời Như Lai. Như trong kinh Thắng thiên vương, đức Phật dạy rằng: Này Thiên vương! Đại Bồ-tát dùng sức phương tiện thực hành Bát-nhã ba-la-mật, đối với tất cả pháp, tâm duyên tự tại. Hễ duyên vào tất cả sắc thì nguyện được như sắc của đức Phật. Vì là vô sở đắc. Tâm duyên vào các tiếng thì nguyện được âm thanh vi diệu của Như Lai. Tâm duyên vào các hương thì nguyện được giới hương thanh tịnh của Như Lai. Tâm duyên vào các vị thì nguyện được tướng trượng phu đệ nhất trong vị của Như Lai…. Tâm duyên vào miệng thì nguyện được miệng Phật. Tâm duyên vào ý thì nguyện được ý bình đẳng của Như Lai”. Tâm duyên vào cảnh Phật tức là tất cả chúng sanh đều là Phật, Phật như chúng sanh như, một như không hai như. Vì thế nên không dám khinh chúng sanh. Nói rằng, Lô Sơn khải giáo cúng dường Pháp hoa.[147] Ngài Trí Giả lập tông hồi hướng Tây phương. Như thế Pháp hoa cùng Tịnh độ không hai, việc đó rõ ràng lắm rồi. Cho nên ngươi tu tịnh nghiệp rất quý hạnh Bất khinh.

    Ngài Thừa Viễn[148] ở Hoành Sơn

    1. Khổ hạnh cảm ứng:

    Ngài Thừa Viễn là vị Tổ thứ ba phái Liên tông. Phái Liên tông tu trì khổ hạnh, ngài là người nổi tiếng về sự hành trì ấy. Ngài ở dưới động đá (phía Tây nam Hoành Sơn), hễ ai đem thức ăn đến cho thì ăn, còn không cho thì ngài ăn cỏ cây, bùn đất. Thân hình gầy ốm, diện mạo dơ bẩn, mang vác củi khô suốt ngày; phía Nam tận bờ biển, phía Bắc toàn vùng Bắc, người đến cầu đạo rất đông. Họ gặp ngài ở trong hang núi, thấy áo quần, mặt mày của ngài dơ bẩn vác củi mà đi, không ai biết là thầy, sanh khinh mạn, nhưng khi biết ngài họ càng kính ngưỡng. Đại sư Pháp Chiếu ở Lô Sơn, trong định đến Tây phương thấy có người mặc áo rách đứng hầu đức Phật. Đức Phật bảo: “Đây là Thừa Viễn ở Hoành Sơn.” Từ đó ngài Pháp Chiếu mới vào Hoành Sơn tu học. Khi ngài Pháp Chiếu làm quốc sư, đem công đức của thầy mình tâu lên vua. Nhà vua biết không thể rước ngài Thừa Viễn về được, nên nhà vua từ xa hướng về Hoành Sơn mà đảnh lễ.

    2. Bố thí cả vật chất và tinh thần:

    Ngài đi du hóa khắp nơi, hễ có ai cúng dường đều đem bố thí cho người đói khát, bệnh tật, và chỉ dạy pháp môn niệm Phật cho họ tu. Có lúc ở giữa đường hay ngõ hẻm thì ngài viết bài để dạy người; còn ở những khe rãnh, hang núi thì ngài khắc chạm vào đá. Theo như phương pháp giáo hóa của ngài thì có vạn cách. Trong truyện[149] kể: “Cách ngài giáo hóa người là lập Trung đạo nhưng lại đem quyền để dạy, khiến người khác mau chóng đạt được”. Những sách khác không thấy ghi chép gì về ngài, truyện này chỉ nói vài lời như vậy. Tuy chưa biết tông chỉ thế nào là Trung đạo, cái gì là quyền, nhưng sự giáo hóa của ngài phổ cập đến như thế, chắc phương pháp đó rất đơn giản mà lại dễ thực hành, và có thể khế hợp với căn cơ đại chúng. Lấy ý mà xét thì phép tu theo tông Tịnh độ là lấy niệm Phật cầu sanh Tây phương làm chính, thì cái gọi là Trung đạo, dứt khoát không tách rời phương pháp này. Còn gọi là quyền, theo Ấn công văn sao (Ấn Quang đại sư văn sao), nghĩa là chớ bị sai lệch.

    3. Nguồn gốc xuất phát năm hội:

    Đại sư Pháp Chiếu là đệ tử của ngài Thừa Viễn. Phương pháp Ngũ hội niệm Phật[150] lợi ích rất lớn, ngài tự xưng phương pháp này là do thầy truyền lại. Theo như Ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán[151] ghi: “Năm hội đều được bắt nguồn từ Hoành Sơn”.

    Lại nói rằng: “Bậc trí từ bi truyền năm hội”. Vậy có thể biết pháp năm hội bắt đầu từ ngài Thừa Viễn. Pháp này dựa vào kinh Vô lượng thọ và Tiểu kinh, lấy âm thanh làm Phật sự. Bởi vì trong âm thanh có dung chứa pháp môn ức niệm, thật đúng là một đại phương tiện khéo léo.

    Ngài Pháp Chiếu[152] ở Ngũ Đài

    1. Bài xích tà vạy sai lệch:

    Ngài Pháp Chiếu từng nói:[153]

    “Học giả đời nay, dung mạo rạng rỡ, đều tỏ vẻ ta đây là có tướng, dạy giáo nghĩa thậm thâm,[154] nhưng chỉ là văn tự ảo huyền. Nói vô sắc lại bỏ chơn sắc, luận vô thanh thì lại nhàm chán Phạm thanh. Ngồi bàn vô vi, hạnh xưng mất đạo, như thế là đã rơi vào tà kiến, thật đáng buồn thay!”

    Hành động sai quấy như thế là do không đạt được giáo nghĩa nên mới rơi vào “ngoan không”.[155] Do đó, ngài Vĩnh Gia dạy: “Hiểu Không một cách rỗng toác, bác bỏ nhân quả, để rồi tối tăm mờ mịt chuốt lấy họa tai ương”.
    Cho niệm Phật là chấp tướng, cho trì giới là Tiểu thừa, không tin nhân quả, cho rằng không có thế giới Tây phương Cực lạc, tham luyến năm trược, bàn không mà nói có, thật đau xót thay!

    2. Ngũ hội niệm Phật:

    Ngài ở đạo tràng Bát-chu[156] tại Nam Nhạc (Hoành Sơn), hành trì pháp Ngũ hội niệm Phật, sau đó, ở chùa Hồ Đông của quận này mở ra đạo tràng Ngũ hội; lại vào Ngũ Đài, hành trì Ngũ hội ở Tịnh Châu. Lúc đó, tiếng tăm ngài vang đến trong cung Trường An, Đại Tông sai người tìm cầu, đến Thái Nguyên gặp ngài và mời về kinh sư, cũng ở ngay trong cung ngài mở đạo tràng Ngũ hội. Phương pháp đó như sau:

    Hội thứ nhất: Niệm Nam-mô A-di-đà Phật, tiếng niệm vừa trầm và chậm.
    Hội thứ hai: Niệm Nam-mô A-di-đà Phật, tiếng niệm chậm vừa trầm vừa bổng.
    Hội thứ ba: Niệm Nam-mô A-di-đà Phật, tiếng niệm không nhanh không chậm.
    Hội thứ tư: Niệm Nam-mô A-di-đà Phật, tiếng niệm nhanh dần.
    Hội thứ năm: Niệm A-di-đà Phật, niệm 4 chữ càng nhanh hơn.

    Năm hội niệm Phật xong, liền xướng các bài tán: Bảo điểu tán v.v … gồm ba mươi chín bài tán.[157]

    3. Hành trì cảm ứng Đại thánh:

    Ngài ở trong nhà Tăng chùa Vân Phong tỉnh Hoành Châu, thấy trong bát cháo có hiện mây ngũ sắc, trong đó có ngôi chùa. Ngài đem việc này hỏi người khác mới biết là ngôi chùa ở Ngũ Đài. Lại ở chùa Hồ Đông nơi quận này (Hoành Châu), ngài mở ra Ngũ hội niệm Phật, cảm ứng mây lành che khắp, đức Phật A-di-đà cùng hai vị Bồ-tát (Văn-thù, Phổ Hiền)… và chúng hội (Bồ-tát) đông đủ cả hư không. Lại gặp một ông già nói rằng:

    “Trước đây ngài có phát nguyện ở thế giới Kim sắc để đảnh lễ bậc đại Thánh, nay cớ gì lại bỏ đi?”

    Nghe thế, ngài liền đến Ngũ Đài, thấy phía Nam chùa có ánh sáng, và lần theo đến chùa Phật Quang cũng giống như những gì ngài thấy trong bát, có hai vị mặc áo xanh, một vị xưng là Thiện Tài, một vị xưng là Nan-đà, dẫn ngài vào, thấy hai vị Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền đang nói pháp cho đại chúng. Thấy thế, ngài liền đảnh lễ thưa rằng:

    “Kẻ phàm phu đời mạt pháp, chưa biết tu pháp môn nào?”

    Ngài Văn-thù bảo: “Trong các môn tu hành, không có pháp nào bằng niệm Phật, tất cả các pháp, Bát-nhã ba-la-mật, cho đến chư Phật đều từ niệm Phật mà ra. Nguyện lực của đức Phật A-di-đà khó nghĩ bàn. Ngươi hãy nên buộc niệm, nhất định vãng sanh”. Nghe xong, ngài liền cáo biệt, ra khỏi cửa nhìn lên không thấy những cảnh tượng đó nữa.

    Ngài Thiếu Khang ở Ô Long

    1. Sanh thời có tướng linh lạ thường:

    Truyện[158] kể rằng: Thích Thiếu Khang,[159] họ Châu, người ở núi Tiên Đô, Tấn Vân (Chiết Giang). Mẹ ngài là họ La, nhân trong giấc mộng thấy mình đi đến ngọn núi Đảnh Hồ, được ngọc nữ trao cho một đóa sen xanh và nói rằng: “Hoa này tốt lành, gởi nó cho ngươi, sau sẽ sanh quý tử, phải nên giữ gìn cẩn thận”. Đến ngày sanh ngài Thiếu Khang, cả nhà tràn ngập ánh sáng xanh, hương thơm giống như hoa sen.[160] Năm ngài Thiếu Khang vừa mới lớn, mắt xanh môi thắm, răng bằng khít giống như răng đức Phật, thường ngồi xếp bằng mỉm cười. Lúc đó, trong làng có người thầy tướng giỏi, xem ngài và nói: “Đứa bé này có tướng tài, nhưng nó không chịu nói nên tôi không biết”. Mẹ ngài nghe thế liền ẵm ngài vào chùa Linh Sơn. Hôm ấy nhằm ngày vía đức Phật đản sanh, đến trước Thánh tượng, mẹ hỏi ngài Thiếu Khang rằng: “Con có biết ai không?” Bất chợt ngài trả lời: “Đức Phật Thích-ca Mâu-ni”. Nghe vậy mọi người đều kinh ngạc, bởi vì từ khi sanh ra cho đến nay ngài chưa bao giờ nói. Do vậy mà cha mẹ đều chấp nhận cho ngài xuất gia.

    2. Chuyên tu Tịnh độ:

    Lúc ngài hơn mười lăm tuổi đã tụng trọn năm bộ kinh. Sau đó, ngài thọ giới tại chùa Gia Tường, Việt Châu, rồi đến học luật ở chùa Y. Sau năm hạ (ngài đã được 5 tuổi hạ), ngài đến học luật ở chùa Long Hưng, Thượng Nguyên để nghe kinh Hoa nghiêm, luận Du-già. Đầu năm Trinh Nguyên, ngài đến chùa Bạch Mã ở Lạc Kinh, lên điện thấy có vật phóng ánh sáng, liền đến tìm xem là kinh pháp gì, mới biết chỗ phát ánh sáng đó chính là bài văn Hóa đạo Tây phương của Hòa thượng Thiện Đạo. Thấy rồi ngài rất vui mừng, chú nguyện và nói rằng: “Nếu con có duyên với Tịnh độ thì mong ánh sáng xuất hiện một lần nữa ngang trên bài văn này”.

    Ngài vừa nguyện xong, quả nhiên ánh sáng lại xuất hiện, trong đó có vô số hóa Phật và Bồ-tát. Ngài đến nhà có thờ di ảnh của Hòa thượng Thiện Đạo ở Trường An xin nguyện, thấy ngài Thiện đạo, tức thì chơn tượng hóa thành thân Phật, bảo ngài Thiếu Khang: “Ngươi làm y như ta, lợi lạc chúng sanh cùng sanh An dưỡng.”

    3. Niệm Phật hóa độ rộng rãi:

    Ngài đến chùa Quả Nguyện ở Giang Lăng, gặp một pháp sư, được pháp sư ấy dạy rằng: “Ngươi muốn giáo hóa mọi người thì nên đến Tân Định, duyên ngươi giáo hóa nơi ấy”. Nói xong liền biến mất, chỉ thấy hương khí bay về phía Tây. Sau đó, ngài đến Mục Châu khất thực, hễ ai cho tiền, ngài đều đem dẫn dụ trẻ con, đứa nào niệm một tiếng A-di-đà Phật thì cho một tiền. Trải qua hơn một tháng, trẻ con hâm mộ rất đông, em nào niệm Phật nhiều thì cho tiền. Một năm trôi qua, trai gái hễ thấy ngài đều xưng danh hiệu Phật, ngài liền kiến lập đạo tràng Tịnh độ ở núi Ô Long, lập đàn ba bậc, hội tụ mọi người ngày đêm hành đạo, xướng tán 24 bài văn xưng dương Tịnh độ. Mỗi khi đến ngày chay, số người được hóa độ vân tập hơn ba ngàn người. Đệ tử lên đàn ngồi xếp bằng hướng về thầy. Mỗi lần ngài xưng một danh hiệu Phật, thì một đức Phật từ miệng đi ra, từng tiếng niệm nối nhau như thế. Ngài nói: “Hễ ai thấy đức Phật liền sanh tâm Tịnh độ, còn ai chưa thấy thì nên sám hối tự trách lấy mình tinh tấn thêm lên”. Sự nghiệp hóa độ của ngài rất rộng rãi, người đời tôn xưng ngài là hậu Thiện Đạo.

