ky su

Thích Tố Liên: Ký sự phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Ấn Độ

1. DUYÊN KHỞI

Ngày 23 tháng 5 năm 1950. Phủ Thủ Hiến Bắc Việt gửi công văn đến Hội Phật Giáo, yêu cầu cử lấy một vị Tăng sĩ gia nhập Phái đoàn Phật giáo Việt Nam sang Ấn Độ. Nguyên văn bức thư ấy như sau:

PHỦ THỦ HIẾN BẮC VIỆT
Phòng Xã Hội – Kinh Tế                                  Hà nội, ngày 23-3-1950
Số 3806/XH/KT                                                THỦ HIẾN BẮC VIỆT

   Kính gửi: Ông Hội trưởng HỘI VIỆT NAM PHẬT GIÁO HÀ NỘI

Thưa Ông,
Chính phủ sẽ cử một Phái đoàn Phật giáo Việt Nam qua Ấn Độ trước tháng 5 năm 1950 này. Trong Phái đoàn sẽ có người thông ngôn Anh ngữ và hiểu biết đạo Phật.
Vậy xin ông lựa chọn một vị Sư có học vấn xứng đáng để gia nhập Phái đoàn ấy và trả lời ngay tôi biết.Vị sư này sẽ khởi hành vào Sài gòn trong thượng tuần tháng tư Dương lịch. Lẽ dĩ nhiên là Chính phủ chịu hết mọi khoản chi phí.

Kính thư
NGUYỄN HỮU TRÍ

Ký giả được xem công văn này trước nhất, liền cho mời Ông Viên Quang là Tổng thư ký của Hội Việt Nam Phật giáo đến bàn việc triệu tập Hội đồng để thảo luận việc quan trọng đó. Nhưng đến buổi họp thì ký giả chẳng may vừa bị cảm nặng, nhân có Cụ BÙI THIỆN CƠ, Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo đến thăm, bèn dặn với Cụ rằng: “Nếu Hội đồng có cử đến tôi, thì nhờ Cụ cố từ chối cho, vì tôi mới bị bệnh, hơn nữa còn bận nhiều công việc”. Sau buổi họp đó, Cụ BÙI THIỆN CƠ và Cụ TRẦN VĂN ĐẠI lại đến phòng bệnh cho biết rằng: “Hội đồng đã đề cử một vài vị Thượng toạ, nhưng các Ngài đều viện cớ rằng: Thượng toạ là Hội trưởng Hội Tăng Ni Bắc Việt lại là Phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo, phải lấy tư cách ấy mà ứng phó với thơ mời của Chính phủ để gia nhập Phái đoàn Phật giáo Việt Nam thì đối với cả trong Thuyền gia lẫn người ngoài Thiện tín mới được danh chính ngôn thuận. Vì thế mà Hội đồng Quản trị chúng tôi đã ấn định thỉnh Thượng toạ, nếu Thượng toạ lại cố từ chối nữa, chẳng hoá ra Phật giáo Việt Nam vô nhân đối với cuộc Hội nghị Phật giáo Quốc tế này hay sao?” Ký giả tiếp lời: “Đã đành thế, nhưng tôi còn e việc đi đây, không khéo ra thì dính vào Chính trị. Chắc các Cụ cũng đã nhận thấy trong gần 20 năm nay, tôi ra đây theo đuổi công việc chấn hưng Phật giáo, chỉ dấn thân thẳng tiến với mục đích thực hiện tôn chỉ tự giác giác tha, của Phật Tổ là những việc Phật học, việc truyền bá, với việc từ thiện, cứu thế, ngoài ra, không nghiêng ngả theo một phe đảng chính trị nào, mặc dầu nhiều khi bị dụ dỗ áp bức. Nếu trước đây tôi đã đi theo con đường chính trị hay phái đảng, có lẽ tính mệnh tôi không còn đến ngày nay, hay có còn sống cũng chẳng còn ở chùa Quán Sứ này nữa. Vả lại tôi là người tu theo Tôn chỉ Đại thừa Phật giáo không bao giờ được phép ghét bỏ một việc gì về thế gian nếu là việc có ích chung cho xã hội. Tôi chỉ có một điều ước mong đừng làm cho con đường Phật giáo bị tối tăm, để cho mọi người đã chót lầm lỡ đi theo con đường ấy bị va chạm, vấp ngã, đau đớn, rồi biết hối lại mà quay về với con đường sáng suốt của Phật giáo. Nhưng thôi, Hội ta hãy trả lời Ngài Thủ Hiến Bắc Việt là cử tôi gia nhập Phái đoàn Phật giáo, còn đi hay không, để khi vào Nam Việt được gặp Thủ tướng hoặc Bộ Ngoại giao tôi sẽ trình thực rằng Phật giáo không bao giờ dính vào Chính trị, nếu cần, tôi chỉ đi theo phạm vi Phật sự. Nếu được ưng thuận thì tôi sẽ đi, nhược bằng không, thì sẽ trở về”.

Cách mấy hôm sau tôi khỏi sốt, cùng với cụ Hội trưởng ra tiếp kiến Ngài Thủ hiến Bắc Việt để yêu cầu gởi thư trả lời Bộ Ngoại giao và xin đề cử ông VÕ ĐÌNH CƯỜNG là một nhân viên Hội Phật học HUẾ cùng đi, là vì ông Cường có am hiểu Phật pháp và lại nói được tiếng ANH nữa.

Ngài Thủ hiến thấy tôi nhận lời đi lấy làm vui vẻ; Chúng tôi ra về. Cách mấy hôm sau, Phủ Thủ hiến lại gửi bản sao bức thư của Ngài đề nghị với Bộ Ngoại giao cử tôi xung phái đoàn Phật giáo. Dưới đây là nguyên văn bức thư đó:

PHỦ THỦ HIẾN BẮC VIỆT
Số 2923/VP/THP Hà nội, ngày 3-4-1950

Trích yếu:
Phái đoàn Phật giáo THỦ HIẾN BẮC VIỆT đi Ấn Độ
Kính gởi Ông Tổng trưởng Bộ NGOẠI GIAO SÀI GÒN

Trả lời quý Công văn số 96/MAE/CAB ngày 18-3-1950, tôi đề nghị cử Cụ Thượng toạ Tố Liên, phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo xung vào Phái đoàn Phật giáo Việt Nam qua Ấn Độ.

Cụ Thượng toạ Tố Liên là một vị tu hành, học lực uyên thâm, hiểu thấu đạo Phật, rất hoạt bát và là một vị cao cấp của Phật giáo, rất có uy tín đối với dân chúng và có thể đại diện Phật giáo Việt Nam để đàm đạo với ngoại quốc.

Thượng toạ Tố Liên có ngỏ ý xin Ông Võ Đình Cường ở Hội Phật học Huế, biết nói tiếng Anh, hiểu biết đạo Phật đi theo làm thông ngôn, sẽ giúp được nhiều việc.


NGUYỄN HỮU TRÍ

Thư này đến độ ngót một tháng mới lại tiếp được thư chính thức cử tôi xung Trưởng Phái đoàn Phật Giáo Việt Nam. Dưới đây là nguyên văn bức thư đó:

PHỦ THỦ HIẾN BẮC VIỆT
Phòng Xã Hội – Kinh Tế                                  Hà nội, ngày 21-4-1950
Số 3655/VP/THP                                             THỦ HIẾN BẮC VIỆT

THỦ HIẾN BẮC VIỆT
Kính gửi Thượng toạ TỐ LIÊN
Phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật Giáo
73, Phố Quán Sứ – HÀ NỘI

Thưa Thượng Toạ,

Tôi xin trân trọng báo tin để Thượng toạ biết, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã quyết định cử Thượng toạ làm Trưởng Phái đoàn Phật giáo Việt Nam qua Ấn Độ..

Vậy xin kính mời Thượng toạ quá bộ lại Phủ Thủ Hiến để tôi được tiếp chuyện trước khi Thượng toạ khởi hành vào Sài Gòn.

Thừa ủy nhiệm Thủ Hiến Bắc Việt
Chánh văn phòng
Ký tên: Không rõ.