    Ngài Diên Thọ[161] ở Vĩnh Minh

    1. Dung quán thiền giáo:
    Ngài Diên Thọ lúc còn tại gia thường trì kinh Pháp hoa, sau đó xuất gia với Thiền sư Thúy Nham ở Tứ Minh, tham học với Quốc sư Đức Thiều phái Thiên thai, phát hiện được tâm yếu. Ngài thường hành trì sám Pháp hoa ở chùa Quốc Thanh, trong thiền quán, thấy Bồ-tát Quán Âm dùng nước cam lồ rót vào miệng, nên từ đó ngài được biện tài nói năng, giảng pháp. Ngài trước tác Tông cảnh (Tông cảnh lục) 100 quyển, yếu chỉ là tập họp Thiên thai (tông Pháp hoa), Hiền thủ (tông Hoa nghiêm), Từ ân (tông Pháp tướng) và đưa tông giáo về một mối, lại viết Tứ liệu giản[162] khuyến khích người tham thiền kiêm tu tịnh nghiệp. Ngài đưa ra cách thức đơn giản, để cứu vãng cái tệ hại của Thiền tông, sợ rằng người chưa hiểu khó thoát khỏi sanh tử, thật là tâm đại từ bi rộng lớn!

    2. Đưa muôn việc thiện về một mối:

    Khi còn tại gia, ngài là một vị quan đốc thúc thâu nhận đồ dùng trong quân, tánh tình ngay thẳng, không có hai lời. Biết tiền do thu thuế dùng vào việc quan nên ngài đem mua vật phóng sanh. Văn mục vương ra lệnh chém ngài, đến khi sắp hành hình, ngài vẫn thản nhiên không biến sắc, thấy thế Vương mới tha tội. Sau khi xuất gia, thông cả thiền lẫn giáo, nên ngài mới trước tác hai bài: Một là Nhất tâm thiền định, hai là Vạn hạnh trang nghiêm tịnh độ. Tất cả những gì cũng đều là Tịnh độ, nhất ý tịnh nghiệp. Thời khóa ban ngày thì 108 việc, ban đêm thì hành đạo niệm Phật, mọi người đều nghe có tiếng nhạc trên hư không. Ngài tụng kinh Pháp hoađến một vạn ba ngàn bộ, cúng thí quỷ thần, mua vật phóng sanh, tất cả những việc ấy ngài đều hồi hướng Tây phương.

    3. Giới định tinh nghiêm:

    Ngài có lòng nhân ái từ bi, mặc đồ thô sơ đơn giản, ăn những món ăn thường, khích lệ nhiều người phát lòng tin, xây dựng tháp tượng. Mỗi khi gặp phải những việc trái lòng, phi lý, nhan sắc của ngài không bao giờ thay đổi. Ngài từng ở đỉnh Thiên Trụ, núi Thiên Thai, nhập định chín tuần, các loài chim đến làm tổ trong tay áo của ngài. Ngày 26 tháng 2, năm thứ 8 niên hiệu Khai Bảo, ngài thức dậy sớm, đốt hương, cáo biệt chúng rồi ngồi xếp bằng viên tịch, hưởng thọ 72 tuổi. Sau đó, có một vị Tăng đến từ Lâm Xuyên, trải qua nhiều năm cứ đi nhiễu quanh tháp của ngài. Có người hỏi duyên cớ? Vị Tăng ấy đáp: “Tôi bệnh vào địa phủ, thấy bên trái điện thờ có tượng của một vị Tăng, Diêm chúa siêng năng lễ bái. Thấy thế tôi hỏi, Diêm chúa nói: Đó chính là Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ”. Do vậy mà tôi cũng trọng cái đức của ngài nên thường xuyên kính lễ.

    Ngài Tỉnh Thường ở Chiêu Khánh

    Pháp sư Tỉnh Thường,[163] trụ trì chùa Chiêu Khánh, thuộc tỉnh Hàng Châu. Ngài là người nghiêm tinh giới luật, nên ở Chiêu Khánh là đạo tràng luật tông nổi tiếng đương thời. Ngài ngưỡng mộ di phong Đông Lâm,[164] kết làm Liên xã, nhân đó, ngài khắc tượng đức Phật Vô lượng thọ, chích máu chép phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm, và đổi Liên xã thành Tịnh hạnh xã. Khi ấy có đến 120 người thuộc hàng công khanh, đại phu đến dự hội, tất cả đều xưng là đệ tử Tịnh hạnh. Trong đó, Vương Văn Chánh là người đứng đầu. Ngài Tỉnh Thường luôn chú trọng đến giới luật, vì vậy mà cả ngàn vị Tỳ-kheo trong Tịnh hạnh xã đều nghiêm trì giới luật. Hàn lâm học sĩ Tô Dị Giản làm bài tựa cho phẩm Tịnh hạnh, muốn nói xõa tóc nâng bước chân, khoét thân cúng dường, để thỏa lòng cảm phục! Điều đó cho thấy được đạo đức cảm hóa của Pháp sư Tĩnh Thường quá sâu rộng. Ngày 12 tháng giêng năm thứ 4 niên hiệu Thiên Hi, ngài ngồi xếp bằng ngay ngắn nói: “Đức Phật đã đến!” rồi viên tịch. Lúc đó, cả chúng đều thấy nền đất màu vàng ròng, một chập rồi mới mất.

    Ngài Tri Lễ ở Diên Khánh

    1. Sanh có từ đâu:

    Pháp sư Tri Lễ[165] họ Kim ở tỉnh Minh Châu thời Tống. Cha mẹ của ngài lúc xưa đi lễ Phật cầu xin cho có con trai nối dõi. Sau đó trong mộng thấy một vị thần Tăng đem trao cho một đứa bé và nói: “Đây là La-hầu-la”. Khi ngài được bảy tuổi thì mẹ qua đời. Ngài cứ khóc mãi không thôi, rồi lại thưa cha xin xuất gia. Được cha chấp thuận, ngài đến chùa Thái Bình Hưng Quốc, theo thầy Hồng Tuyển xuất gia. Lớn lên, ngài theo học Giáo quán (Thiên thai) với pháp sư Nghĩa Thông ở chùa Bảo Vân, tông chỉ viên đốn ngài đều lãnh hội hết. Năm Thuần Hóa, ngài nhận lời thỉnh trụ trì chùa Càn Phù. Sau đó, ngài đến viện Bảo Ân xiển dương Giáo quán, học trò cứ thế mà nối gót. Năm ấy, tỉnh Minh Châu bị nắng hạn, ngài cùng với Từ Vân Tuân Thức tu sám Quang minh, ước hẹn nội trong ba ngày không mưa sẽ đốt một cánh tay. Đúng kỳ quả nhiên trời mưa to. Năm thứ ba, niên hiệu Đại Trung Tường Phù, trùng tu viện Bảo Ân, Tống Chơn Tông ban biển hiệu là “Diên Khánh Tự”.

    2. Muôn người kết xã:

    Năm thứ 6, niên hiệu Đại Trung Tường Phù, ngài mở hội niệm Phật thí giới, kết muôn người thành một xã. Khiến mọi người đều phát nguyện cầu sanh An dưỡng, tâm tâm buộc niệm, ngày ngày đúng kỳ. Tháng hai mỗi năm cùng tập hợp về một chỗ, tu hành cúng dường và nghe giảng pháp. Lại tập hợp mười vị Tăng ba năm tu sám Đại bi, đốt ba ngón tay cúng Phật. Năm thứ 4 niên hiệu Thiên Hi, phò mã Lý Tuân Húc dâng tấu, biểu dương cao hạnh của ngài, và được vua ban hiệu là “Đại sư Pháp Trí”. Lúc đó, vua mới ban chiếu cho thiên hạ đào ao phóng sanh, được sự hỗ trợ của ngài nên mọi việc được thành công mỹ mãn.

    3. Chú trọng giáo quán:

    Ngài dùng pháp nhất tâm tam quán (Không, Giả, Trung quán) hoằng dương Tịnh độ. Diệu tông sao[166] nói rằng: “Tâm đầy đủ tất cả pháp và tạo ra tất cả pháp, chính tâm là pháp, pháp chính là tâm. Năng tạo nhân duyên và sở tạo pháp, tất cả đều hoàn toàn ở nơi tâm tánh. Thế nên nay quán Y, Chánh trang nghiêm,[167] cho đến tâm pháp giới, quán cảnh pháp giới, sống trong pháp giới Y, Chánh sắc tâm. Thế nên gọi là duy y, duy chánh, duy sắc, duy tâm, duy quán, duy cảnh. Do đó, giải thích chữ Quán, dùng nhất tâm tam quán. Giải thích Vô lượng thọ, dùng nhất thể tam thân”. Bởi vì bản tánh của chân như bao trùm hết tất cả. Mười phương thế giới chỉ có tâm hiện, như là người, sắc, thân và vọng tâm, cũng chỉ là bóng dáng của chân tâm hiện ra. Cho nên nói: Ngoài tâm không có pháp, vì không rõ được chân tâm, nhận thức sai lầm ngoài tâm có pháp, rồi bài bác không có Tịnh độ.

    Ngài Tuân Thức hiệu Từ Vân[168]

    1. Tinh tấn cảm thông:

    Người đương thời gọi ngài là Từ Vân sám chủ. Sau khi xuất gia, ngài siêng năng sách tấn lấy mình. Đầu tiên học luật bộ, kế đến vào chùa Quốc Thanh, đốt ngón tay cúng dường trước tượng Bồ-tát Phổ Hiền, thề truyền thừa giáo pháp Thiên thai.

    Đầu năm Ung Hy, ở chùa Bảo Vân Tứ Minh thờ pháp sư Nghĩa Thông. Ngài luôn hành trì Bát-chu tam-muội, khổ công đến thổ huyết, da của hai chân bị nứt ra, vẫn lấy cái chết tự thệ. Bỗng nhiên thấy Bồ-tát Quán Âm đưa tay chỉ vào miệng ngài, kéo các loài vi trùng ra, rồi đưa tay rót nước cam lồ rảy lên, lúc đó toàn thân tâm cảm giác mát mẻ, tất cả bệnh hoạn đau đớn đều biến mất, sau đó thấy đỉnh đầu mình cao lên, từ đó tiếng nói của ngài như chuông lớn, trí tuệ biện tài vô ngại.

    2. Tịnh độ quyết nghi:

    Trong Tịnh độ quyết nghi hạnh nguyện nhị môn,[169] ngài soạn rằng: “Pháp Phật có hai, một là, pháp Tiểu thừa bất liễu nghĩa. Hai là, pháp Đại thừa liễu nghĩa. Trong Đại thừa lại có liễu bất liễu nghĩa. Nay bàn về Tịnh độ, chỉ là pháp liễu nghĩa trong Đại thừa liễu nghĩa”.

    Giải thích kỹ càng về tông chỉ của giáo phái này là nhân quả viên dung, hiểu ngay được pháp vi diệu của đức Phật. Kinh (Tịnh độ quyết nghi hạnh nguyện nhị môn) dạy: “Tìm kiếm lẽ thật khắp mười phương không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa, đó chính là điều ở đây muốn nói đến. Thế nên tịnh uế trong mười phương, nhìn chung đều trong sát-na. Một niệm sắc tâm bao trùm khắp cả pháp giới, đầy đủ trời đất, sự vật, chẳng phải do duyên khởi mới thành. Một niệm đã vậy, một trần cũng thế. Do vậy, trong mỗi trần là tất cả sát độ, trong mỗi tâm là tất cả tâm. Trong mỗi tâm trần lại bao trùm lẫn nhau, trùng trùng vô tận không có chướng ngại, hiện ngay một lúc chẳng phải ẩn hiện, tất cả thành tựu viên mãn không có thắng liệt. Tâm ta đã vậy, ngang bằng bản thể của Phật. Đây chính là quay trở lại chính mình, thai nghén cửu liên, đâu chẳng phải trong sát-na đó ư? Tin vào lời chơn thật này thì không có việc gì là không thành. Nếu còn mê muội cái lý này thì khi đụng việc đều là mê muội”.

    Cho nên (Tịnh độ quyết nghi) nói: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, nhập vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, cho đến tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.

    3. Tinh tấn tu tịnh nghiệp:

    Năm thứ 2 niên hiệu Chí Đạo, ngài liên kết Tăng tục chuyên tu tịnh nghiệp, làm bài ký thệ sanh Tây phương. Giữa năm Hàm Bình, ngài về phía Đông xây dựng tinh xá, sách tấn đại chúng tu niệm Phật tam-muội. Năm thứ 7 niên hiệu Tường Phù, nhận lời thỉnh mời của dân chúng Hàng Châu, ngài về trụ trì chùa Chiêu Khánh, kế đó làm chủ Linh Sơn. Tướng Vương Khâm Nhược trấn giữ ở Hàng Châu tấu trình lên trên xin lấy lại tên cũ của chùa là Thiên Trúc, và ban cho ngài hiệu là “Từ Vân”.

    Ngài đem việc phóng sanh của Thiên Thai Trí Giả nói với Khâm Nhược, nhân đó xin lấy Tây Hồ làm ao phóng sanh, và được Khâm Nhược chấp nhận. Ngài dựa theo kinh, tuyển tập thành các bài sám pháp, viên dung Tam quán, lấy Tịnh độ làm chỗ quy hướng. Ngày mùng 8 tháng 10, đầu năm niên hiệu Minh Đạo, ngài cáo bệnh. Đệ tử hỏi ngài về đâu, ngài đáp về Tây phương tịch quang tịnh độ. Đến chiều ngài ngồi an nhiên thị tịch, thọ 69 tuổi.

    Ngài Tông Trách ở Trường Lô

    1. Đại hiếu hóa độ mẹ:

    Thiền sư Tông Trách,[170] người tỉnh Tương Dương, cha mất sớm, mẹ họ Trần. Thuở nhỏ ngài học Nho, rất giỏi về thế học. Năm 29 tuổi, ngài đảnh lễ Thiền sư Pháp Tú ở chùa Trường Lô, Chơn Châu (Nghi Chân, Giang Tô) xin xuất gia, học rất giỏi về tông yếu trong đạo. Giữa năm Nguyên Hựu, ngài đón mẹ về ở thất phía Đông chùa Trường Lô, và khuyên mẹ xuống tóc, trì niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà. Bà hành trì như thế trọn bảy năm không bệnh, niệm Phật mà vãng sanh.

    2. Nỗ lực truyền thừa Tịnh độ:

    Ngài tuân theo quy củ của Lô Sơn, mở Liên hoa thắng hội, khuyến khích khắp cả Tăng lẫn tục, tập pháp quán Tây phương. Những ai không tu pháp quán thì chuyên trì danh, hồi hướng phát nguyện hẹn ngày sanh về Tịnh độ. Trong bài văn[171] khuyên tu Tịnh độ có dạy: “Biết xuất gia là tốt, mà không nguyện vãng sanh thì là sai lầm…; không tin lời chơn thật của chư Phật thì là mê muội. Nếu tin lời chư Phật mà sanh về Tịnh độ thì những sự trói buộc của trần gian không thể câu thúc được, trải qua số kiếp[172] không thể bị hại, thoát khỏi tám khổ nạn (sinh, lão, bệnh…) ở cõi người, không có năm tướng suy tàn[173] của cõi trời, danh từ đường ác còn không có huống nữa là có thật. Chỉ hiển bày giáo Nhất thừa, nhất định không có ba thừa. Quy y nhất thể Tam bảo, phụng sự mười phương Như Lai. Ánh sáng của đức Phật chiếu sáng bản thể, làm tiêu tan muôn sự sai lầm. Pháp vị nuôi lớn tinh thần, đầy đủ sáu thông. Ba mươi bảy pháp phẩm trợ đạo, ứng niệm thành tựu viên mãn. Ba mươi hai tùy loại ứng thân, có mặt khắp sát độ, ứng hiện cả năm đường, các căn đầy đủ. Nhất tâm không lay động, khắp cả tam-muội. Nước thiền định sái cả ba ngàn, đưa chúng sanh ra khỏi nhà lửa. Tự lợi lợi tha đều được viên mãn”. Thế nên đốc thúc đại chúng niệm Phật, hồi hướng cầu sanh Tây phương.

    Ngài Tông Bổn ở Linh Nham

    1. Lòng từ hóa độ cứu khổ:

    Thiền sư Tông Bổn,[174] họ Quản, người đất Vô Tích, tỉnh Thường Châu. Sau khi xuất gia, tham học với thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài, nhưng ngài niệm Phật cũng có chỗ tỏ ngộ. Về sau ngài ở chùa Tịnh Từ tỉnh Hàng Châu, năm đó bị đại hạn, hồ giếng đều khô cạn, góc phía Tây của chùa bỗng nhiên có dòng nước ngọt phun lên, Tăng chúng sống nhờ dòng nước ấy. Nhà họ Trương có người con gái bị chết; người mẹ nằm mộng thấy con gái mình làm rắn, thức giấc, thấy dưới quan tài có một con rắn, bà mới mang nó đến chùa, ngài nói pháp cho nó nghe nó liền biến mất. Trở về, chốc lát bà lại thấy con ve đen bay lượn trên quan tài, bà mới khấn rằng: “Nếu ngươi là con gái ta thì có thể bay vào cái lồng này, ta sẽ đem đến chùa Tịnh Từ một lần nữa”. Quả nhiên đúng như lời bà khấn. Đêm ấy, con gái về báo mộng rằng: “Con đã thoát khỏi hai quả báo đó rồi!” Nhân đó người mẹ hỏi: “Bằng cách gì mà con thoát khỏi luân hồi?” Con gái đáp: “Thưa mẹ! Lục đạo tứ sanh không ai tránh khỏi chỉ có tu pháp xuất thế thì mới mong thoát khỏi, việc đó mẹ nên thưa hỏi pháp chủ Tịnh Từ”. Từ đó người mẹ mới quay về với tâm mình.

    2. Mật tu tịnh nghiệp:

    Phụng chiếu vào chùa Tuệ Lâm ở Đông Kinh, và ngài nhận chiếu chỉ vua ban hiệu là “Thiền sư Viên Chiếu”. Bình nhật, ngài thường mật tu tịnh nghiệp, khi ấy pháp sư Lôi Phong Tài xuất thần đi đến Tịnh độ, thấy có một ngôi điện rất đẹp liền hỏi, có người trả lời: Dành để cung đón Thiền sư Tịnh Từ. Lại có ông Tư Phước Hy đến chùa Tuệ Lâm, đến nơi ông ta đảnh lễ sát chân ngài Tông Bổn, sau đó cúng dường vàng rồi đi. Thấy lạ, có người hỏi lý do, ông trả lời: Do trong định tôi thấy hoa sen bằng vàng ròng, có người nói là để đợi ngài Tuệ Lâm Tông Bổn. Lại có hoa sen khác nhiều vô số, nói là để dành cho những ai được độ; trong đó lại có hoa héo là chỉ cho những người biếng nhác thối lùi. Tuổi già, ngài về ở chùa Linh Nham tỉnh Tô Châu. Giữa năm Nguyên Phù, sắp thị tịch, ngài tắm rửa sạch sẽ rồi nằm, đệ tử Hoàn Ung đến xin kệ, ngài trừng mắt la rằng: “Kẻ ngu si, bình thường ta còn nhát làm kệ, huống chi giờ này ngươi đòi làm kệ gì. Hằng ngày ta muốn nằm là nằm, hôm nay cần gì xếp đặt chỗ ngồi”. Nói xong ngài liền lấy bút viết di chúc giao cho Thủ Vinh lo hậu sự rồi ném bút mà thị tịch.

    Ngài Tông Lợi ở Nhất Tướng

    1. Tu sám trì giới, hoằng truyền chánh pháp:

    Phật tổ thống ký[175] ghi: Ngài Tông Lợi[176] họ Cao, người Cối Kê. Năm lên bảy tập sự ở núi Thiên Hoa, sau khi thọ giới cụ túc, ngài đến Tô Châu nương ngài Thần Ngộ, được vào thất Phổ Hiền sám, nguyện ở trong thất sám hối. Kỳ hẹn 3 năm, bỗng một hôm mộng thấy vong mẫu đến cảm ơn rằng:

    “Nhờ công đức sám hối của con nên mẹ đã sanh vào chỗ tốt rồi”.

    Ngài lại thấy ngài Phổ Hiền đi qua trên không. Sám xong, ngài đến Linh Chi, yết kiến Luật sư Đại Trí, lãnh thọ thêm giới pháp. Lại ở trong định, ngài từng đến Tịnh độ, thấy cảnh giới có ao sen, hàng cây báu. Về sau ngài đến chùa Bích Chiểu, Tân Thành chuyên tu niệm Phật tam-muội. Trải qua mười năm, du hóa đến Thiên Thai, Nhạn Đãng, Thiên Phong, ngài đều kiến lập đạo tràng Tịnh độ. Tuổi về già, ngài trở về núi Thiên Hoa xây dựng điện Phật Vô lượng thọ; cuối năm Kiến Viêm, ngài vào núi Đạo Vị cất một am và lấy tên là Nhất Tướng. Tháng giêng, năm thứ 14, niên hiệu Thiệu Hưng, ngài gọi đệ tử đến bảo: “Ta thấy hoa sen trắng khắp cả hư không”.
    Qua ba ngày, ngài lại nói: “Đức Phật đến rồi!” Nói xong liền viết kệ:
    “Sống chín mươi năm đầu bạc trắng,
    trên đời không có khách trăm năm.
    Đạo nhơn Nhất Tướng vẫn tới lui,
    ngồi trên đài vàng đoạn càn khôn.”

    Viết xong ngài ngồi ngay thẳng mà viên tịch. Hôm ấy, những người ở gần núi thấy các bậc dị Tăng khắp cả núi, không biết các vị ấy từ đâu đến.

    Ngài Cảnh Long ở Thiên Mục

    1. Thiền tịnh song tu:

    Thiền sư Cảnh Long[177] hiệu là Không Cốc, người đất Tô Châu, đắc pháp với Hòa thượng Lại Vân ở Biện Sơn; là một người tài giỏi, có chí hướng thượng và kiêm cả việc hoằng dương Tịnh độ. Có lúc ngài hỏi Thiền sư Vĩnh Minh về tôn chỉ Tứ liệu giản. Thiền sư Vĩnh Minh dạy rằng:

    “Người tham thiền nắm giữ thoại đầu, tự cho mình là có công phu vắng lặng, không làm việc gì khác. Niệm Phật vãng sanh, sớm chiều lễ tụng, đều không thực hành. Đây gọi là có thiền không Tịnh độ. Những cách tham thiền như thế này chẳng phải là đúng, mà là ôm thoại đầu mà chết, không khác gì đất đá ngói gạch. Người mang chứng bệnh này, mười phần chiếm hết tám chín phần không thể cứu vãn. Người chứng đắc thiền chỉ chân chánh giống như nước trên bình hồ lô, đụng vào liền chuyển động, chảy tràn lan cả mặt đất. Người tham thiền như thế không khinh cách niệm Phật vãng sanh, sớm chiều lễ tụng, luôn luôn tuân hành, bên phải bên trái chỗ nào cũng đạo. Đây gọi là có thiền có Tịnh độ”.

    2. Niệm Phật liền ngộ:

    Ngài lại dạy: “Một môn niệm Phật này là con đường tắt tu hành nhanh nhất. Nhận thức rõ thân này là không thật, thế gian hư vọng, chỉ có Tịnh độ là chỗ để quay về, niệm Phật để nương tựa. Niệm chuyên chú, niệm thong thả, lên giọng, xuống giọng đều không bị trở ngại, giúp cho thân tâm được nhẹ nhàng, nhớ mãi không quên, dù cho yên tĩnh hay ồn ào, an nhàn hay mệt nhọc, cũng chỉ là một chứ không hai. Bỗng nhiên xúc cảnh gặp duyên, một câu liền được chuyển thân, mới biết là Tịch quang tịnh độ không tách rời nơi đây, đức Phật A-di-đà không ngoài tâm này.

    Nhưng nếu đem tâm này để mong cầu sự giác ngộ thì lại bị chướng ngại. Chỉ lấy tín tâm làm căn bản, cho nên loại trừ tất cả tạp niệm. Nếu thực hành theo hướng đó, dẫu không được giác ngộ, thì cũng sanh về Tịnh độ, tiến tu từng bậc một, không có thoái chuyển.

    Hòa thượng Ưu-đàm[178] dạy người về công án: Người niệm Phật là ai? Hoặc dạy rằng: Những gì là bản tánh Di-đà của ta. Đó là nhiếp tâm niệm Phật, tham cứu niệm Phật. Nhưng nay không cần phương pháp niệm đó mà chỉ dùng cách niệm bình thường”.

    Ngài Châu Hoành ở Vân Thê

    1. Thiền tịnh song tu:

    Trong truyện[179] ghi: Ngài Châu Hoành[180] tự Phật Tuệ, hiệu Liên Trì, họ Trầm, ở huyện Nhân Hòa, Hàng Châu (tỉnh Chiết Giang). Năm lên bảy, ngài học Nho, sau đỗ Tú tài, học hành nổi tiếng. Khi ấy ở hàng xóm có một bà già, hằng ngày niệm Phật lên đến hàng ngàn lần. Có người hỏi lý do? Bà đáp: “Trước kia chồng tôi trì danh hiệu Phật, đến khi lâm chung không có bệnh hoạn gì, chắp tay chào mọi người rồi đi. Vì thế nên biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn.” Từ đó ngài Châu Hoành mới nương tâm nơi Tịnh độ, viết bốn chữ “Sanh tử sự đại” để ở đầu bàn, tự sách tấn mình. Đến năm 32 tuổi, ngài xuất gia yết kiến ngài Biến Dung, Tiếu Nham và các vị đại lão, luôn hướng đến việc cao thượng. Ngài làm kệ rằng:
    Hai mươi năm trước việc đáng nghi,
    ngoài ba ngàn dặm gặp sao kỳ!?
    Đốt hương, liệng kích việc nhàn hạ,[181]
    Không tranh Ma Phật đúng hay sai.