Thế là ký giả ấn định khởi hành ngày 11 tháng 3 năm Canh Dần (1-5-50). Hội Việt Nam Phật giáo có sửa tiệc trai tiễn hành trước ngày đăng trình một hôm. Đến dự có: TỔ TỊNH, chủ sự chùa BÀ Đá với hầu hết các cụ, Thượng toạ TĂNG, NI ở Hà Nội cùng nhân viên Ban Quản trị với rất đông các Giáo hữu Hội Việt Nam Phật Giáo. Quan cảnh trai đường Chùa Quán sứ hôm ấy thật là tưng bừng vui vẻ. Cụ BÙI THIỆN CƠ và Cụ HOÀNG ĐẠO THẮNG có vịnh thơ tiễn ký giả như sau này:

Tăng già gặp được bước ngày nay,
Cưỡi gió, chim bằng thẳng cánh bay,
Đất Phật có duyên thì mới gặp,
Cơ trời đã đến phải ra tay.
Gắn tinh thần- thiện bang- giao mới,
Gắng sức thu-hồi giáo-pháp hay.
Theo bước Đường-Tăng đời thủa trước,
Việt Nam Phật Giáo cũng thơm lây.
BÙI THIỆN CƠ

KỶ NỆM THƯỢNG TỌA TỐ LIÊN SANG ẤN ĐỘ

Bể Nam nay mới nẩy bông sen,
Mừng cuộc Tây Du Cụ Tố Liên.
Ướp lấy mùi sen vườn Thất Bảo,
Thu về ánh sáng cõi Tam Thiên.
Móc mưa tô điểm mầu hoa mới,
Cây có vui chào mặt khách quen.
Muôn dậm cánh hồng chiều gió thuận,
Chúc mừng mọi sự được như nguyền.
Đường thì TAM TẠNG, Hán TRƯƠNG KHIÊN,
Nam Việt ngày nay Cụ Tố Liên,
Vì việc nước nhà đi phỏng đạo,
Nhân sang nước Phật để tham thuyền.
Mong bồi cỗi gốc nền Tôn Giáo,
Mừng gặp anh em cõi Phạm Thiên.
Trân trọng mấy lời xin kính tặng,
Chúc câu Không, Lực, Tịnh, Khinh, An.
HOÀNG ĐẠO THẮNG

Bình nhật không bao giờ tôi dám có mộng tương ví với Đường Tăng, nhưng nay các cụ đã có câu ví với Thánh Tăng thứ nhất của đời Thịnh Đường, cho nên tôi cũng cảm hứng vịnh bài Trộm tỷ với Đường Tăng:

Cùng sang Tây Trúc thỉnh kinh vàng,
Thánh trước, phàm sau vẫn một đàng,
Thánh muốn dânTrung soi Đuốc Tuệ,
Phàm mong đất Viêt cấy hoa Đàm.
Thánh mang sứ mệnh lên Linh Thứu,
Phàm vị Tăng Gia tới Phật Tràng,
Đất Việt đương cơn mưa khói đạn,
Thánh phù công dụng giúp quê hương.

 

2. TỪ BẮC VÀO NAM ĐỂ VẠCH RÕ NHIỆM VỤ

 

Ngày 11-5-50. – Hồi mặt trời gần đúng ngọ, Ông THẨM HOÀNG TÍN, Thị trưởng Hà nội, ngồi xe trưng quốc kỳ Việt Nam đến chùa Quán Sứ đón chúng tôi. Ba ô tô của Chính Phủ đồng thời cùng đến để đưa các Cụ Thượng toạ và nhân viên Hội Phật Giáo đi tiễn. Tôi cùng Ông THẨM HOÀNG TÍN còn đương mãi bàn việc hội Bảo Trợ đồng bào hồi cư, bỗng thấy ô tô ngừng bánh tại cửa sân Trường bay Gia Lâm, thì xe Ông HOÀNG THÚC ĐÀM, Phó Đổng lý Văn Phòng Phủ Thủ Hiến Bắc Việt cũng vừa đến. Sau những lời chào, Ông HOÀNG THÚC ĐÀM liền trao tôi một phong bì và nói: Số tiền hai nghìn đồng (2000$00) đây là của ngài NGUYỄN HỮU TRÍ, Thủ Hiến Bắc Việt tiễn Thượng Toạ. Trước mặt mọi người, tôi thấy làm ngần ngại, vì hôm qua Hội Tăng Ni Bắc Việt và Hội Việt Nam Phật Giáo với các giáo hữu có tặng số tiền khá lớn, tôi đều chối từ không lấy. Bây giờ lại nhận món tiền của Ngài Thủ Hiến e có điều gì bất tiện chăng? Đối với người đi xa mà ai chẳng cần tiền. Nhưng hãy cân nhắc xem nhận có được hợp nghĩa không đã. Ừ, như hôm qua từ là phải, vì đã là yếu nhân của hai Hội, thì sự đi về việc đạo có ích chung, ngoài số tiền của Chính phủ trợ cấp về lộ phí, còn muốn mua sắm kinh sách về làm tài liệu cho Phật Giáo, lẽ cố nhiên công quỹ của hai Hội phải chịu, chứ hà tất phải nhận tiền tặng. Đến như món tiền của Ngài Thủ Hiến Bắc Việt tặng, là món tặng sứ mệnh Phật Giáo, mình không được phép chối từ. Nghĩ vậy tôi liền gửi lời cảm ơn Ngài Thủ Hiến Bắc Việt và nhận lấy phong bì tiền, lại cùng nhau đàm đạo cho đến 13 giờ 30 mới cùng các Ngài chia tay để lên máy bay vào Nam Việt.

Đến nơi, xuống trình giấy tờ xong, đã thấy Ông NGUYỄN NHƯ HUÊ, Chánh Văn Phòng Bộ Ngoại Giao với Ông MAI THỌ TRUYỀN, Đồng lý Bộ Nội Vụ đón tôi lên xe về Bộ Ngoại giao.

Ông MAI THỌ TRUYỀN nói với tôi: Bộ Ngoại Giao đã ủy Ông HUÊ sắp đặt tất cả giấy tờ giao cho Phái Đoàn Phật Giáo. Ông HUÊ nối lời Ông TRUYỀN:

“Bộ Ngoại giao đã dành riêng cho Phái đoàn một căn nhà công của Bộ. Vậy xin Thượng toạ về đó nghỉ để chờ các đoàn viên đến đủ cả sẽ lấy giấy tờ”. Tôi nói: “Trân trọng cảm ơn Quý Bộ”. Tôi còn nói thêm rằng:

“Hiện giờ các đoàn viên chưa ai tới, tôi hãy xin về nghỉ ở chùa PHẬT ẤN, lúc nào các đoàn viên đến đủ hãy cho tôi biết, để còn ấn định rõ con đường đi của Phái đoàn Phật giáo”. Lúc đó Ông HUÊ liền chỉ vào cụ già chừng 60 tuổi, dáng người vui vẻ, nhã nhặn, hỏi tôi rằng: “Thượng toạ có biết Cụ ĐỖ HÙNG không?” – Tôi biết tiếng đã lâu, nhưng chưa có hân hạnh được gặp Ngài Thủ hiến Bắc Việt có cho tôi biết, trong Phái đoàn Phật giáo sẽ có Cụ HÙNG. Tôi vừa rất lời, Cụ HÙNG vui vẻ đứng dậy với một giọng thong thả: “Bạch Thượng toạ, tôi đây chính là ĐỖ HÙNG”. Tôi đứng dậy chào rồi lại cùng ngồi. Tôi nói với Cụ HÙNG: “Chắc các Cụ hiểu nhiều về Phái đoàn Phật giáo, vậy xin Cụ cùng đi Ấn Độ với chúng tôi”. Cụ HÙNG nói: “Nếu có tôi đi, người ta sẽ cho Phái đoàn Phật giáo đi về chính trị. Và cứ thư của Ngài Thủ Hiến Bắc Việt tiến cử Thượng toạ mà tôi đã được xem thì Thượng toạ lĩnh nhiệm vụ Trưởng Phái đoàn là đủ”. Lúc đó đã gần hết giờ làm việc, nên tôi phải xin hoãn việc bàn định, rồi ai nấy đều ra về.

Tôi ở Chùa Phật Ấn có ba vị Cư sĩ đến phỏng vấn:

HỎI: – Phái đoàn Phật giáo VIỆT NAM đi ẤN ĐỘ có liên can gì tới chính trị không?

ĐÁP: – VIỆT NAM ta có linh 18 triệu dân hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp theo Phật giáo. Vậy thì Phái đoàn Phật giáo chúng tôi đi đây, nếu được thành công với nhiệm vụ nối lại dây tinh thần Phật giáo giữa VIỆT-ẤN có đã gần 2000 năm, như thế tuy không can đến chính trị hiện thời, nhưng cũng vì dân tộc gây cuộc hòa hảo bằng tôn giáo. Huống hồ còn rước hồn đạo đức thuần túy về cảm hoá nhân tâm, cải thiện đời sống tinh thần tức là bổ cứu tình thế rối ren giữa lúc này, như thế chả là âm phù chính trị gây hòa bình cho dân tộc chúng ta ư!”

Sáng ngày 28 – Công xa đón tôi đến Bộ Ngoại giao để gặp các đoàn viên, trong đó có Cư sĩ VÕ ĐÌNH CƯỜNG với ông PHẠM CHỮ là thông ngôn Anh ngữ của Bộ Ngoại giao được cử vào Phái đoàn, giữ nhiệm vụ thông ngôn. Trong Phái đoàn còn có Đại đức THẠCH BÍCH, ăn vận theo lối Thầy tu CAO-MÊN. Tôi đã lấy làm không ưng, nhưng cho rằng, để sau khi nhiệm vụ của Phái đoàn Phật giáo được định đoạt xong rồi sẽ hỏi. Tôi liền mời Cụ ĐỖ HÙNG và Ông HUÊ cùng đến trụ sở có đủ nhân viên Phái đoàn. Tôi hỏi: “Xin các Ngài đại diện Bộ Ngoại giao cho biết Phái đoàn Phật giáo chúng tôi được biết hiện giờ chúng tôi có cần gặp Cụ NGUYỄN PHAN LONG, Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Ngoại giao để bày tỏ với Ngài về nhiệm vụ khi đến ẤN ĐỘ không?