    Rồi ngài buông bỏ hết tất cả chỉ lo chuyên tu Tịnh độ. Một hôm, ngài về Hàng Châu khất thực thấy cảnh Vân Thê u huyền khác lạ, nên ở lại núi ấy. Trong núi này có rất nhiều cọp, ngài tụng Du-già diễm khẩu (tụng kinh thí thực), khiến cọp không gây hại nữa. Năm đó đại hạn, dân chúng thỉnh ngài cầu mưa, ngài nói: “Tôi không có phép thuật gì khác chỉ biết niệm Phật”.

    Nghe thế, nhưng mọi người cứ cố thỉnh, ngài liền đem mõ đi vòng quanh bờ ruộng và liên tiếp niệm Phật; tức thì trời đổ mưa to, dân chúng vui mừng, cùng nhau sắm sửa cây gỗ cất nhà. Cũng từ đó, đệ tử về hỗ trợ và biến nơi đây trở thành một Tùng lâm (tự viện).

    2. Học thêm hạnh ngài Phổ Hiền:

    Kinh Hoa nghiêm, Bồ-tát Phổ Hiền lấy mười Đại nguyện vương, hướng dẫn Thiện Tài và Hải chúng hoa tạng cùng về Cực lạc. Ngài (Châu Hoành) đem Tịnh độ truyền bá Hoa nghiêm, còn trong nhật khóa thì tụng nguyện Phổ Hiền. Ngài trước tác Di-đà sớ sao, cho rằng kinh A-di-đà cùng bộ với Hoa nghiêm. Lúc đó, có Tào Lỗ Xuyên lấy Thiền tông nói Hoa nghiêm, đem Hoa nghiêm phá Tịnh độ, coi thường bài sớ sao của ngài và viết thư cho ngài, trong thư công phá pháp môn Tịnh độ. Ngài đáp thư đả phá lại rằng:

    Tề Kỷ là Thiền sư mà còn đem kệ niệm Phật của người xưa, theo từng câu cú. Có người nói: Duy có con đường tắt tu hành, thì Thiền sư Tề Kỷ bảo: Vẫn còn quanh theo lối cũ. Người kia lại nói: Chỉ niệm Phật A-di-đà, Thiền sư lại bảo: Niệm được cái gì?[182] Cư sĩ đạt được Thiền tông cớ sao không biết các vị Tông sư quả là những người buông bỏ, không dính mắc, còn ông y theo văn tự hiểu thành sự thật, chịu chết dưới câu nói như thế. Nếu quả như vậy, thì cổ đức nói:

    “Đạp trên đảnh Tỳ-lô mà đi, thì Di-đà không đúng, Tỳ-lô cũng sai luôn”.

    Những câu nói này ở trong Ngữ lục, Truyện ký có muôn ngàn vạn ức. Trước đây 40 năm, lão hủ[183] cũng từng dùng nó để khua môi múa mép, bút chiến tranh hùng, nhưng sau đó biết xấu hổ, không dám làm thế nữa, đến nay vẫn còn thẹn đỏ mặt. Tề Kỹ lại nói:

    “Người cầu Tây phương, bỏ cha ra đi, lưu lạc xứ người, rảo Đông chạy Tây. Khổ thay, Phật A-di-đà!”[184]

    Lão hủ cũng mượn ý đó mà nói lại:

    “Nay như con nhớ mẹ trở về quê nhà, bỏ Đông được Tây. Vui thay, Phật A-di-đà!”

    Cách nói này cùng với lời của thiền sư Tề Kỷ có khác nhau bao nhiêu? Trong thư cư sĩ còn nói nhiều kiếp tu hành, không bằng một niệm được Vô sanh pháp nhẫn. Cư sĩ đã được Vô sanh pháp nhẫn chưa? Nếu như đã được thì không nên cho rằng ta là năng sanh, Tịnh độ là sở sanh. Vì sao? Vì tâm là Tịnh độ, vậy ai là năng sanh. Tịnh độ là tâm thì ai là sở sanh. Không thấy năng sanh, sở sanh mà vãng sanh, trọn ngày sanh mà chưa từng sanh, thì đó mới là chơn vô sanh. Đã không chấp nhận sanh mà sau cho là vô sanh, thì đó là đoạn diệt không, chẳng phải là tôn chỉ vô sanh. Trong thư cư sĩ cho rằng hoa nở thấy Phật mới ngộ vô sanh thì là quá chậm. Cư sĩ đạt thiền tông, đâu không biết từ mê được ngộ, như vừa tỉnh giấc mộng, như hoa sen nở. Người niệm Phật là thấy tánh ngay trong đời này, là hoa nở trong nháy mắt. Còn người sau khi sanh mới thấy tánh thì hoa nở là lâu lắm rồi. Căn cơ có nhanh chậm, công có siêng, có nhác, cho nên hoa nở có nhanh có chậm, sao lại cho là quá chậm? Cư sĩ còn ví dụ rằng: Hoa tạng là toàn thân, Tây phương là lỗ chơn lông, người sanh Tây phương cũng giống như đưa toàn thân vào lỗ chơn lông, đưa biển cả vào bọt nước. Luận về lớn nhỏ là như thế. Cư sĩ thông tông Hoa nghiêm sao lại chỉ chấp nhận nhỏ vào lớn, mà không chấp nhận lớn vào nhỏ. Vả lại lớn nhỏ cùng tương nhập, đặt biệt Hoa nghiêm là một trong mười pháp môn huyền diệu. Nói về Hoa tạng thì thế giới vô tận bất khả thuyết, không thể nói, mà đưa vào trong một hoa sen của thế giới Cực lạc, còn không đầy một cánh hoa hay một phần của cánh hoa, thế thì khi đưa toàn thân vào lỗ chơn lông vì sao bị tổn thương.

    Trong thư cư sĩ lại nói: Có mấy vị Tăng tu ở núi hoang, nghe hỏi đến giáo lý thượng thừa là đã giật mình sững hồn. Và cư sĩ khuyên tôi rằng: người thích nghi với Hoa nghiêm thì nên nói về Hoa nghiêm, người thích nghi với Tịnh độ thì nên nói về Tịnh độ. Nhưng những hạng này là căn tánh chậm chạp, chỉ thích hợp với Tịnh độ, cớ sao cư sĩ trao thuốc không đúng bệnh, mà lại gượng ép như thế.

    Cư sĩ còn viết: Lão hủ đã xuất thế khai đường, không đủ làm đại nhơn tác lược, mà chỉ làm ông già, bà cả trường chay quê mùa, nếu bị người lanh lợi chất vấn, kẻ tinh mắt tra gạn, chẳng lẽ ẩn mình trên sao Bắc đẩu, hay trốn mình trong núi Thiết vi? Lão hủ chưa dám đưa tên tuổi mình ra ứng thế, tự nhìn nhận không có tác lược của bậc đại nhơn, nên tạm gác qua không bàn luận đến.

    Nhưng cho rằng người tu Tịnh độ là hạng ông già, bà cả trường chay thô bỉ, thì chẳng phải chê những người đó ngu dốt thô bỉ, mà chính là chê Văn-thù Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ thô bỉ. Lại nữa, đâu riêng các vị Bồ-tát, các vị thiện tri thức như Văn-thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ mà Tuệ Viễn, Thiện Đạo, Thiên Thai, Vĩnh Minh v.v… cũng là ông già, bà cả trường chay đó sao!? Hay các vị đại quân tử Lưu Di Dân, Bạch Thiếu Truyền, Liễu Liễu Châu, Tô Trường Công v.v… đều là ông già, bà cả trường chay!? Lại cho ông già, bà cả trường chay chỉ là người niệm Phật vãng sanh, tức là được chuyển địa, cũng đâu thể là thô bỉ? Cho đến nói có kẻ lanh lợi tinh mắt đến chất vấn tra gạn, thì những ông già, bà cả trường chay ấy đâu cần ẩn mình lên sao Bắc đẩu, hay trốn chạy tận núi Thiết vi xa xôi, mà chỉ cần đặt giường nằm nơi cổ họng, trải tòa ngồi trên đôi mắt của những người lanh lợi đó. Làm như thế để làm gì? Để dạy cho người kia tạm đóng cái môn “Tam-muội nơi cửa miệng” lại, hãy “hồi quang phản chiếu”, nhìn lại phận mình. Cư sĩ tôn sùng Hoa nghiêm mà dốc hết sức phá Tịnh độ, còn lão hủ tu Tịnh độ mà hết lòng tán dương Hoa nghiêm. Nếu như cư sĩ chịu yên tĩnh mà suy nghĩ lại thì kết quả sẽ như thế nào?

    Ngài nói tiếp: Hoa nghiêm đủ vô lượng môn, cầu sanh Tịnh độ là một trong các môn của Hoa nghiêm, chính là thích hợp với căn cơ mà lấy một môn này đưa vào trong Hoa nghiêm.

    Luận về Tịnh độ thông với Hoa nghiêm là thế nào? Phật đạo bằng nhau, trần sát tương nhập, chư Phật mười phương thân đều ở trong Hoa nghiêm, ở trong quốc độ này tu hành tinh tấn, bị kiến Tư hoặc làm chướng ngại, cho nên thân ở Hoa nghiêm mà không được thọ dụng. Bởi vì Hoa nghiêm là cõi Thật báo, không trải qua nhiều kiếp tu hành thì khó chứng được quả Hoa tạng. Người trẻ kia đùa cợt với pháp môn, chỉ bô bô cái miệng nói không, chưa từng được thọ dụng thật sự. Duy chỉ sanh Tịnh độ, nương vào Phật lực, cũng như người nghèo cùng được ở trong cung vua, liền được thọ dụng những gì ở cung vua. Đức Như Lai thương xót chúng sanh không có năng lực đoạn trừ lậu hoặc, nên ngài mở ra nhiều phương tiện khác nhau. Đạo sư hiểu ý này một cách sâu sắc nên nỗ lực hoằng dương Tịnh độ, học theo nguyện Phổ Hiền. Tào Lỗ Xuyên chưa hiểu áo chỉ của Hoa nghiêm, nên cố sức chê bai Tịnh độ, phỉ báng phẩm Hạnh nguyện là vì chưa hiểu nghĩa vậy.

    3. Vạn thiện trang nghiêm:

    Đại sư Vĩnh Minh lấy vạn thiện trang nghiêm Tịnh độ, ngài cũng làm như thế, ngài còn đào ao phóng sanh, viết văn cấm sát sanh, hóa độ thế tục. Lại nữa, ngài nhiếp thọ người tại gia một cách rộng rãi nỗ lực, thực hành các việc thiện, hồi hướng Tây phương. Đã từ lâu giới đàn chưa mở, ngài mới dạy cho những người cầu giới, phải đủ ba y, đến trước tượng Phật để thọ giới, còn ngài làm chứng minh. Ngài còn sang định văn nghi Thủy lục và Du-già diễm khẩu để cứu khổ trong cõi u minh. Ngài đăng đàn thí thực, thường hiện tướng Phật, đó là nhờ sức quán vậy.

    4. Tu cả lý và sự:

    Vào thời điểm đó, kẻ cuồng thiền thịnh hành, người Tăng kẻ tục phần đông chuyên bàn về việc thâm huyền, nói lý vi diệu cho vậy là cao siêu, nhưng lại coi thường việc thực hành. Không những thế lại còn chạy theo lối Vương học[185] dư tàn của giới sĩ tử, tri thức, quan lại đang kế thừa, không hiểu gì về tôn chỉ thâm sâu của Dương Minh, tranh cãi về tâm lý học. Đó gọi là người tửu sắc tài khí, không ngại đường Bồ-đề, là căn bệnh thông thường của người đọc sách đương thời. Ngài vì muốn nhiếp thọ những hạng người này nên trong bộ Di-đà sớ sao, bất cứ trang nào ngài cũng nói rõ về lý tánh, đặc biệt chú trọng về việc tu để tự cứu. Ngài dạy: chấp sự mà chưa hiểu lý thì không uổng công cửu phẩm, còn chấp lý mà bỏ sự thì không tránh khỏi cái họa rơi vào không. Khi lâm chung ngài có di chúc, nên chân thật niệm Phật, tông chỉ đó rất sâu sắc.

    5. Lời cảnh tỉnh sách tấn thắm thiết:

    Ngài có họa lại bài Đường thi niết-bàn[186] của Chân Yết thiền sư,[187] cảnh tỉnh sách tấn rất thắm thiết, mỗi khi đọc đến là toàn thân toát mồ hôi. Nay xin trích hai bài đầu:
    “Huyễn chất ninh tri hữu bại thương,
    cữ đầu kinh đáo niết-bàn đường.
    nhất sinh tận dã tàn cánh mộng,
    vạn lự hôi lai kiểu nhật sương.
    Quá khứ nghiệp đa tâm chủ loạn,
    tiền xu lộ hiểm cước cấn mang.
    Nhi kim dục vấn an nhàn pháp,
    lâm khát khai trì sự dĩ phương.”
    “Đồ nhập không môn tối khả thương,
    niết-bàn kim thị thí Tăng đường.
    Tai thiêu ngũ nội ngư du phủ,
    thống thiết chư căn thảo bị sương.
    Uổng bão si thiền thành đê sự,
    bạng tu ngoại thuật uổng can mang.
    Nhân nhân đạo hữu an nhàn pháp,
    tranh nại lâm hành nhất cú phương.”