Cụ ĐỖ HÙNG trả lời: “Nội các thủ tướng LONG đương thay đổi, có nhiều việc bận rộn, nên Thủ tướng LONG đã ủy chúng tôi tiếp xúc với Thượng toạ, tôi tin rằng: Thượng toạ đã lãnh Trưởng phái đoàn cố nhiên là có sẵn chương trình, xin cho chúng tôi biết đại lược”.

Ký giả nói: Riêng tôi nghĩ, Phái đoàn Phật giáo đi đây là do Chính phủ cử. Nhưng Phái đoàn Phật giáo chúng tôi chỉ theo với một mục đích là nối lại dây tinh thần văn hoá Phật giáo giữa VIỆT NAM – ẤN ĐỘ và các nước, sẽ theo chương trình sau này: Bắt đầu đến chùa hội quán Hội ĐẠI BỒ ĐỀ (Maha Bohhdi) ở CALCUTTA là Thủ đô cũ của ẤN ĐỘ, sẽ nhờ Hội đó tổ chức cuộc nói chuyện về Phật giáo VIỆT NAM đã có một lịch sử sâu xa, kế đến đi chiêm bái các nơi Phật tích để chứng minh thêm được phần nào của lịch sử Phật giáo ẤN ĐỘ và thăm các cơ quan và thăm các cơ quan Phật giáo lớn hiện có ở ẤN ĐỘ, trong dịp đó sẽ chuyển hòm sách trong có những tác phẩm quý nhất của Phật giáo VIỆT NAM do HỘI VIỆT NAM PHẬT GIÁO kính biếu Chính phủ ẤN ĐỘ để mở đường thân thiện với dân tộc ẤN ĐỘ và mua các kinh sách về Phật giáo làm tài liệu cho Phật giáo nước nhà. Sau sẽ sang TÍCH LAN dự Hội nghị Phật giáo thế giới khai mạc vào 25-5-1950 này, để góp mặt với Phật giáo Quốc tế sáng lập Hội Phật giáo thế giới theo với chương trình nghị sự của ban tổ chức Hội nghị đã định. Vả lại, TÍCH LAN là nơi trung tâm điểm của Nam phương Phật giáo, hơn nữa Phật giáo hiện tại là Quốc giáo của TÍCH LAN có rất nhiều di tích quan trọng về Phật giáo, cần phải khảo sát để về làm tài liệu cho nền tín ngưỡng đạo đức của nứơc nhà. Nếu còn thì giờ lại về DIẾN ĐIỆN và XIÊM LA cũng không ngoài mục đích khảo sát tình hình Phật giáo.

Như vậy thì chúng tôi đi đây chỉ là Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chứ không phải là Phái đoàn Phật giáo do Chính phủ cử đi, để tránh dị nghị là Phái đoàn Phật giáo đi làm chính trị, nếu Phái đoàn Phật giáo chúng tôi chỉ đi với những nhiệm vụ ấy, thì tôi mới dám nhận đi với trách nhiệm Trưởng Phái đoàn Phật giáo Việt Nam.

Cụ ĐỖ HÙNG trả lời: “Chính phủ cử Phái đoàn Phật giáo với mục đích đúng như Thượng toạ vừa nói, với nhiệm vụ ấy mà làm được chu đáo giữa lúc này, chả là bổ ích ư?

Tôi lại nêu đến vấn đề Đại đức THẠCH BÍCH ra hỏi:

“Chư Tăng Việt Nam thiếu gì, mà phải cử vị tăng Cao-Mên vào Phái đoàn Phật giáo Việt Nam? Mặc dầu là Phật giáo không phân mầu da, không phân chủng tộc, là vì quốc thể, tôi nhận thấy nếu Phái đoàn Phật giáo Việt Nam lại có vị Tăng Cao Miên, người ta có thể tưởng là Phái đoàn Phật giáo Việt Mên hay là Phái đoàn Phật giáo Liên bang Đông Dương, đó là một điều cần phải tránh giữa lúc này”.

Cụ HÙNG trả lời: “Chính phủ định cử một vị Tăng làm đại diện cho dân tộc thiểu số, Đại đức THẠCH BÍCH đây, chính là người được cử vào nhiệm vụ ấy”.

Ông HUÊ nói tiếp: “Đối với danh nghĩa Phái đoàn Phật giáo Việt Nam mà Thượng toạ đề phòng dị nghị như thế là phải lắm. Chính tôi hôm qua thấy Đại đức THẠCH BÍCH cũng đã thắc mắc mà hỏi, thì người trả lời: “Tôi vốn người Việt, vì xuất gia tu theo với chư Tăng Cao-Mên, nên phục sức theo lối Cao-Mên”. Ông HUÊ lại tiếp: “Xin giao Thượng toạ bản khai lý lịch của Đại đức THẠCH BÍCH, trong đó đã khai là Quốc tịch Việt Nam để đề phòng dị nghị về sau”. Ông VÕ ĐÌNH CƯỜNG nói: “Thượng toạ cầm lấy tờ khai lý lịch của Thầy THẠCH BÍCH là đủ rồi để cho người đi”.

Ông CƯỜNG nói đoạn, liền đưa bức gia thư của nhà Ông gửi vào. Chúng tôi xem thư, ai nấy đều ngẩn người ra, trong thư nói thân mẫu Ông CƯỜNG bị mệt nặng lắm, bắt buộc Ông phải về HUẾ ngay, vì Ông là con một. Chúng tôi không dám ép Ông CƯỜNG đi, e Bà cụ có về chầu Phật, thì Ông CƯỜNG sẽ phải hối hận suốt đời về chữ hiếu của Ông, nhất là một Phật tử như Ông lại càng cần phải giữ trọn chữ hiếu lắm. Chúng tôi rất tiếc là thiếu ông VÕ ĐÌNH CƯỜNG trong Phái đoàn Phật giáo Việt Nam này.

 

3. TỪ NAM ĐẾN ẤN ĐỘ

 

Đúng 5g30 sáng, Ông MAI THỌ TRUYỀN đi ô tô của Bộ Ngoại giao đến đón Phái đoàn và Cụ PHẠM VĂN VI đi tiễn chúng tôi. Ra tới trường bay thì xe Cụ HÙNG cũng vừa tới. Ông PHẠM CHỮ đi cân hành lý, chúng tôi cùng nhau đàm đạo mãi cho tới 7g30 mới chia tay.

Chúng tôi lên máy bay cũng như mọi lần, sau khi máy bay cất cách, một người đàn bà Pháp làm công cho Hãng đến đưa cho ít bông để đút nút tai, phòng khi lộng óc, lại còn phải kéo dây da ở ghế quàng vào mình, phòng khi lộn người, vì máy bay cất cách lên cao. Lúc đó tôi cứ việc ngồi bình tĩnh để mặc cho tinh thần tung hoành với vũ trụ bao la. Tôi đương tĩnh toạ thì tiếng kêu ầm ầm của máy bay đã dìu dịu và trông đèn báo hiệu ở đầu máy vừa tắt. Hôm nay vì người mệt nên bị ù tai khó chịu, phải lấy tay bịt chặt hai lỗ mũi lại, rồi thở ra rất mạnh, mới thấy đỡ choáng đầu. Bấy giờ mới cởi dây da ở mình ra, sẽ lấy “píp” hút một hơi thuốc khoan khoái lắm, thế rồi tôi lại bấm khuy máy ở ghế cho nó ngả xuống, nằm ngủ được một lúc. Bỗng nghe tiếng sì sào, dật mình tỉnh dạy, thì người đàn bà Pháp đem bánh cho chúng tôi điểm tâm, trông lên đồng hồ đã 9 giờ hơn. Tuy tay vẫn bẻ bánh ăn, nhưng mắt vẫn nhìn ra ngoài, tôi thấy thôi thì từ núi non đến làng mạc, cả thành quách đến cửa nhà, đều chỉ là những mô cỏn con dưới tầm mắt, bỗng nhớ lại câu của Đức Khổng Tử: “Lên đỉnh núi Thái, sẽ thấy thiên hạ là nhỏ”. Nhưng lúc này tôi còn lên cao gấp mấy lần núi Thái kia, vì thế mà được thấy rõ thiên hình, vạn trạng của vũ trụ, bất luận to hay nhỏ, nó chỉ còn là những hình ảnh lờ mờ dưới tầm mắt tôi. Thế mới biết càng lên cao càng thấy rõ chân tướng bình đẳng, khốn nỗi người đời cứ nhận nó có lớn, nhỏ, có cao, thấy với cái tư tưởng phân biệt để sinh ra sự tranh chấp, chiếm đoạt lẫn nhau. Chỉ có thế thôi mà nhân loại đã xây cao thành sầu, khơi sâu bể khổ, từ thuở có nhân loại cho đến mãi ngày nay, chẳng những không ngừng mà lại còn thêm hăng hái, xây mãi, đào mãi cái thành sầu, bể khổ ấy nữa. Tâm hồn tôi đương lúc man mác với mối hồ nghi vô biên đó, bỗng người ngồi đằng sau gọi bạn mà rằng: “Này anh, ngắm ra quang cảnh mà xem, lúc này trời đẹp quá, máy bay lại lên tít tận cung xanh, nhìn bên dưới chỉ có núi với nước, điểm tô như bức gấm hoa thôi”. Chính lúc đó,  tôi cũng đương nhìn ra, quả thật quang cảnh lúc đó không khác gì bồng lai nhược thủy, còn chính mình đang đóng vai phi tiên với rất nhiều những đám mây lô nhô, như hình người ở cung xanh xuống đón rước, thực là quang cảnh nên thơ, tôi liền vịnh:

Phải bạn cung xanh đón đó không?
Yêu nhau xin hãy hiểu nhau cùng.
Chẳng tiên cũng thỏa chơi mây gió,
Thoát tục cũng còn vị Núi Sông.
Muốn rủ đây về chơi cảnh cũ,
Hãy chờ nhau giúp việc đời xong.
Tri âm ai đó nên suy nghĩ,
Đời chẳng quên ta, ta nhớ nhung!

Tôi đang mãi ngâm vịnh, thì bỗng ông PHẠM CHỮ hỏi: “Thượng toạ có lẽ đương mải vịnh phong cảnh thì phải?” – Phải đấy ông ạ!

– Thượng toạ đi chuyến này cần viết lấy tập ký sự để kỷ niệm, chứ không nên chỉ ngâm vịnh một vài bài mà thôi!

–  Ông nói phải đấy, chỉ hiềm tôi không đủ tài viết ký sự thôi! Tuy vậy tôi cũng đã viết được mấy trang rồi. Còn đương vui chuyện về văn thơ, lại thấy người đàn bà Pháp ban sáng, bưng hai khay cơm có nhiều món mà tôi không quen dùng, thấy ông PHẠM CHỮ đỡ lấy một khay, còn trả lại với mấy câu sì sồ. Người đàn bà Pháp liền bưng khay đi, một lúc lại bưng đến 6 chiếc bánh ngọt với một cốc cà phê sữa. Ông PHẠM CHỮ mau mắn đỡ lấy chuyển sang cho tôi. Ăn xong bỗng thấy đèn tàu báo hiệu xấu trời, tôi liền ngó ra xem thì ra tầu đang bay giữa biển, phải đối phó với cơn gió rung người, bên trên có những đám mây đen, trắng mù mịt, ngược ngược, xuôi xuôi, tan tan, hợp hợp. Dưới mặt biển, những làn sóng trắng xoá cuồn cuộn hết lớp nọ tới lớp kia, kế tiếp nhau sô sát, lưng chừng những quả núi đương bị mây phủ mịt mù. Trên mây, dưới sóng đều bị mãnh lực của thần gió lôi cuốn, tan tan, hợp hợp khắp bầu trời, mặt biển. Ngắm cảnh trạng đó, ký giả cảm đến cỗ kim thế sự, thành, bại, đắc, thất, cũng chẳng khác chi những đám mây, những làn sóng, đương nối nhau bay liệng, tung vỗ kia, rồi lại cùng nhau tiêu tan đau mất, bèn hứng vịnh:

Kìa ngắm mà xem lớp hải âu,
Ào ào, ạt ạt, nối đuôi nhau,
Khi lên tung vỗ làng mây núi,
Lúc xuống tiêu ngầm cuộc bể dâu.
Mây trắng hợp tan cùng tấn thảm,
Cát vàng bôi lở cũng trò sầu.
Hỡi ai là khách bôn ba nọ,
Lớp sóng việc đời có khác đâu.

Ký giả đương mải ngắm cảnh ngâm thơ, Đại Đức THẠCH BÍCH bỗng hỏi:

–  Thượng toạ có đọc truyện TÂY DU không?

–  Tôi có đọc cả truyện TÂY DU tự tay Thầy HUYỀN TRANG biên chép lẫn TÂY DU của nhà tiểu thuyết làm ra, nhưng không bao giờ tôi chịu tin chuyện TÂY DU của nhà tiểu thuyết phịa đặt có TÔN NGỘ KHÔNG, SA TĂNG, CHU BÁT GIỚI theo Thầy ĐƯỜNG TĂNG đi thỉnh kinh; họ đã mô tả ra một mớ hoang đường để cổ hoặc nhân tâm và làm mờ ám hẳn một thiên lịch sử mạo hiểm của một vị Thánh Tăng đời ĐƯỜNG (Tàu).

Tôi xin kể qua thân thế Thầy ĐƯỜNG TĂNG để Đại Đức nghe:

“Thầy HUYỀN TRANG sinh năm 602 quê ở Lạc Đương tức Phủ Hồ Nam bây giờ, thân phụ Thầy đã mấy đời nổi tiếng Văn hào, sẵn nếp Nho phong nên Thầy sớm xuất sắc về Nho học, bạn bè của Thầy đương thời đã bầu cho là thiếu niên nho giả, ai nấy đều kính nể. Tưởng rằng sau này sẽ thành nhà quan các đại gia, có ngờ đâu 13 tuổi, Thầy đã xuất gia theo đường đạo đức. Năm 14 tuổi gặp buổi chính trị thối nát, thế đạo lu mờ, giặc giả tứ tung, nhân dân đồ thán, trước thảm trạng thành quách tro tàn, máu xương trà đạp, những kẻ vũ phu tàn bạo coi mệnh người như sâu kiến, như cỏ rác; khắp trong nước chỗ nào cũng có giặc cướp rối loạn, đến nỗi các nhà tu cũng ít tránh khỏi vạ lây. Thầy đành phải tránh lên núi tu thân, luyện đạo. Được mấy năm thì Vua ĐƯỜNG Thái Tôn đánh dẹp giặc giã cũng đã tạm yên ở các xứ trung châu, nhưng ngoài biên thùy vẫn chưa bình định. Nhất là Vua ĐƯỜNG Thái Tôn chưa nối được dây thân thiện với các nước lân bang, thì mong gì bình định được các biên giới. Lúc đó Thầy HUYỀN TRANG phát sinh ra quan niệm tự lĩnh lấy sứ mệnh Phật giáo đi thỉnh kinh, nhân bang giao hòa hảo với các nước âm phù cho Vua ĐƯỜNG Thái Tôn về đường chính trị. Sự thật đã được chứng kiến ở lịch sử đời ĐƯỜNG, là Thầy Đường Tăng đi thỉnh kinh qua nước nào, là nước ấy chẳng thần phục oai dũng của Vua ĐƯỜNG Thái Tôn, thì cũng thần phục với đức hoá của Vua ĐƯỜNG đó là một điểm chính trong lịch sử TÂY DU của Thầy HUYỀN TRANG.

Thầy HUYỀN TRANG đi TÂY PHƯƠNG cầu kinh, còn một điểm cực kỳ quan trọng nữa. Chúng ta đã thấy lịch sử Phật giáo truyền vào TRUNG QUỐC từ Hán Minh Đế đến ĐƯỜNG Thái Tôn trải dài 500 năm. Thời kỳ Thầy HUYỀN TRANG mới xuất gia, chính là lúc Phật giáo cũng rối ren, ăn nhịp với thiên hạ loạn lạc, lý thể tất nhiên như vậy, hoá nên trong giới tu hành một phần đông bị phong trào ích kỷ, tự lợi lôi cuốn, nào là vì lợi lộc mà ghen tị, nào là vì môn phái mà chia rẽ, nào là vì thiên về tư tưởng giáo lý mà công kích; ai nấy chỉ tự trọng lý tưởng của mình, không ai đồng ý chí với ai, mạnh ai người nấy được, khiến cho lực lượng Phật pháp quá ư bạc nhược, đoàn thể tu hành quá ư yếu ớt, khiến cho tín đồ hết đường trông cậy, đâm ra chán ngán. Kẻ vô đạo thừa cơ đứng ngoài công kích phá hoại. Vận mệnh Phật pháp lúc đó chỉ còn như dây tơ, địa vị Tăng Già không còn giá trị nông nỗi nguy cập đến thế rồi, mà có ai biết nghĩ đến đâu? Hoặc giả có còn có số người biết, nhưng cũng chỉ thở ngắn than dài rồi lại cho là khó khăn, đành bó tay ngồi nhìn, rừng thuyền bão táp, bể giác sóng cồn. Đứng trước thảm trạng ấy, Thầy HUYỀN TRANG hết sức lo âu, quyết trí ra tay cứu vãn, vì Thầy đã sẵn tin tưởng chắc chắn rằng: Thiên hạ hết loạn tất phải đến trị, Tôn giáo hết suy tất phải đến thịnh, miễn là ta phải có đủ công năng tu hành chứng ngộ được đạo mầu. Nghĩ thế rồi, Thầy liền rủ mấy vị cao Tăng đồng trí nguyện dâng sớ xin Vua Thái Tôn sang Tây trúc tham thuyền học đạo thêm và cầu kinh Phật đem về bồi bổ cho nền Phật giáo nước nhà. Vì bấy giờ việc triều chính của nhà ĐƯỜNG chưa được yên, việc bang giao với các nước ngoài chưa được thân mật đậm đà, có nhiều nước ngoài người ta chưa kiêng nể. Vua Thái Tôn sợ Thầy đi sẽ bị nguy hiểm, để đến mất quốc thể, vì thế nên Vua Thái Tôn liền hạ chiếu cấm Phái đoàn Phật giáo do Thầy cầm đầu không được sang Tây trúc. Các bạn đồng chí đều sợ lệnh vua không ai dám đi nữa, còn Thầy HUYỀN TRANG, Thầy tự nói rằng: “Trí ta đã quyết, đường ta đã dọn, ta quyết không chịu lùi bước, chẳng quản quan san hiểm trở, chẳng quản hùm beo ác thú, chẳng sợ gió xương tuyết bụi, chẳng ngại nắng, mưa, nóng, rét, cũng không cần có sắc chỉ nhà vua, ta chỉ tin cậy vào Phật lực, ta lên chùa làm lễ Phật xin hộ trì cho đi thỉnh kinh”.