    Tạm dịch:
    “Thân hư huyễn nào biết bại đau thương!
    Chợt kinh sợ tìm về nhà Tịch diệt.
    Một đời người như giấc mộng sương tan,
    bao lo lắng thoáng chỉ là mây khói.
    Nhiều nghiệp quá khiến tâm người càng loạn,
    đường phía trước lê bước chân mệt mỏi,
    gẫm suy ra pháp lạc mới là nhà,
    đâu có kịp khi đào ao khát nước!?”
    “Thật cảm mến cho những người vào đạo,
    trường Tăng thi là cảnh giới niết-bàn.
    Kẻ thiền si như cá nằm trên lửa,
    như cỏ cây bị sương phủ tiêu điều.
    E uổng công cho người hành chấp chặt,
    như nhầm lẫn với pháp học bên ngoài.
    ai tu đạo có pháp nhàn tự ngộ,
    chớ tranh nhau con đường đúng, đường sai!?”

    (trích TỊNH ĐỘ TÔNG KHÁI LUẬN,
    Việt dịch: Thích Quảng Hạnh, Hiệu chính và phụ chú: Thích Tâm Nhãn,
    Pháp Tạng Phật giáo Việt Nam 
    xuất bản năm 2013)


    [1] Mười pháp giới: Hiển giáo căn cứ kinh Pháp hoa gọi lục phàm: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A-tu-la, nhân, thiên. Bốn Thánh (tứ Thánh): Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật, là mười pháp giới (thập pháp giới).

    [2] Kinh Pháp hoa (Diệu pháp liên hoa kinh) 1, T9n262, p9c04.

    [3] ibid., p10a16.

    [4] ibid., p8a12.

    [5] Ngài Trí Giả ví kinh Hoa nghiêm như mặt trời mới lên, chiếu sáng những ngọn núi cao trước (Nhật chiếu cao sơn). Pháp hoa như mặt trời ở vào giữa trưa (Nhật luân đương ngọ).

    [6] Ngài lại cho rằng A-hàm như mặt trời đã lên hơi cao, soi sáng những hang tối nơi sườn núi (Nhật chiếu u cốc); Phương đẳng như mặt trời đã lên khá cao, chiếu sáng những nơi đất bằng (Nhật chiếu bình địa); và Bát-nhã như mặt trời ở vào giờ Tị (10 giờ trưa – Ngung trung thời).

    [7] Hán: Thất xứ cửu hội 七處九會. Tân dịch Hoa nghiêm kinh thất xứ cửu hội tụng thích chương 1, T36n1738, p711a24 giải thích: Trong bốn châu phía nam gọi là cõi người, ở nước Ma-kiệt-đà có ba chỗ thù thắng: chỗ đạo tràng dưới cội Bồ-đề, chỗ pháp đường Phổ quang minh và vườn Kỳ-thọ Cấp Cô Độc… và bốn cõi trời là Đao-lợi, Dạ-ma, Đâu-suất-đà, Tha hóa tự tại (họp 3 nơi cõi người, bốn cõi trời gọi là thất xứ). Chín hội là hội đầu tiên (đức Phật giảng Hoa nghiêm) tại Bồ-đề đạo tràng, hội thứ hai ở điện Phổ quang, thứ ba tại trời Đao-lợi, thứ tư tại trời Dạ-ma, thứ năm tại trời Đâu-suất, thứ sáu tại trời Tha hóa, thứ bảy, thứ tám lại giảng ở điện Phổ quang, và thứ chín tại vườn Cấp Cô Độc.

    [8] Hai trí (nhị trí 二智): Như lí trí, Như lượng trí; Căn bản trí, Hậu đắc trí; Chân trí, Tục trí; Thật trí, Quyền trí; Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí. Theo tông Hoa nghiêm lấy Như lí trí, Như lượng trí. Tông Pháp tướng: Căn bản trí, Hậu đắc trí. Tông Thiên thai: Quyền trí, Thật trí.

    [9] ibid. 5, T9n262, p41a20.

    [10] Kinh Kim cang 1, T8n235, p749a28.

    [11] ibid. 1, p5b09.

    [12] ibid. 1, p7c17.

    [13] Kinh Vô lượng thọ 2, T12n360, p273a28.

    [14] Kinh Hoa nghiêm (Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh) 2, T10n279, p5c02.

    [15] Luận Đại thừa khởi tín 1, T32n1666, p580b21.

    [16] Phái Lý học Tống Minh (Tống Minh lý học gia 宋明理學家): học thuyết mới đời Tống và Minh, lấy tư tưởng Nho gia làm trung tâm, rồi dung hợp thành quả tư duy lý luận của Phật gia, Đạo gia mà hình thành. Chủ yếu do giải thích, phân tích hình thức Danh Lý trong kinh nghĩa Nho gia rồi tìm hiểu sâu tới, quan hệ Lý Khí và vấn đề Tính mệnh, Thiên đạo. Tống Minh lý học manh nha từ giữa đời Đường với Hàn Dũ, Lý Ngao. Đầu đời Bắc Tống, Hồ Viện, Tôn Phục, Thạch Giới đề xướng môn học Tính mệnh đạo đức, nhưng những người sáng tạo mở đầu thực tế của Lý học chính là Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di đời Bắc Tống, đến Chu Hi đời Nam Tống là tập đại thành.

    [17] Vĩnh Gia (665-713): Thiền tăng sống vào đời Đường, người huyện Vĩnh Gia, Ôn Châu (Chiết Giang), họ Đới tự Minh Đạo, hiệu Vĩnh Gia Huyền Giác. Sư có trước tác Chứng đạo ca, Thiền tông ngộ tu viên chỉ 1 quyển, Vĩnh Gia tập 10 quyển.

    [18] Vĩnh Gia chứng đạo ca 1, T48n2014, p396a27.

    [19] Kinh Kim cang 1, T8n235, p752a20. Trong kinh Kim cang, đoạn trước đức Phật dạy Tu-bồ-đề không nên dùng ba mươi tướng mà quán Như Lai. Sau đức Phật lại nói, Như Lai chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng chánh giác cũng cần ba mươi hai tướng, là ý kinh dạy không nên chấp thường (chấp có) và chấp đoạn (chấp không).

    [20] Kinh Vô lượng thọ 2, T12n360, p278a28.

    [21] Nhân địa 因地, đồng nghĩa với nhân vị 因位. Chỉ cho các địa vị hoặc giai vị đạt được trong quá trình từ khi tu tập nhân hạnh cho đến chứng quả vị.

    [22] Kinh Quán vô lượng thọ, tên khác Quán vô lượng thọ Phật, Quán kinh v.v…, 1 quyển, Cương-lương-da-xá dịch thời Lưu Tống (T12n365).

    [23] Kinh A-di-đà, 1 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch thời Diêu Tần (T12n366).

    [24] Kinh Lăng-nghiêm (Đại Phật đảnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát vạn hạnh thủ lăng-nghiêm), 10 quyển, ngài Bát-lạt-mật-đế dịch thời Đường (T19n945). Cuối quyển 5 (kinh Lăng-nghiêm) phần “Thế Chí căn đại”, nói về ngài Đại Thế Chí nhân phép niệm Phật tam-muội, nhiếp phục cả sáu căn, qui cả sáu căn thâu về nhất niệm niệm Phật. Cf. Đại Phật đảnh thủ lăng-nghiêm kinh Đại Thế Chí Bồ-tát niệm Phật viên thông chương, X16n311B, p373.

    [25] Hán: Quả hải 果海, ví dụ trí tuệ, công đức của Phật sâu rộng như biển.

    [26] Kinh Hoa nghiêm, 80 quyển, Thật-xoa-nan-đà dịch thời Đường (T10n279). Phẩm “Phổ Hiền” (thứ 36) trong quyển 49, phẩm “Nhập pháp giới” (thứ 39) trong quyển 60.

    [27] Phẩm Tịnh hạnh (thứ 11), kinh Hoa nghiêm 14, T10n279.

    [28] Luận Vãng sanh, có 3 bản: 1. Tên gọi đủ là Vô lượng thọ kinh Ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ, ngài Thiên Thân (Thế Thân) tạo, Bồ-đề-lưu-chi dịch thời Nguyên Ngụy, 1 quyển, T26n1524; 2. Vô lượng thọ kinh Ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ chú (tên khác Tịnh độ luận chú…) 2 quyển, ngài Đàm Loan chú giải thời Bắc Ngụy, T40n1819; 3. Tịnh độ luận 3 quyển, ngài Ca Tài soạn thời Đường, T47n1963.

    [29] Đàm Loan (476-542), Cao tăng Tịnh độ giáo thời Nam Bắc triều, người Nhạn Môn (huyện Đại, tỉnh Sơn Tây); có thuyết nói sư là người Vấn Thuỷ, Tinh Châu (Thái Nguyên, Sơn Tây), không rõ họ gì. Nhật Bản tôn sư là Sơ tổ trong 5 vị Tổ của tông Tịnh độ, Tổ thứ 3 trong 7 vị Tổ của Chân tông. Sư đã kết hợp hai trào lưu tư tưởng lớn của Phật giáo Ấn Độ nơi tổ Long Thọ và Thế Thân, đem tư tưởng Không tông dung hợp vào giáo nghĩa Tịnh độ. Sư có trước tác Vãng sanh luận chú 2 quyển, Tán A-di-đà Phật kệ v.v…

    [30] Luận Tịnh độ thập nghi, tên khác A-di-đà thập nghi, Thiên thai thập nghi v.v…, 1 quyển, do ngài Trí Khải soạn thời Tùy (T47n1961). Nội dung sách này nêu ra 10 nghi vấn về pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ.

    [31] Trong bản nguyên tác, tác giả viết nhầm là Thích nghi luận.

    [32] Dương Thứ Công là cư sĩ Phật giáo Trung Quốc, tên Dương Kiệt, tự là Thứ Công, hiệu Vô Vi Tử, người tỉnh Vô Vi (An Huy), thời Bắc Tống. Ông là người tài trí, sớm thích tu thiền… Về sau, đến cuối năm Tống Thần Tông Hi Ninh (1068-1077), ông về quê thăm mẹ, rồi qui tâm Tịnh độ. Ông đến chùa Bạch Liên ở núi Thiên Thai, xin làm đệ tử ngài Chân Hàm và lễ bái tháp ngài Trí Giả. Những năm cuối đời, ông chuyên tu Tịnh độ và mất lúc năm 70 tuổi.

    [33] Trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng nói, tiền thân đức Phật A-di-đà là Tỳ-kheo Pháp Tạng, bỏ ngôi vua xuất gia, tu hành nơi đức Phật Thế Tự Tại Vương, sau thành Phật A-di-đà.

    [34] Luận Tịnh độ thập nghi 1, T47n1961, p77b11.

    [35] Luận Niệm Phật tam-muội bảo vương, 3 quyển, ngài Phi Tích soạn thời Đường (T47n1967).

    [36] Pháp sư Phi Tích là cao Tăng thời Đường. Năm đầu niên hiệu Vĩnh Thái (765), vua Đại Tông thỉnh sư tham dự dịch trường của ngài Bất Không, dịch các kinh Nhân vương hộ quốc bát-nhã 2 quyển, kinh Mật nghiêm 3 quyển v.v… Sư còn trước tác luận Niệm Phật tam-muội bảo vương để xiển dương Tịnh độ…

    [37] Tịnh độ hoặc vấn, 1 quyển, Thiên Như Tắc soạn thời Nguyên (T47n1972).

    [38] Thiên Như (?-1354), vị Tăng tông Lâm Tế đời Nguyên, tên Duy Tắc, hiệu Thiên Như, người thôn Vĩnh, huyện Cát An, tỉnh Giang Tây, đắc pháp nơi thiền sư Trung Phong Minh Bản. Sư trước tác Lăng-nghiêm kinh hội giải 20 quyển, Tịnh độ hoặc vấn v.v…

    [39] Tây trai tịnh độ thi, 3 quyển, Sa-môn Phạm Kì trước tác thời Minh, (X61n1164, p725).

    [40] Phật bản hành tán, hay gọi là Phật sở hành tán, Phật sở hành tán kinh…, 5 quyển, 28 phẩm, Bồ-tát Mã Minh soạn, ngài Đàm-vô-sấm dịch thời Bắc Lương (T4n192). Nội dung tác phẩm này phần nhiều dùng tài liệu trong Vệ-đà, Áo nghĩa thư, và 2 thi phẩm anh hùng ca Mahābhārata, Rāmāyaṇa. Đây là tác phẩm văn học đầu tiên về Phật truyện bằng tiếng Phạn cổ điển. Về giá trị văn chương thì không có một tác phẩm Phật truyện nào sánh kịp.

    [41] Thiền sư Sở Thạch (1296-1370), người Trung Quốc, họ Châu tên Phạm Kì, tự Sở Thạch. Sư là đệ tử nối pháp ngài Hạnh Đoan ở Kính Sơn. Sư mất năm Hồng Vũ thứ 3 (1370), thọ 75 tuổi. Sư có trước tác Sở Thạch Phạm Kì ngữ lục 20 quyển, Tây trai tịnh độ thi 3 quyển v.v…

    [42] Bảo vương tam-muội niệm Phật trực chỉ, 2 quyển, ngài Diệu Hiệp biên tập thời Minh (T47n1974).

    [43] Thiền sư Diệu Hiệp (?-1674): Thiền tăng đời Minh, họ Trần, người đời gọi là “Diệp Hiệp Tịnh Khải thiền sư”, người xứ Tiền Đường (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Sư nương Hoà thượng Thạch Vũ xuất gia, sau đó tham yết Tam Nghi Minh Vu ở Vân Môn, có chỗ tỉnh ngộ, được nối pháp ngài, thuộc tông Tào Động. Sư mất tháng 9 năm Khang Hy thứ 13.

    [44] Luận Tịnh độ sanh vô sanh, 1 quyển, ngài Truyền Đăng soạn thời Minh (T47n1975).