“THÀNH TẤT HỮU CẢM”. Thầy HUYỀN TRANG thấy Phật báo ứng điềm tốt lành, tức khắc một túi, một ngựa, không giấy, không tờ, trốn ra biên thùy ngắm miền Tây trúc thẳng tiến, ròng rã 16 năm trời, một mình vò võ đất khách, quê người, trải bao gian nguy, nếm đủ phong trần, cay đắng, mới học được đạo, mới thỉnh được kinh đem về làm tươi sáng cho nền Phật giáo TRUNG HOA, tự tạo nên thời thế tôn giáo thay cho thời thế chiến tranh. Tên tuổi Thầy HUYỀN TRANG đến nay vẫn còn sáng lạn ở sử sách TRUNG QUỐC.

Cứ xem như thế, trải 500 năm từ Hán Minh Đế đến ĐƯỜNG Thái Tôn, trước thời kỳ nhà ĐƯỜNG mở vận, cục diện chính trị cũng như Tôn giáo, ai cũng phải thú nhận là thối nát, rối ren, phải chăng thời thế tạo anh hùng, nên dân tộc TRUNG HOA hồi đó đã sản xuất ra hai nhà niên thiếu kỳ khôi. Cùng đem tài ba, đạo đức ra xoay chuyển càn khôn, bổ cứu cho nền chính trị và tôn giáo. Ấy là ĐƯỜNG Thái Tôn và Thầy HUYỀN TRANG. Một người hơn 10 năm dong duổi thanh gươm, yên ngựa, dẹp yên giặc giã, mở vận thái bình. Một người cũng hơn 10 năm dong duổi yên ngựa túi kinh mới rước được hồn đạo đức về để cứu vãn nhân tâm thế đạo. Đường đi của hai nhà tuy có khác, nhưng đều thành công cứu quốc, cứu dân, đều làm vinh dự cho đời nhà ĐƯỜNG, lại cùng đứng chung tên tuổi vinh quang trên lịch sử TRUNG QUỐC vĩ đại vậy.

 

4. HỘI PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Ký giả còn đương muốn kể thêm chuyện Tây Du để khuyến khích Đại Đức THẠCH BÍCH thì bỗng nghe xì xào tiếng người nói, tầu sắp xuống. Mọi người lại quàng dây da vào mình như lúc tầu mới lên. Tiếng động cơ tắt, máy bay đã ở mặt đất, chúng tôi xuống. Ông PHẠM CHỮ trình giấy tờ và nhận hành lý. Một người đàn bà Pháp trạc độ 50 tuổi, với nét mặt tươi tỉnh, vui vẻ, chấp tay chào tôi và bắt tay ông PHẠM CHỮ, tự giới thiệu: “Tôi trông nom về ngành văn hoá của tòa Tổng lãnh sự Pháp ở Calcutta này được ông Tổng lãnh sự cử ra đón Phái đoàn Phật giáo Việt Nam”. Ký giả cảm ơn rồi cùng lên xe. Chừng 20 phút, ô tô đỗ, người đàn bà Pháp xuống trước, vào chùa HỘI ĐẠI BỒ ĐỀ, chư Tăng trong đó ra đón vào phòng khách, đã có Thượng toạ JIRANATANA là Thư ký thường trực tiếp đón chúng tôi một lúc, rồi cho người đưa đến phòng khách. Sao mà khéo thế nhỉ? Phái đoàn Phật giáo có ba người, thì căn phòng cũng chỉ có ba cái giường. Mặc dầu đương mùa nóng nực mà vẫn trải đệm cỏ, trên phủ vải trắng; có đồng hồ, đủ bàn ghế. Tôi lại ra cửa, ý muốn đi tìm nơi xuất sử, thấy bên kia buồn khách có sẵn nhà tắm và nhà xuất sử đều bằng máy, quy củ sắp đặt rất tiện cho viễn khách.

Ngay chiều hôm ấy, tôi ủy Ông PHẠM CHỮ ra cảm ơn Ông Tổng lãnh sự Pháp đã cho đại diện ra đón và trình giấy thông hành với các nhà chức trách địa phương. Tôi ở nhà, lên chùa làm lễ rồi ra cửa chùa ngắm phong cảnh. Trước cửa chùa Bồ Đề có một cái hồ rộng độ hai mẫu ta, nước hồ lúc nào cũng trong veo, với ánh bóng cây buổi chiều trông đẹp mắt lắm. Tôi thấy có mấy ngàn người đang bơi lội, liền hỏi thì người ta cho biết rằng: Phong tục của ẤN ĐỘ hễ được tắm gội nơi hồ ao của đền chùa là khước lắm. Thế nên, mỗi buổi chiều chung quanh hồ này, lúc nào cũng đầy lớp sóng người giải trí với cơn nóng nực.

Chùa này của Hội ĐẠI BỒ ĐỀ làm nên từ khi chấn hưng Phật giáo, tuy cất theo với dẫy nhà hàng phố, nhưng thoạt trông đã biết ngay là cảnh Phật, vì lối kiến trúc đều theo mỹ thuật Phật giáo, ý giả vì đất hẹp, nên chùa làm hai từng, đắp vẽ theo lịch sử Phật Thích Ca. Từng gác trên thờ Phật, chính giữa thờ tượng Phật Thích Ca, bốn góc có tượng Văm Thù, Phả Hiền v.v… Sau tượng Phật, một tòa tháp tròn cao độ một thước rưỡi, có thờ xá lợi Phật ở trong, có thêm mấy chiếc tủ kính rất đẹp, bên trong đựng nhiều đồ pháp khí và pháp bảo, có hạng trạm, trổ, có hạng để chơn. Mỗi thứ bảo vật, đều tượng trưng một ý nghĩa về Phật giáo. Từng dưới Phật điện là nhà giảng, cũng đắp vẽ theo lịch sử Phật giáo, khiến ai mới vào, thoạt trông đã khởi lòng tôn kính. Khắp nhà giảng đều có đèn, quạt điện với rất nhiều ghế để thập phương ngồi nghe giảng. Phía sau nhà giảng là toà nhà ba tầng, có đủ Tăng đường, trai đường, khách đường, văn phòng, thư viện v.v… Tôi có vịnh tức cảnh:

Chùa Hội Bồ Đề nức tiếng lâu,
Tới, lui Phật tử khắp năm châu,
Phạm Tăng[1]Chỉ chư Tăng Ấn Độ. niệm kệ[2]Kệ nhà Phật cũng có vận điệu như thơ nhà Nho., chim hòa vận,
Viễn khách đàm kinh, cá lắng câu.
Với đám sóng người khai giác ngạn,
Cùng nơi đất Phật dẫn quan đầu[3]Phật tử thế giới phần nhiều đến chùa Đại Bồ Đề rồi mới đi chiêm bái các nơi..
Hỡi ai có chí cầu kinh Phạm,
Này cảnh Bồ Đề mach bảo nhau.

Thượng toạ thư ký tiếp chúng tôi ban nãy, với chư Tăng Tích Lan sang đảm nhiệm việc Hội, ngoài tiếng bản xứ, các vị còn thông thạo nhiều tiếng ngoại quốc, nhất là tiếng Anh, tiếng Ấn và tiếng Ba lỵ. Vị nào cũng có tinh thần linh lợi về học vấn, lại rất ưa hoạt động về Phật sự; tất cả các sự cung cấp chư Tăng đều do Hội Đại Bồ Đề đảm nhiệm.

Còn chư Tăng chỉ chủ trương về việc tu hành và truyền giáo, chứ không phải lý gì về sự sinh hoạt cả. Trong chùa lại có các vị Cư sĩ ở chung với chư Tăng để làm việc. Có Cư sĩ MADANLALANAN rất giỏi về triết học, ông chuyên trông nom về bài vở cho tờ tạp chí của Hội Đại Bồ Đề. Tôi rất phục tinh thần kính trọng chư tăng của ông. Vì nhiều bửa ngọ săn sóc đến cơm nước của chư Tăng. Không thấy một chú tiểu nào cả. Tôi có hỏi thì chư Tăng cho biết rằng: “Các tiểu đều được đi học ở các trường Phật học xa cả”.

Ngoạn cảnh xong, Ông PHẠM CHỮ cũng mới vừa về cho biết là giấy tờ phải ba ngày nữa mới xong.

– “Cũng vừa. Vì theo như lời Thượng toạ thư ký thường trực nói, thì còn phải chờ Ông Tổng thư ký của Hội Đại Bồ Đề về, thì chương trình làm việc của chúng ta mới được định đoạt, là vì các việc còn phải nhờ Ông giúp nữa. Vả lại tôi cũng còn phải an tĩnh để lễ bái ba ngày cầu nguyện Phật Tổ điểm hoá cho mọi việc, thì mới mong có kết quả: Ngoài ra tôi còn phải sửa lại hai bài diễn văn mới viết phác ra, sẽ đưa ông dịch ra Anh văn, nếu được đủ phương tiện diễn giảng, thì tôi giảng bằng tiếng Việt, còn Ông sẽ dịch luôn ra tiếng Anh. Nó là phận sự chính của Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chúng ta, đem ra cống hiến cho người ngoài: “Đem chuông đi đấm nước người”. Ông nên cố gắng dịch bài diễn văn này”.

Tối mịt hôm mồng 6, Ông Tổng thư ký của Hội Đại Bồ Đề đi rước xá lợi của hai Đức Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên về, có đến thăm chúng tôi, nói chuyện qua loa rồi hứa đến 8 giờ sáng mai sẽ chính thức tiếp phái đoàn. Tuy tôi với Ông mới được gặp nhau trong khoảnh khắc về những câu chuyện trao đổi ý kiến, đã nhận được ở Ông là một nhà Cư sĩ có đủ nghị lực cả về phần lý tưởng lẫn thực hành.

Ông ra khỏi phòng, tôi bàn với ông PHẠM CHỮ, lẽ tôi phải biên thành thư để Ông dịch ra Anh văn, sáng mai, sau khi đàm đạo sẽ đưa. Tất cả Phái đoàn đều hoan nghênh ý kiến ấy, tôi liền lấy bút viết:

Ngày 7 tháng 5 năm 1950
TRƯỞNG PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Kính gởi Ngài Hội Trưởng
Hội MAHA BODDHI – CALCUTTA

Thưa Ngài,

Chúng tôi vốn biết Phật tử bốn bể dù đến đâu cũng đều coi nhau là con của Đức Từ Phụ THÍCH CA MÂU NI.

Vì lễ nghi giữa giới Phật tử ở mỗi địa phương một khác, chúng tôi tới Quý quốc, mặc dầu được Quý hội ưu đãi, khiến thâm tâm chúng tôi cảm kích vô cùng; nhưng chỉ vì những điều bỡ ngỡ, nên chúng tôi không tránh khỏi các sự thất thố đối với Ngài cũng như đối với Quý Hội, mong Ngài hoan hỷ lượng thứ.

Thưa Ngài, chúng tôi cũng như dân VIỆT NAM, đều được sống trên nền tảng luân lý Phật giáo với bầu không khí thần túy. Cả 18 triệu dân VIỆT NAM theo Phật giáo, rất thành kính tôn thờ Đức Giáo Chủ THÍCH CA và chư Vị Thánh Tăng của Quý quốc đã sớm truyền bá Phật giáo sang VIỆT NAM trước đây gần 2000 năm. Uống nước nhớ nguồn, nên dân VIỆT NAM theo Phật giáo đều có sẵn mối thiện cảm sâu xa thầm kín đối với Quý Quốc và Quý Hội.

Để tỏ lòng kính mến Phật sự của Quý Hội, ĐỨC BẢO ĐẠI, Quốc trưởng VIỆT NAM, có giao cho chúng tôi 1000 roupies (4000$00 Đông Dương) để dâng cúng vào Phật sự của Quý Hội, xin Ngài nhận cho.

Lại xin Ngài nhận của Hội Việt Nam Phật Giáo kính biếu Quý Hội một số kinh sách Phật do tay bút của các Cao Tăng VIỆT NAM chú giải đã lâu đời, thêm với một số kinh, sách Phật bằng Việt văn của Hội Việt Nam Phật Giáo chúng tôi xuất bản.

Ngoài ra, yêu cầu Ngài cũng như Quý Hội giúp đỡ cho các việc sau này:

1) Hội Việt Nam Phật Giáo kính biếu Chính phủ Quý quốc một hòm kinh Phật và một hòm để kính biếu Hội Nghiên cứu Phật học cùng ở Quý quốc, dám mong giúp chúng tôi được thân đến nơi để chuyển giao.
2) Giúp chúng tôi đi chiêm bái các nơi Phật tích ở Quý quốc.
3) Giúp cho, thỉnh hoặc mua các kinh sách Phật do Quý quốc xuất bản, hoặc nơi nào có, xin mách bảo cho chúng tôi thỉnh.
4) Giúp cho mua những tranh ảnh về lịch sử, mỹ thuật Phật giáo ở Quý quốc.
5) Chúng tôi được chụp ảnh các Tôn Tượng và các pháp bảo ở Chùa Hội quán đây và các nơi Phật tích.
6) Chúng tôi được biết Quý hội có những cuốn phim về Phật giáo, nếu có thể được, xin mua giúp.
7) Giúp chúng tôi mọi phương tiện để đi tới dự Hội nghị Phật giáo thế giới tại Tích Lan.
8) Tôi có 10 điều đề nghị với Phật giáo Quốc tế, xin phiền Ngài chuyển giao đến ban Tổ chức của Hội nghị đó trước khi chúng tôi đến dự.
9) Giúp chúng tôi đến New Delhi (Nưu Đen li) là Thủ đô mới của Quý quốc để viếng thăm các Phât tử ở đó và cho được gặp Bác sĩ Prasad là Tổng Thống của Quý quốc để sẽ dâng biếu lên Ngài hòm kinh Phật.

TỐ LIÊN

Dưới đây là bản dịch bức thư trả lời của Hội Đại BỒ ĐỀ:

Calcutta ngày 10 tháng 5 năm 1950
Kính gửi Thượng toạ Tố Liên
Trưởng Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam

CALCUTTA
Kính bạch Thượng toạ,

Chúng tôi rất lấy làm cảm ơn những mỹ ý của Thượng toạ viết trong thư ngày 7 vừa rồi. Chúng tôi rất lấy làm hân hạnh được dịp đón tiếp Thượng toạ và các nhân viên Phái đoàn và chúng tôi mong rằng Thượng toạ hoan hỷ cho nếu có điều gì không được vừa ý, trong khi lưu lại ở đây.

Xin Thượng toạ nhận lời trân trọng cảm ơn của chúng tôi về những sách mà Quý hội đã có nhã ý tặng Hội chúng tôi. Các kinh sách đó sẽ được liệt vào hạng, bộ sách có giá trị trong thư viện của chúng tôi.

Trước khi Thượng toạ lên đường về Việt Nam chúng tôi mong rằng có thể kính tặng Quý hội toàn bộ những sách do Hội chúng tôi xuất bản.

Chúng tôi rất lấy làm cảm ơn Quốc Trưởng Bảo Đại về số tiền 1000 roupies, mà Ngài đã nhã ý gửi Thượng toạ tặng Hội chúng tôi. Xin nhờ Thượng toạ chuyển lời cảm ơn của Hội chúng tôi lên Quốc Trưởng về mỹ ý của Ngài.

Chúng tôi rất lấy làm tiếc là quý vị không thể đến kịp để dự lễ ngày đản sinh Đức Phật Tổ. Nhưng chúng tôi chắc rằng quý vị sẽ có dịp nhận xét những công việc chúng tôi đang tiến hành để chấn hưng nền Phật giáo chốn này. Sau 50 năm gắng sức của Hội chúng tôi ngày nay đã thấy được đôi phần kết quả và được sự cộng tác và giúp đỡ của các nước theo Phật giáo, như nước Việt Nam, chúng tôi hy vọng rằng có thể thu lượm được kết quả mỹ mãn trong nhiệm vụ đó. Sự đến dự này của Quý Phái đoàn sẽ giúp thêm năng lực cho việc tiến hành đó, và tôi tha thiết mong rằng: Tình giao hảo giữa Quý hội và Hội chúng tôi sẽ mỗi ngày thêm chặt chẽ, cho đến khi chúng ta đạt được đến mục đích cao cả, là chấn hưng nền Phật giáo ở ngay trên xứ đã phát sinh ra Tôn giáo ấy.