    [45] Đại sư U Khê, pháp danh Truyền Đăng, họ Diệp hiệu Vô Tận, người Trung Quốc, sống vào thời Minh, ở huyện Tây An, tỉnh Chiết Giang. Sư xuất gia với ngài Tiến Hiền Ánh Am. Năm Vạn Lịch 15 (1587), sư chọn chùa Cao Minh ở U Khê núi Thiên Thai, lập tổ đình Thiên Thai, dạy bảo Tăng chúng nghiên cứu thiền và Tịnh độ. Sư mất năm nào không rõ. Sư có trước tác luận Tịnh độ sanh vô sanh, Lăng-nghiêm kinh huyền nghĩa v.v…

    [46] Tam quán: 3 pháp quán của tông Thiên thai, Không quán, Giả quán và Trung quán.

    [47] Tây phương hợp luận, 10 quyển, Viên Hoành Đạo soạn thời Minh (T47n1976).

    [48] Viên Trung Lang (1568-1610), là cư sĩ Phật giáo Trung Quốc, tên Viên Hoành Đạo, tự Trung Lang, người ở huyện Công An, Hồ Bắc, sống vào đời Minh. Ông là người khai sáng phái văn học Công An, đồng thời cũng là người thích tu thiền. Ban đầu ông học thiền với cư sĩ Lý Trác Ngô, sau ông lại tu Tịnh độ. Ông có tác phẩm Tây phương hợp luận, San hô lâm, Viên Trung Lang toàn tập v.v…

    [49] Luận ngữ, thiên 12 “Nhan Uyên”: Tử Cống hỏi về phép trị dân. Khổng tử đáp, “Lương thực cho đủ, binh bị cho đủ, dân tin chính quyền”. Tử Cống lại hỏi, nếu bất đắc dĩ phải bỏ một, thì bỏ điều nào trước? Khổng tử đáp: “Bỏ binh bị”. Tử Cống lại hỏi, trong hai điều còn lại nếu bỏ một điều nữa thì bỏ nào trước? đáp: “Bỏ lương thực. Từ xưa vẫn có người chết, nếu dân không tin chính quyền thì chính quyền đổ (Viết: “Khứ thực. Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập.” 曰: 去食. 自古皆有死, 民無信不立).

    [50] Ba thân (tam thân 三身): Pháp thân, Báo thân, Ứng thân.

    [51] Bốn trí (tứ trí 四智): Skt. catvāri jñānāni. Tông Pháp tướng lập bốn trí của Phật: Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tánh trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí.

    [52] Kinh Vô lượng thọ hay gọi là Đại kinh, 2 quyển, ngài Khương Tăng Khải dịch thời Tào Ngụy (T12n360).

    [53] Cf. Phật thuyết vu-lan-bồn kinh sớ 1, T39n1792, p505a17; A-di-đà kinh sớ sao diễn nghĩa 2, X22n427, p734c11 v.v…

    [54] Đại sư Liên Trì (1535-1615), Tăng nhân đời Minh, họ Thẩm, tên Châu Hoành, tự Phật Huệ, người xứ Nhân Hoà (nay là Hàng Châu) Trung Quốc. Năm 1571, sư thuyết pháp ở chùa Vân Thê, Hàng Châu nên còn có hiệu là “Vân Thê Châu Hoành”, “Vân Thê Đại Sư”.

    [55] Ba tụ tịnh giới (tam tụ tịnh giới 三聚淨戒): Skt. tri-vidhāni śīlāni, 1. Nhiếp luật nghi giới (Skt. saṃvara-śīla), là giới của tại gia và xuất gia thọ trì như: 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ túc giới…; 2. Nhiếp thiện pháp giới (Skt. kuśala-dharma-sa ṃgrāhaka-śīla), tu tập các thiện  pháp…; 3. Nhiếp chúng sanh giới (Nhiêu ích hữu tình giới, Skt. sattvārtha-kriyā-śīla), đem từ tâm nhiếp thọ làm lợi ích cho chúng sanh…

    [56] Vô duyên đại từ: là từ tâm tuyệt đối, khởi lên không do bởi điều kiện nào.

    [57] Ngài Vĩnh Gia: xem cht. 17 trước.

    [58] Kinh Duy-ma (Duy-ma-cật sở thuyết) 1, T14n475, p538b01: “Trực tâm là tịnh độ của Bồ-tát”; p542c15: “Trực tâm là đạo tràng”.

    [59] Luận Khởi tín 1, T32n1666, p580c07.

    [60] Kinh Hoa nghiêm 40, T10n293, p846a21.

    [61] ibid. 40, p846a14.

    [62] Kinh Địa tạng 2, T13n412, p786c19.

    [63] Ba kinh Tịnh độ: kinh Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ (Quán kinh) và kinh A-di-đà.

    [64] Thiền sư Triệt Ngộ (1741-1810), Cao tăng Trung Quốc sống vào đời Thanh, là Tổ thứ 12 của Liên tông. Người ở Phong Thuận, tỉnh Hà Bắc, họ Mã, tên Tế Tỉnh, tự Triệt Ngộ, hoặc gọi là Nột Đường, hiệu Mộng Đông. Sư là người xiển dương Thiền Tịnh song tu; sư có trước tác Niệm Phật già-đà, Triệt Ngộ thiền sư ngữ lục.

    [65] Triệt Ngộ thiền sư ngữ lục 2, X62n1182, p347c17.

    [66] Xem cht. 24 trước.

    [67] Kinh Vô lượng thọ 2, T12n360, p273b01.

    [68] Tín vị 信位: gọi đủ là Thập tín vị, chỉ cho giai vị Thập tín trong 52 giai vị của Bồ-tát.

    [69] Kinh Hoa nghiêm 14, phẩm Tịnh hạnh, T10n279, p69b20: Bồ-tát Trí Thủ hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, “Bồ-tát làm thế nào thân, ngữ, ý ba nghiệp không lỗi lầm…, không tổn hại,… được bất thoái chuyển?…. Bồ-tát làm thế nào sinh ở chỗ đầy đủ? Chủng tộc đầy đủ?….” Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dạy, “Bồ-tát ở nhà nên nguyện chúng sanh biết nhà tánh Không để khỏi sự bức bách. Hiếu thờ cha mẹ nên nguyện chúng kính thờ chư Phật hộ dưỡng tất cả…. Nếu có bố thí nên nguyện chúng sanh có thể xả hết, lòng không ái trước.” v.v… Ngài dạy tất cả là 141 nguyện.

    [70] Luận Vãng sanh 1, T26n1524, p231b10.

    [71] Kinh A-di-đà 1, T12n366, p347a26.

    [72] Xa-ma-tha 奢摩他, Skt. Śamatha.

    [73] Tỳ-bà-xá-na 毘婆舍那, Skt. Vipaśyanā.

    [74] Vô lượng thọ kinh Ưu-ba-đề-xá nguyện sanh kệ chú 2, T40n1819, p842a15.

    [75] Không vì mình, Hán: Ngoại kỷ 外己. Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập 15, X34n638, p525b21, giải thích: “Bồ-tát trước vì người sau vì mình. ‘Ngoại’ là chúng sanh, ‘kỷ’ là tự thân. Khi Bồ-tát giáo hóa chúng sanh, thân với người, lạnh lùng với mình. Bồ-tát lấy lòng đại bi giáo hóa chúng sanh bên ngoài (ngoại) như làm việc đó cho chính mình (kỷ), nên gọi là ‘ngoại kỷ’”.

    [76] Thực tế 實際: Skt. bhūtakoṭi, chỉ cho thực chứng niết-bàn, lìa hẳn hư vọng. Ở đây ý nói Thanh văn và Duyên giác thủ chứng Thực tế, hài lòng với sự giác ngộ, giải thoát cho riêng mình. Còn Bồ-tát nhờ phương tiện thiện xảo mà biết các pháp đều Không; và cũng do phương tiện thiện xảo mà không an trụ trong chân lý tuyệt đối tịch tĩnh (không chứng Thực tế). Hoặc nói cách khác, Bồ-tát vào đời độ sanh được hộ trì bởi Bát-nhã và phương tiện. (trích dẫn “Thiền và Bát-nhã” – Tuệ Sỹ, Nxb Phương Đông).

    [77] Tác giả viết nhầm là “Cận Ảnh 近影”. Ngài Tuệ Viễn (523-592), Tuỳ Viễn…, ngài sống vào đời Tùy, người Đôn Hoàng (tỉnh Cam Túc), họ Lý. Năm 13 tuổi, ngài theo ngài Tăng Tư xuất gia. Năm 20 tuổi, theo ngài Pháp Thượng thọ giới Cụ túc… Khi Vũ đế nhà Bắc Chu diệt Tề, đồng thời cũng phá huỷ kinh tượng, ngài dũng cảm một mình đứng ra biện bác, can ngăn nhưng Vũ đế vẫn tiêu diệt Phật giáo. Ngài đành đến ẩn ở Tây Sơn quận Cấp. Đến khi nhà Tuỳ nổi lên, ngài mới ra mở đạo tràng thuyết pháp… Về sau, ngài lại xây chùa Tịnh Ảnh, chuyên việc giảng dạy, vì ngài ở chùa Tịnh Ảnh nên mọi người gọi ngài là “Tịnh Ảnh tự Tuệ Viễn”, hay “Tịnh Ảnh 淨影” để phân biệt với ngài Lô Sơn Tuệ Viễn (334-416). Ngài thị tịch năm Khai hoàng 12 (592), thọ 70 tuổi.

    [78] Ngài Tĩnh Ái 靜藹 (534-578), Cao tăng sống vào đời Bắc Chu, người Huỳnh Dương, họ Trịnh. Năm thứ 17, ngài xuất gia với Thiền sư Hòa ở chùa Ngõa Quan. Sau khi thọ giới Cụ túc, ngài theo pháp sư Cảnh học luận Đại trí độ, rồi lại theo vị Phạm tăng học tập 10 năm…. Khi Vũ đế nhà Bắc Chu nghe lời đạo sĩ Trương Tân phế bỏ Phật giáo, ngài dâng biểu can ngăn nhưng Vũ đế không nghe, ngài bèn vào núi Chung Nam ở ẩn. Đến năm đầu niên hiệu Tuyên Chính (578), ngài ngồi xếp bằng trên đá, tự cắt thịt mình rồi thị tịch, hưởng dương 45 tuổi.

    [79] Tục cao tăng truyện 8, T50n2060, p491b10.

    [80] Thập địa kinh luận nghĩa ký, 14 quyển, Tịnh Ảnh Thích Tuệ Viễn soạn (X45n753).

    [81] Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 2 quyển (cf. No. 360), Tuệ Viễn soạn thời Tùy (T37n1745, p91).

    [82] Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 2 quyển (cf. No. 365), Tuệ Viễn soạn thời Tùy (T37n1749, p173).

    [83] Trí Giả đại sư, còn gọi là Trí Khải đại sư (538-597), hay Thiên thai đại sư, Tổ khai sáng tông Thiên thai (có thuyết cho là Tam tổ, tức lấy ngài Tuệ Văn làm Sơ tổ, ngài Tuệ Tư làm Nhị tổ). Ngài sống vào đời Tuỳ, người Hoa Dung, Kinh Châu (phía Tây nam huyện Tiền Giang, tỉnh Hồ Nam), họ Trần tự là Đức An.

    [84] Pháp hoa tam-muội: Skt. saddharma-puṇḍarīka-samādhi, cũng gọi là Pháp hoa sám pháp, hay Pháp hoa sám. Pháp tu tam-muội này y cứ vào kinh Pháp hoa và kinh Quán Phổ Hiền, lấy 21 ngày làm thời hạn, hành đạo tụng kinh, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, lúc nào cũng tư duy quán xét lí thực tướng Trung đạo.

    [85] Tiền phương tiện – Phật tổ thống kỷ 6, T49n2035, p181b25, giải thích: “Đại sư vừa nhập định là tiền phương tiện, tức năm phẩm vị Quán hành”. Đại sư Trí Khải chứng ở vị Quán hành, vị Quán hành này chia ra 5 phẩm, gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị, xuất xứ từ phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa, gồm Tuỳ hỷ, Đọc tụng, Thuyết pháp, Kiêm hành lục độ và Chính hành lục độ phẩm.

    [86] Vũ Vực 禹域: Sau khi Vũ (vua nhà Hạ) trị được nạn hồng thủy (lũ lụt) thì toàn quốc phân chia thành chín châu, Trung Quốc gọi là Vũ Vực.

    [87] Tục cao tăng truyện 17, T50n2060, p567a25.

    [88] Mười Như, hay gọi là mười Như thị (十如是): Như thị tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo và Như thị bản mạt cứu cánh đẳng; nghĩa: tướng như thế, tính như thế, thể như thế, lực như thế, tác như thế, nhân như thế, duyên như thế, quả như thế, báo như thế và đầu cuối rốt ráo như thế. Nếu hành giả nắm vững 10 Như này thì có thể tìm cầu thực tướng các pháp.

    [89] Bốn bất sanh: Bốn chẳng sanh, tức 4 câu “Bất sanh” do Bồ-tát Long Thọ lập ra để hiển bày nghĩa “Các pháp không sinh”, là bất tự sinh, bất tha sinh, bất cộng sinh, bất vô nhân sinh.

    [90] Mười pháp giới: xem thêm cht. 1 trước.

    [91] Ba quán: xem cht. 46 trước.

    [92] Bốn giáo (tứ giáo): Bốn giáo do ngài Trí Khải lập, chia làm hai loại: Hóa pháp và Hóa nghi. 1. Hóa pháp tứ giáo là nội dung giáo pháp mà đức Phật đem ra giáo hóa chúng sanh, chia làm 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên; 2. Hóa nghi tứ giáo là phương thức mà đức Phật ứng dụng để dẫn dắt chúng sanh có 4 giáo: Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định.

    [93] Ba-la-đề-mộc-xoa 波羅提木叉: Skt. prātimokṣa, dịch là Xứ xứ giải thoát, Biệt biệt giải thoát… là những điều khoản Phật quy định tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni phải tuân thủ, không được làm. Nếu làm, vi phạm, cần phải sám hối.

    [94] Bốn thứ tam-muội (Tứ chủng tam-muội): Thường tọa tam-muội (tam-muội thường ngồi), Thường hành tam-muội (tam-muội thường đi), Bán hành bán tọa tam-muội (tam-muội vừa đi vừa ngồi), Phi hành phi tọa tam-muội (tam-muội chẳng phải đi chẳng phải ngồi).

    [95] Minh Chiêm 明瞻 (Minh Thiệm 明贍, 559-628): Sư ở huyện Thạch Ấp, Hằng Châu (Đông nam huyện Hoạch Lộc, tỉnh Hà Bắc).

    [96] Suốt thời Bắc triều, Thái võ đế nhà Bắc Ngụy và Võ đế nhà Bắc Chu có những hành động hủy diệt Phật giáo.

    [97] Tục cao tăng truyện 24, T50n2060, p633a21.

    [98] Bộc xạ 僕射: Tên một chức quan võ. Thời xưa lựa người có tài thiện xạ, coi như người hầu bắn giỏi của vua.

    [99] Phòng, Đỗ 房杜: là gọi chung hai danh tướng xạ tiễn thời Đường, Phòng Huyền Linh và Đỗ Như Hối.

    [100] Trong Quán vô lượng thọ kinh, đức Phật dạy phu nhân Vi-đề-hi 16 pháp quán tưởng để được vãng sanh, sư Minh chiêm đã thành tựu 12 pháp quán trong 16 pháp quán đó.

    [101] Ngài Thích Đạo Mão (565-633), Cao tăng thời Đường, người quận Ngụy (huyện An Dương tỉnh Hà Nam).

    [102] Tục cao tăng truyện 20, T50n2060, p588b03.

    [103] ibid. 20, p588b29, ghi: Vào một buổi tối, ngài đăng đàn giảng, nhưng trời tối không có đèn đuốc gì, ngài mới đưa tay lên cao, trong tay liền phát ra ánh sáng lạ kỳ, chiếu sáng cả chánh điện.

    [104] Ngài Đạo Xước (562-645) vị Tăng thuộc tông Tịnh độ đời Đường, người Vấn Thuỷ, Tinh Châu (huyện Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây). Ngài xuất gia năm 14 tuổi, sau ở chùa Huyền Trung do ngài Đàm Loan sáng lập, nhân đọc văn bia của ngài Đàm Loan mà chuyển sang tín ngưỡng Tịnh độ.

    [105] Thạch 石: đong thì 100 thăng (升) gọi là một thạch, cân thì 120 cân gọi là một thạch.

    [106] An lạc tập 1, T47n1958, p12a22.

    [107] Quán kinh 1, T12n365, p343a19: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân, nhập vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh”.

    [108] Theo Tân tu vãng sanh truyện 2, X78n1546, p163c03: Sau khi ngài Đàm Loan nói xong thì ngài Đạo Xước tiếp tục sinh hoạt như thường. Đến ngày 24 tháng 4 năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (645), ngài mới thị tịch, thọ 84 tuổi.

    [109] Hòa thượng Thiện Đạo (613-681) sống vào đời Đường, người huyện Lâm Truy tỉnh Sơn Đông (một thuyết khác cho là huyện Tứ Châu tỉnh An Huy).

    [110] Vãng sanh lễ tán kệ 1, T47n1980, p439a08.

    [111] Phật tổ thống kỷ 26, T49n2035, p263a26; Vãng sanh tập 1, T51n2072, p130p13; Tịnh độ Thánh hiền lục 2, X78n1549, p237c20 v.v…

    [112] Quán kinh tứ thiếp sớ, hay gọi Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ, Quán kinh sớ, Tứ thiếp sớ v.v…, 4 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn thời Đường (T37n1753). Nội dung sách này chú thích kinh Quán vô lượng thọ.

    [113] Quán kinh tứ thiếp sớ 4, T37n1753, p278a24.

    [114] Ba thân: xem cht. 50 trước.

    [115] Bốn độ: chỉ cho bốn cõi Phật do ngài Trí Khải tông Thiên thai thành lập: 1. Phàm thánh đồng cư độ, là thế giới vừa tịnh vừa nhiễm, ở đó thánh và phàm cùng sống chung; 2. Phương tiện Thánh cư độ, là thế giới chỉ tồn tại các Thánh nhân; 3. Thật báo trang nghiêm độ, là thế giới do quả báo chân thật từ nhân tu hành chân thật; 4. Thường tịch quang độ, là thế giới của các bậc Diệu giác.
    Bốn độ do ngài Pháp Thường, Trí Nghiễm… thành lập: Hóa tịnh độ, là cõi nước do Hóa thân cư trú, tùy tâm chúng sanh mà hóa hiện; 2. Sự tịnh độ, là cõi nước của thân Tha thọ dụng cư trú; 3. Thật báo tịnh độ, cõi này lấy Xa-ma-tha, Tỳ-bát-xa-na v.v… làm thừa, trí căn bản vô phân biệt làm dụng, cõi này do thân Tự thọ dụng cư trú; 4. Pháp tính (tánh) tịnh độ, Tịnh độ do Pháp thân cư trú.
    Bốn độ do tông Duy thức thành lập: 1. Pháp tính độ, Tự tính độ, Tự tính thân, tức Pháp thân, nghĩa là thân và độ này thể không khác nhau…; 2. Tự thọ dụng độ, tức Thật báo độ, do Phật tu tương ứng với tịnh thức mà thành tựu…; 3. Tha thọ dụng độ, cũng là Thật báo độ, Phật dùng năng lực đại từ bi, tùy theo nhu cầu của hàng Bồ-tát Thập địa mà biến hiện thành Tịnh độ…; 4. Biến hóa độ, Phật dùng năng lực đại từ bi, tùy theo nhu cầu của chúng sanh có duyên mà hóa hiện cõi Phật…, Biến hóa thân của Phật nương nơi đó mà an trụ.

    [116] Tịnh độ biến tướng: chỉ cho những bức vẽ hoặc điêu khắc miêu tả Phật, Bồ-tát, Thánh chúng và các loại trình bày cảnh trang nghiêm ở Tịnh độ. Biến có 2 nghĩa: 1. Nghĩa động, bức tranh bất động mà vẽ ra những tướng động ở Cực lạc nên gọi là biến tướng; 2. Nghĩa biến hiện, là vẽ các tướng ở Tịnh độ và làm cho các tướng ấy biến hiện…

    [117] Ba tâm: là Chí thành tâm, Thâm tâm, và Hồi hướng phát nguyện tâm.

    [118] Ba phước: 1. Thế phước, là các pháp thiện như hiếu dưỡng, trung tín, tâm từ v.v… ở thế gian; 2. Giới phước, là tam qui, ngũ giới cho đến cụ túc giới, thọ đầy đủ hay không đầy đủ, giữ đầy đủ hay không đầy đủ đều hồi hướng cho việc vãng sanh Tịnh độ; 3. Hành phước, là thiện căn của phàm phu phát tâm Đại thừa, tin nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người bỏ ác, phát nguyện vãng sanh Tịnh độ.

    [119] Ngài Khuy Cơ (632-682), Sơ tổ Pháp tướng tông Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Trường An (Tây An, Thiểm Tây), họ Uất Trì, tự Hồng Đạo. Ngài ở chùa Từ Ân nên còn gọi là Từ Ân đại sư…

    [120] Từ Ân truyện 10, T50n2053, p275b21 v.v…

    [121] Kim Lăng khắc kinh xứ: là cơ sở khắc in và phát hành kinh sách Phật giáo đầu tiên, do ông Dương Văn Hội sáng lập vào năm Quang Tự 23 (1897), tại đường Diên Linh, thành phố Nam Kinh Trung Quốc.

    [122] Pháp sư Hoài Cảm (năm sinh, mất, quê quán không rõ) thuộc tông Tịnh độ, sống vào thời Đường. Ngài ở chùaThiên Phước tại Trường An.

    [123] Bố-tát 布薩: Skt. poṣatha, upavasatha (Pāli: uposatha). Hán dịch Thuyết giới, Trưởng tịnh… Nghĩa là mỗi nửa tháng, các Tỳ-kheo cùng sống trong một cương giới đều phải tập hợp lại một chỗ để thuyết giới, tức đọc giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, để xét hành vi nửa tháng có hợp với giới bổn không, nếu phạm thì ra trước chúng Tăng sám hối…

    [124] Tống cao tăng truyện 24, T50n2061, p865a06.

    [125] Thích Hoài Ngọc (?-742), ngài sống thời Đường, ở chùa Dũng Tuyền tại Thai Châu…

    [126] Tống cao tăng truyện 24, T50n2061, p865a26.

    [127] Thích Đại Hạnh (năm sinh, mất không rõ), ngài sống thời Đường.

    [128] Tống cao tăng truyện 5, p736b15.

    [129] Ngài Tiềm Chơn (718-788) sống vào thời Đường, người ở Sóc Phương, Hạ Châu (phía Tây huyện Hoành Sơn, tỉnh Thiểm Tây), họ Vương, tự Nghĩa Chương.

    [130] Mạn-noa-la 曼拏羅: Skt. maṇḍala, cũng gọi Mạn-đà-la, Mạn-đồ-la…, dịch là Đàn tràng, Tụ tập…

    [131] Quán đỉnh 灌頂: Nghi thức rưới nước lên đỉnh đầu.

    [132] Ngài Trừng Quán (738-839) sống thời Đường, Tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm, người ở Sơn Âm, Việt Châu, họ Hạ Hầu, tự Đại Hưu.

    [133] Tướng bộ luật: một trong 3 tông y cứ theo luật Tứ phần, do ngài Pháp Lệ (569-635) sáng lập vào đời Đường. Vì ngài Pháp Lệ ở Tướng Châu (nay là huyện An Dương, tỉnh Hà Nam), cho nên gọi là Tướng bộ luật (Tướng bộ tông).

    [134] Nam sơn luật (Nam sơn tông), tên tông phái do ngài Đạo Tuyên ở núi Chung Nam sáng lập vào đời Đường.

    [135] Tử sử 子史: là Tử thư 子書 và Sử thư 史書. Tử thư như sách Lão tử, Tuân tử v.v… Sử thư như Sử ký, Hán thư v.v…

    [136] Tiểu học 小學: thời Hán gọi Văn tự học là Tiểu học, về sau đời Đường gọi là Văn tự học. Tiểu học bao gồm ba nội dung: Huấn hỗ (giải thích nghĩa chữ), Tự thư (phân biệt và qui phạm hình, âm, nghĩa chữ), Âm vận (phân biệt âm chữ và giải thích nghĩa chữ).

    [137] Thương nhã: là Tam thương 三蒼 và Nhĩ nhã 爾雅. Thời Tần Thuỷ Hoàng đốt sách, bãi bỏ chữ viết sáu nước, nên đầu đời Hán qui định phải biết 9000 chữ mới được làm quan, do đó “Thương hiệt thiên”, “Viên lịch thiên”, “Bác học thiên” trở thành sách giáo khoa học chữ của mọi người, gọi là “Tam thương”. Nhĩ nhã là tác phẩm giải thích chữ gồm 19 thiên, do các học giả đầu đời Hán biên tập.

    [138] Thiên Trúc Tất-đàm: Tất-đàm 悉曇, Skt. siddhaṃ, dịch là thành tựu. Từ gọi chung các chữ cái của tiếng Phạn. Từ thế kỷ VII về trước, văn tự Tất-đàm đã thịnh hành ở Ấn Độ. Ở Trung Quốc, thời Nam Bắc triều, văn tự Tất-đàm được các vị dịch sư truyền vào và được người Trung Quốc đón nhận học tập.

    [139] Các bộ dị chấp: tức nói về lịch sử phân chia và giáo nghĩa của 20 bộ phái Phật giáo tiểu thừa. Những tác phẩm nói đến vấn đề đó gồm “Dị bộ tông luân luận” 1 quyển, Bồ-tát Thế Hữu tạo, ngài Huyền Trang dịch thời Đường (T49n2031), “Thập bát bộ luận” 1 quyển, ngài Chân Đế dịch thời Trần (T49n2032), “Chấp bộ dị luận” 1 quyển, Bồ-tát Thế Hữu tạo, ngài Chân Đế dịch thời Trần (T49n2033).

    [140] Bản Lục thập hoa nghiêm (60 quyển, T9n278) do ngài Phật-đà-bạt-đà-la dịch thời Đông Tấn, gọi là Cựu hoa nghiêm. Bản Bát thập hoa nghiêm (80 quyển, T10n279) do ngài Thật-xoa-nan-đà dịch thời Đường, gọi là Tân hoa nghiêm (bản dịch sau [tân dịch]).

    [141] Tứ thập hoa nghiêm, 40 quyển (T10n293), do ngài Bát-nhã dịch thời Đường. Gọi đủ: Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh nhập bất tư nghị giải thoát cảnh giới Phổ Hiền hạnh nguyện phẩm, gọi tắt: Phổ Hiền hạnh nguyện phẩm… Đây là bản dịch khác của phẩm Nhập pháp giới trong hai bản kinh Hoa nghiêm 80 quyển và 60 quyển.