Chúng tôi xin chúc quý vị được nhiều sự như ý trong khi lưu lại ở xứ này, và rất lấy làm hân hạnh được tiếp quý vị, chúng tôi hy vọng rằng: về sau này còn được tiếp thêm nhiều Phật tử của Quý quốc sang bên này cùng theo một mục đích như trên.

Xin kính chúc Quý Trưởng Bảo Đại an khang trường cửu và tất cả dân chúng Việt Nam đều được thái bình thịnh vượng.

Nay kính,
Valisinha
Tổng thư ký Hội Maha Boddhi Calcutta

 

5. CHIÊM BÁI XÁ LỢI HAI VỊ THÁNH TĂNG

 

Sau khi nói chuyện với Phái đoàn Phật giáo chúng tôi với Ông Tổng thư ký, đến phút cuối cùng. Ông lại cho biết rằng: “Mới rước được xá lợi của hai vị thánh tăng là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên về chùa đây. Vậy 9 giờ sáng hôm nay, chư Tăng với Bản hội sẽ làm lễ khai xá lợi, xin mời Thượng toạ với Phái đoàn lên chiêm bái”.

hinh 01Tôi thấy nói sắp được chiêm bái xá lợi, phần thưởng thứ nhất của Phật ban cho. Gần nữa đời tu hành chưa bao giờ có tưởng vọng được gặp những khối kim cương thân ấy. Sáng hôm đó lại có Phái đoàn Cao ly đến chiêm bái. Chúng tôi đang ngồi nói chuyện thì có người đến mời lên dự lễ khai xá lợi. Lên đến nơi đều quỳ lễ, hướng vào một cái hình tròn tựa như cái mâm đồng con, nhưng chính thực ra đúc bằng vàng. Theo thước ta thông thủy một thước hai, có lan can chạy xung quanh, rồi đến một quãng có hai cái cột trụ để tiêu biểu nơi vào sân tháp; hai cái trụ của lan can kia nối liền với bẩy bực thang để lên bệ tháp. Trong bệ tháp còn có hàng lan can nữa vây lấy bệ tháp thứ hai, từ sân tháp đến bệ tháp thứ hai, theo thước ta độ linh 3 tấc, đem cái chụp vàng đúc theo hình tháp cao bốn tấc ta úp lại sẽ thành cây tháp vàng tròn cao linh bẩy tấc ta. Giữa bệ tháp thứ hai có hai đài sen hình tròn như cái hộp nhỏ đựng thuốc lào. Trên hai đài sen có hai cái trụ đội cho hai cái tựa như đồng hồ quả quít, chung quanh bằng vàng, hai mặt lồng kính. Xá lợi để bên trong vì có kính trông rõ lắm. Tháp và hộp đựng xá lợi mà ký giả vừa kể trên đều do Hội ĐẠI BỒ ĐỀ mới sắm để tôn nghiêm sau khi người ANH trả xá lợi về ẤN ĐỘ. Còn đến hình thức Cổ chế để đựng xá lợi và xá lợi to nhỏ thế nào Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã kê cứu để giúp quý độc giả sau đây:

TÀI LIỆU VỀ XÁ LỢI CỦA HAI VỊ ĐỆ TỬ PHẬT
XÁ LỢI PHẤT và MỤC KIỀN LIÊN

Năm 1939, Hội Phật giáo MAHA BODDHI ở Calcutta (Ấn Độ) có điều đình với chính phủ Anh cát lợi để xin rước về Ấn Độ xá lợi của hai vị A-la-hán SARIPUTTA (Xá Lợi Phất) và MOGGALANASA (Mục Kiền Liên).

Hồi đó đang trưng bày ở Viện Bảo tàng Victoria và Albert ở Luân Đôn (Kinh đô của nước Anh cát lợi). Sau vì chiến tranh không tiện cho sự chuyên trở, nên việc đó phải hoãn lại. Đến năm 1945, Hội MAHA BODDHI tiếp tục can thiệp lại, và Chính phủ Anh bằng lòng trao trả xá lợi đó cho Ấn Độ. Song vì dân chúng đảo TÍCH LAN rất mộ Phật, nên xá lợi của Ngài XÁ LỢI PHẤT và Ngài MỤC KIỀN LIÊN được đưa qua đảo TÍCH LAN cho dân chúng chiêm ngưỡng trước khi đưa sang thờ ở NEW DELHI (tân kinh đô Ấn Độ).

Xá lợi hai vị La hán đó do Đại tướng CUNNINGHAM (người Anh) tìm thấy ở SANCHI xưa tên là VÉDISAGIRI, trên một ngọn đồi nhỏ ở gần thành VÉDISA tại AVANTI, nơi quê hương của nhiều tín đồ nhà Phật, của vua ASOKA (A Dục), của Hoàng tử NAHINDA v.v…

Xá lợi để trong hai hòm bằng đá mầu xám, trên có khắc chữ Phạm (Sariputta và Maha Moggalanasa). Hòn hình vuông, mỗi chiều độ 45 phân, nắp dầy độ 15 phân. Trong hòm bằng đá đặt về hướng Nam, lại còn một hòm nữa bằng đá trắng, rộng 16 phân, cao 75 phân. Bề mặt là một cái cóng bằng đất đen, đường kính hai phân, cái cóng ấy đã bị vỡ.

Bên cạnh hai chiếc hòm đó có hai miếng gỗ trầm. Trong hòm chỉ có một chiếc xương của vị La hán SARIPUTTA (Xá Lợi Phất) dài độ 25 ly và 7 hạt ngọc trai, 7 hạt đó chắc chắn là những bảo vật mà người ta thuờng đặt bên xá lợi các vị Phật, Thánh: 3 viên hạt trai, 3 viên ngọc và một viên pha lê. Trong chiếc hòm đặt về phương Bắc, cũng lại có một cái hòm bằng đá nhỏ hơn hòm trước. Khi mới mở bề mặt trắng trông như phấn. Nhưng sau làn phấn đó mất đi và mầu cũng như hòm kia. Ở trong có hai cái xương của vị MOGGALANASA (Mục Kiền Liên), chiếc to chỉ dài độ một phân. Mặt trong cái nắp là một chữ viết bằng mực: Chữ XÁ trên nắp hòm đựng xương vị la hán SARIPUTTA (Xá Lợi Phất và Chữ MA, trên nắp hòm đựng xương vị la hán MOGGALANASA (Mục Kiền Liên). Phương hướng đặt hai hòm đó cũng không phải là không có ý nghĩa. Nguyên khi Đức Phật ngồi xoay mặt về phương Đông, thì phương Nam ở bên phía phải Ngài mà phương Bắc ở bên trái. SA và MA là những đệ tử gần cận nhất của Ngài, thường đứng bên phải và bên trái Ngài. Hai nắp hòm hiện để ở viện Bảo tàng SANCHI.

Ngoài ra, ở SATADHARA, cách SANCHI độ 10 cây số, người ta còn tìm ra nhiều ngôi mộ Phật nữa. Ở đó cũng có hai hòm bằng đá, trên nắp cũng có chữ SARIPUTTA và MAHA MOGGALANASA.

Ngài 14 tháng 3 năm 1947, dân chúng đảo TÍCH LAN đã cử hành một lễ rất uy nghi để đón các xá lợi đó tới COLOMBO. Và đến cuối năm 1948, các xá lợi đó đã được rước về đất ẤN ĐỘ do Bác sĩ NERHU, Thủ tướng Ấn Độ đón rước.

Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam

Có người hỏi: “Xá lợi của mỗi vị chỉ có thế thôi ư?”

– Tôi không được biết rõ về phần xá lợi của hai vị Thánh tăng đây, nhưng theo chỗ tôi hiểu ở các kinh sách Phật nói về xá lợi, thì sau khi đàn thiêu đã tắt, số xá lợi thu được, phần nhiều đem chia đi các nơi để thờ, ít khi để một chỗ tôi ngờ rằng đây cũng mới chỉ là một phần nào thôi.

 

6. NGÀI THỦ HIẾN BENGALE HỎI VỀ PHẬT GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

 

Lễ chiêm bái xá lợi xong, Ngài Tổng Thư ký lại cho biết rằng: “Thủ hiến xứ BENGALE (Băng gan) hẹn 4 giờ chiều hôm nay sẽ tiếp chúng tôi”. Đúng 4 giờ, ông Tổng Thư ký cùng đi với chúng tôi vào Phủ Thủ hiến. Đến nơi lính gác cửa vào trình, Ngài Thủ hiến ra cửa đón chào và mời chúng tôi vào công đường nói chuyện. Ngài Thủ hiến nói: “Tôi tuy không chính thức quy Phật, nhưng tôi rất tin Phật và rất mộ giáo lý của Phật, vì Phật dạy: Hạng người nào cũng theo được” Ngài hỏi: “Bên Việt Nam cuộc chiến tranh Việt Pháp đã yên chưa?”