    [142] Pháp sư Tuệ Nhật (680-748) sống thời Đường, thuộc tông Tịnh độ, người Đông Lai (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), họ Tân. Sư thị tịch tại chùa Võng Cực, Lạc Dương, thọ 69 tuổi.

    [143] Hán: Phạn giáp 梵夾, là kinh Phật, kinh lá Bối. Kinh Phật viết trên lá Bối rồi xếp lại, hai mặt ngoài ép lại, chận lại bằng hai bản gỗ; về sau dù viết bằng chữ Phạn hay chữ Hán mà đóng thành quyển theo lối ấy đều gọi là Phạn giáp.

    [144] Ngài Phi Tích: xem cht. 36 trước.

    [145] ibid. 2, p138b14.

    [146] Ngọc Minh kha 鳴珂: Minh là kêu. Kha là một loại đá quí giống ngọc. Thời xưa, gia đình giàu có, quyền quí thường gắn loại ngọc này trên xe ngựa, khi chạy những miếng ngọc va chạm nhau phát ra âm thanh, nên gọi Minh kha.

    [147] Ngài Tuệ Viễn ở Lô Sơn, cùng Lưu Di Dân kết Bạch liên xã, và viết văn phát nguyện, trước Phật, bạch: “Con lấy Thích-ca di giáo, biết có Phật A-di-đà. Đốt hương này trước cúng dường Thích-ca Như Lai, lại cúng dường Phật A-di-đà, sau cúng dường Phật, chúng Bồ-tát trong hội Pháp hoa…” (Long thư tăng quảng tịnh độ văn 5, T47n1970, p266a13).

    [148] Ngài Thừa Viễn (712-802) sống thời Đường, người ở Hán Châu (huyện Quảng Hán, tỉnh Tứ Xuyên), họ Tạ.

    [149] Phật tổ thống kỷ 26, T49n2035, p263c05; Phật tổ lịch đại thông tải 15, T49n2036, p617c17…

    [150] Nghi thức này thường lựa chọn một số vị xuất gia, tại gia có giọng hay, tiếng tốt tập họp lại, chia làm 5 hội, dựa theo 5 âm điệu cao thấp, nhanh chậm mà niệm Phật…

    [151] Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán (Ngũ hội pháp sự tán) 2, T47n1983, p488c29.

    [152] Ngài Pháp Chiếu, năm sinh, mất không rõ, sống thời Đường.

    [153] Ngũ hội pháp sự tán 1, p475a03.

    [154] Hán: Kết châu chi giáo 髻珠之教.

    [155] Ngoan không 頑空: chỉ cho vô tri vô giác.

    [156] Bát-chu: là một loại định hành, gọi đủ Bát-chu tam-muội (般舟三昧, Skt. pratyutpanna-samādhi), hay Thường hành tam-muội, Chư Phật hiện tiền tam-muội v.v…. Tu hành tam-muội này trong một thời gian nhất định (từ 7 ngày đến 90 ngày) sẽ thấy được chư Phật.

    [157] Ngũ hội pháp sự tán 1, p476c04 ghi: “Bảo điểu tán, Duy-ma tán, Tướng hảo tán, Ngũ hội tán, Tịnh độ lạc tán v.v…” Những bài tán này dựa vào mỗi kinh mà viết thành, như Bảo điểu tán dựa vào kinh A-di-đà, Duy-ma tán dựa vào kinh Duy-ma, Tướng hảo tán dựa vào kinh Tướng hảo v.v…

    [158] Tống cao tăng truyện 25, T50n2061, p867b12; Phật tổ thống kỷ 26, T49n2035, p264a26 v.v…

    [159] Thích Thiếu Khang (?-805), ngài sống thời Đường, Tổ thứ 5 tông Tịnh độ.

    [160] Hán: Phù cừ 芙蕖.

    [161] Ngài Diên Thọ (904-975) là Tổ thứ 6 tông Tịnh độ. Ngài sống cuối đời Đường và đầu đời Ngũ Đại. Người huyện Dư Hàng, phủ Lâm An, tỉnh Chiết Giang, họ Vương, tự Trọng huyền, hiệu Bảo nhất tử.

    [162] Tứ liệu giản 四料簡: Liệu giản còn gọi là Liễu giản, Lượng giản v.v… nghĩa là khéo phân biệt, lựa chọn chánh pháp. Từ ngữ này thấy rải rác trong các bộ phái, nhưng cách dùng và ý nghĩa lại không giống nhau. Riêng ngài Diên Thọ làm 4 bài kệ để khai thị cho những người còn ngờ vực giữa Thiền và Tịnh độ.

    [163] Pháp sư Tỉnh Thường (956-1020) sống thời Tống, là Tổ thứ 7 của Liên tông.

    [164] Đông Lâm là ngôi chùa nơi truyền pháp của ngài Tuệ Viễn, Sơ tổ tông Tịnh độ.

    [165] Pháp sư Tri Lễ (960-1028) thuộc tông Thiên thai, sống thời Bắc Tống.

    [166] Diệu tông sao 1, T37n1751, p195b13.

    [167] Y, Chánh: là Y báo và Chánh báo. Chánh báo là chính thể quả báo cảm được tùy theo nghiệp thiện ác ở quá khứ mà sinh làm người, hay súc sinh. Y báo là chỉ cho quả báo tùy theo Chánh báo mà được chỗ ở tương ứng. Hay nói cách khác Y báo là chỉ cho quốc độ thế gian, Chánh báo là chỉ cho chúng sanh.
    Trang nghiêm, Skt. vyūha, Pāli: byūha, alaṃkāra, là sự sắp xếp, bố trí, trang hoàng… Theo Vô lượng thọ kinh Ưu-ba-đề-xá của ngài Thế Thân thì Tịnh độ của đức Phật A-di-đà có 3 thứ trang nghiêm là Quốc độ, Phật, và Bồ-tát.

    [168] Ngài Tuân Thức (964-1032), thuộc tông Thiên thai, sống vào đời Tống. Năm đầu niên hiệu Càn Hưng (1022), vua Chân Tông ban cho ngài hiệu “Từ Vân”, và do ngài soạn nhiều Sám nghi nên người đương thời gọi ngài Từ Vân sám chủ…

    [169] Vãng sanh tịnh độ quyết nghi hạnh nguyện nhị môn 1, T47n1968, p145b10.

    [170] Thiền sư Tông Trách, năm sinh, năm mất không rõ, là danh Tăng Thiền-Tịnh song tu, sống thời Tống.

    [171] Lạc bang văn loại 2, T47n1969A, p177c19; Long thư tịnh độ tăng quảng tịnh độ văn 11, T47n1970, p284a27 v.v…

    [172] Hán: Kiếp-ba 劫波, Skt. Kalpa, dịch là Phân biệt thời phần v.v… Đơn vị thời gian không thể tính đếm bằng năm tháng.

    [173] Năm tướng suy của người cõi trời hiện trên thân thể khi tuổi thọ sắp hết: 1. Hoa trên mũ héo úa; 2. Dưới nách ra mồ hôi; 3. Áo quần dơ bẩn; 4. Mất vẻ uy nghi và thường chớp mắt; 5. Không thích ngồi chỗ cũ và có cử chỉ suồng sã với ngọc nữ.

    [174] Thiền sư Tông Bổn (1020-1099) sống thời Bắc Tống.

    [175] Phật tổ thống kỷ 14, T49n2035, p221c08.

    [176] Ngài Tông Lợi (1055-1144) là cao Tăng tông Tịnh độ thời Bắc Tống.

    [177] Thiền sư Cảnh Long (1393-1444) sống thời Minh.

    [178] Hòa thượng Ưu-đàm (?-1330), tức ngài Phổ Độ, sống vào đời Nguyên, người Đơn Dương (huyện Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), họ Tưởng. Do Hòa thượng soạn Liên tông bảo giám (10 quyển) để phục hưng Liên tông nên người đời tôn là “Ưu-đàm tông chủ”…

    [179] Thích giám kê cổ lược tục tập 3, T49n2038, p952c21; v.v…

    [180] Ngài Châu Hoành (1532-1612) sống thời Minh. Ngài trú tại một ngôi chùa ở núi Vân Thê, tại Hàng Châu nên người đời còn gọi ngài là Hòa thượng Vân Thê.

    [181] Câu này, Dịch giả dịch theo nguyên tác. Một số tư liệu trong Tục tạng ghi chép câu này không nhất quán, như Tịnh độ toàn thư 2, X62n1176, p171a12, Bổ tục cao tăng truyện 5, X77n1524, p401a14 v.v… ghi “Phần hương trịch kích hồn như mộng 焚香擲戟渾如夢 (Đốt hương, liệng kích dường như mộng).” Trong Giác hổ tập 2, X62n1177, p226a12, Tục chỉ nguyệt lục 20, X84n1579, p152a21 v.v… ghi “Phần hương trịch kích hồn nhàn sự 焚香擲戟渾閒事 (Đốt hương, liệng kích việc nhàn hạ).”

    [182] Thiền sư Tề Kỷ nghe có người đọc hai câu kệ của ngài Thiện Đạo “Duy có đường tắt tu hành; chỉ niệm Phật A-di-đà”. Thiền sư mới bảo: “Vẫn còn quanh theo lối cũ, niệm được cái gì?”, ngài lại nói tiếp: “Y như trước bỏ cha trốn đi, lưu lạc tha phương, khổ thay! Phật A-di-đà”. Ý ngài muốn khai thị cho những người niệm Phật mà tâm còn tham, sân, si, thì vẫn như cũ. Vì còn tham, sân, si nên bị ngăn cách với Phật (bỏ cha trốn đi) và bị đọa vào trong sáu nẻo (lưu lạc tha phương). Khổ cho đức Phật A-di-đà đã vì chúng sanh, phát 48 lời nguyện… (khổ thay! Phật A-di-đà).

    [183] Lão hủ 老朽: ông già lụ khụ, cổ lỗ sĩ; cách xưng hô khiêm hạ.

    [184] Xem cht. 182 trước.

    [185] Vương học: Vương Thủ Nhân (1472-1528), triết học gia đời Minh, tự Bá An, hiệu Dương Minh, người ở Dư Diêu, Chiết Giang. Ông đã tập thành tư tưởng Tâm học, kế thừa Tâm học duy tâm chủ quan của Lục Cửu Uyên (1139-1193, triết học gia thời Nam Tống), coi tâm là gốc, nhận rằng “Ngoài tâm không có vật nào nữa”, “Ngoài tâm không có lý nào khác”. Hình thành môn phái “Vương học”, “Dương Minh” suốt một thời gian dài hơn 150 năm.

    [186] Bài Đường thi này, ngài Liên Trì đưa vào Vân Thê tịnh độ vựng ngữ quyển 1 (do Ngu Chấp Tây, Nghiêm Bội Tây chép thời Thanh), Tục tạng 62 (X62n1170, p13c02).

    [187] Chân Yết thiền sư: là Chân Yết Thanh Liễu (1809-1151), thuộc tông Tào động đời Tống.

    Pháp Tạng PGVN Thích Quảng Hạnh Thích Tâm Nhãn Tịnh Độ Tông khái luận
    Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
    Previous ArticleThích Nhuận Châu biên dịch: Nhập Trung Quán Luận
    Next Article Huỳnh Kim Quang: Đọc Tuyển tập Giải Văn học Hương Pháp: Hiệu quả thực nghiệm Phật Pháp trong đời sống

    Xem thêm

    Thích Nhuận Giác: Các loại hình Tịnh độ trong Phật giáo Đại thừa

    16/04/2026

    Thích Nhuận Châu: Nét đặc trưng tư tưởng của Thiền phái Liễu Quán

    02/01/2026

    Tâm Nhãn: Tuệ Sỹ và Dịch Lý

    28/11/2025
    Add A Comment
    Leave A Reply Cancel Reply

    Bài mới

    Đạo Sinh: (LUẬN CÂU-XÁ) Chương 8: Phân biệt định [Phần 27]

    02/06/2026

    Nguyệt san Chánh Pháp số 175 | tháng 6.2026

    02/06/2026

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Paul Dahlke | Đỗ Kim Thêm dịch: Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 

    29/05/2026

    Lãng Thanh: Tháng năm hoa tràn đồng

    28/05/2026

    Vĩnh Hảo: Chọn bạn

    28/05/2026

    Thích Nhuận Châu: Đức Phật đản sanh qua Phật Sở Hành Tán của Mã Minh

    26/05/2026

    Thích Chúc Xuân: Đức Phật ra đời: Thắp sáng An lạc, Bình đẳng và Hòa bình

    21/05/2026

    HĐGPTƯ. GHPGVNTN: Thông điệp Phật đản PL. 2570 – DL. 2026

    17/05/2026

    Thích Nhuận Châu: Tóc Phật

    16/05/2026
    Mạng xã hội
    • Facebook
    • Twitter
    • Pinterest
    • Instagram
    • YouTube
    • Soundcloud
    Website Phật giáo

    Hội Đồng Hoằng Pháp | GHPGVNTN

    Phật Giáo Úc Châu

    Viên Giác Pagoda

    Quảng Ðức Homepage

    Thư Viện Hoa Sen

    Làng Mai

    Hoa Vô Ưu

    Hương Tích Phật Việt

    Đạo Hy

    Chung Huong Institute

    GÐPTVN Trên Thế Giới

    GÐPT Việt Nam (Quốc nội)

    Sen Trắng | BHD GĐPTVN tại Hoa Kỳ

    Copyright © 2026 | Phật Việt tùng thư
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc

    Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.