– Thưa Ngài, chưa yên!

Ngài nói: “Tôi đọc các báo có nói nhiều về sự đau khổ của dân Việt Nam, nên tối nào tôi cũng cầu nguyện cho nền độc lập của nước Việt Nam sớm thực hiện cho dân tình đỡ khổ”.

Những câu nói của Ngài Thủ hiến BENGALE vừa nói xong, khiến cho tôi thêm để ý xem dung mạo như thế nào, mà nói những câu thiết tha đối với dân Việt Nam như vậy. Quả nhiên tai to, trán cao, mắt sáng, tiếng nói dõng dạc, tầm người cao lớn, cả tướng mạo đáng kính, vận bộ quần áo vải gai phơn phớt trắng, biểu lộ một tư cách con người có vẻ trầm tiềm, cương nghị và nhân từ, khiêm tốn. Lúc mới tới, Ngài tiếp chúng tôi bằng cách vồn vã và thân mật như tình khế hữu. Tôi nghĩ luôn, Ngài đã kính mộ giáo lý của Phật, lại thân mật với chư Tăng, cố nhiên có tư tưởng mong cho thế giới hòa bình bằng cách không bạo động. Như vậy, những câu mà Ngài tiếp chúng tôi thành thực tự đáy lòng thốt ra.

Khi từ biệt Ngài còn gọi lính hầu thân dẫn chúng tôi đi xem mọi nơi trong dinh Phủ. Nguyên đây là dinh của Phó vương Anh hồi trước, cho nên sự rộng rãi trang nghiêm của nó có thể ngoài trí tưởng tượng; có những báu vật cổ kim nhiều không kể xiết mà phần nhiều là các báu vật của Vương triều ngày xưa để lại.

Tiếp kiến Ngài Thủ hiến xong, chúng tôi lại đến thăm Hội Phật giáo Bengale tức là Hội Nghiên cứu Phật học của địa phương này. Vì không báo trước nên chúng tôi không được gặp Hòa thượng trụ trì. Nhưng có Ngài Hội trưởng và nhân viên thường trực tiếp đãi chúng tôi theo lễ nhà Phật. Tôi có chuyển giao phong thư và hòm kinh của HỘI VIỆT NAM PHẬT GIÁO gửi biếu. Ông chánh Hội trưởng thu nhận với những lời hết sức cảm động. Ông còn phàn nàn là tại chúng tôi không cho biết trước để có sự tiếp đón xứng đáng.

Sự tổ chức ở chùa Hội quán này, tuy không được bằng chùa Đại Bồ Đề, nhưng ở đây có trường Tăng học, hiện có hơn 30 vị Tăng học đều do Hội này cung cấp.

 

7. CƯ SĨ BARUA CHO BIẾT VỀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

 

Tôi muốn biết về tình hình Phật giáo hiện tại ở Ấn Độ, nên ở Hội Nghiên cứu Phật học ra, liền nhờ Ông PHẠM CHỮ thuê ô tô, lấy cớ là mời Cư sĩ BARUA đưa đi thăm phố để cho có cơ hội hỏi được nhiều chuyện. Lên xe xong, với mấy câu chuyện phố phường chiếu lệ, ký giả hỏi: “Tôi nhận thấy ở ông có một lực lượng học vấn uyên thâm, cả về thế gian lẫn Phật pháp, với tư tưởng thanh tịnh thuần túy như vậy, sao ông không xuất gia?

– Tôi không lập gia đình là cốt để xuất gia lúc nào cũng được dễ dàng. Tôi chưa xuất gia mà vẫn ở chùa với Chư Tăng, là cốt để tập luyện tính tình và lễ độ thuyền gia cho am hiểu đã. Nhất là tôi còn làm Cư Sỹ để được dễ dàng đột nhập vào đám quần chúng mà tùy duyên phương tiệm cảm hoá họ, như mấy năm gần đây, tôi đã làm một số đông dân Ấn Độ theo Phật giáo.

Ông xem Phật giáo ở Ấn Độ có thể phục hưng được không?

– Ấn Độ, là đệ nhất Tổ quốc của Phật giáo, hết vận hội suy tất phải thịnh. Nhưng thịnh hay suy còn tùy ở Phật tử có trách nhiệm truyền giáo ở Ấn Độ. Riêng tôi, tôi nhận thấy quốc hội Ấn Độ lấy tượng hình Pháp luân (bánh xe Pháp của Phật giáo làm nhãn hiệu chính giữa quốc kỳ Ấn Độ và người Anh cát  Lợi đã trao trả xá lợi của hai vị Thánh Tăng cho chính phủ Ấn. Hôm Bác Sĩ Nehru Thủ Tướng Ấn quỳ xuống đón hai bảo vật thiêng liêng ấy, có tới tám triệu người đến chiêm bái. Đấy là tượng trưng Phật giáo có thể phục hưng được ở Ấn Độ.

– Giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo có thể dung hòa được không?

– Những nổi yếu hèn đau khổ của Ấn Độ từ xưa đến nay, phần nhiều vì Ấn Độ nhiều tôn giáo tranh chấp nhau, để sinh ra vạ chia rẽ dân tộc, làm cho hao mòn lực lượng hùng hậu đi. Ngày nay, nhờ vào sự cách mệnh thành công của Thánh Cam Địa với phần lớn các nhà trí thức Ấn Độ đã tỉnh ngộ, đã nhận chân là phải làm cho Phật giáo và Ấn Độ giáo dung hòa với nhau. Lại còn có một cớ, có thể là cớ chính của Ấn Độ, phải dung hòa Tôn Giáo để thực hiện chủ nghĩa bình đẳng của Phật Giáo mà phá cái chế độ giai cấp của Ấn Độ Giáo, mới hòng giải thoát được cho 18 triệu dân nô lệ.

– Hiện giờ Ấn Độ có bao nhiêu Chư Tăng Ni?

– Chắc Thượng Toạ thừa hiểu rằng nhà chép sử Phật Giáo ở Ấn Độ đã phải gác bút từ đầu thế kỷ thứ 19, vì thế mà số Tăng, Ni ở Ấn Độ riêng chỗ tôi biết thì chưa có mấy. Trái lại, ở Ấn Độ có tới 1000 vị Tăng ở Tích Lam sang đây để phục hưng Phật Giáo.

– Dân số tín ngưỡng duy nhất về Phật Giáo của Ấn Độ được độ bao nhiêu?

– Ước độ 15 triệu người.

– Người theo Ấn Độ Giáo có hay đến chùa lễ không?

– Nhiều lắm, ngay Ngài Hội Trưởng Hội Đại Bồ Đề của chúng tôi đây chính

là người theo Ấn Độ Giáo.

– Theo chỗ tôi hiểu thì Ấn Độ Giáo là một danh từ tổng quát, nếu phân tách ra thì nó sẽ có 96 thứ Tôn phái. Những tôn phái tương tự như Khổng giáo, Lão giáo ở Tàu thì còn có thể dung hòa được với Phật giáo. Nếu đem Phật giáo mà dung hòa với các Tôn phái do thần đạo thoát thai từ Thái cổ, đầy những sự mê tín dị đoan mà dung hòa vào Phật giáo có còn được chân tướng không? Và Phật giáo còn đào tạo làm sao được tín đồ thuần túy nữa?

– Chân tướng Phật giáo là ở lý sắc không, không sắc. Lý đó đã vì chúng sinh xuất hiện ra là “từ bi cứu thế” Muốn cứu thế phải thực hành phương tiện. Chắc Thượng Toạ còn nhớ Phật dạy: “Theo lòng mong cầu của chúng sinh mà làm lợi ích cho họ” trước nhất ta hãy dùng phép phương tiện để làm cho lợi ích chúng sinh đi đã, rồi sau ta sẽ đưa họ tới chốn thuần túy tín ngưỡng. Nếu ta có cỗ ngon mà không cho người ta ăn, thì ai biết đến mỹ vị của nó mà thèm thuồng muốn ăn. Vả lại, số thuần túy tín ngưỡng ở nước nào cũng vậy, chỉ được một số ít người có căn cơ lại có học thức thôi. Còn hạng bình thường sẽ tập quen mê tín lâu đời nhất đán thay đổi ngay, khó khăn lắm, nhưng họ có tín ngưỡng còn hơn không!..,

Cuộc nói chuyện này đã lâu tới 2 tiếng đồng hồ. Bấy giờ cũng đã hơn 8 giờ tối. Tôi bảo xe quay về để Ông PHẠM CHỮ còn đi ăn cơm tối.

 

8. MỘT VỊ ĐẠI ĐỨC HỎI VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Một hôm về buổi tối, một vị Đại Đức nguyên là Tiến Sĩ xuất gia đến phòng của tôi nói là sẽ hướng dẫn phái đoàn Phật giáo chúng tôi đi chiêm bái các nơi Phật tích. Theo chương trình thì phải đi tới mười ngày mới về. Tôi cám ơn và mời Đại Đức ngồi nói chuyện.

Đại Đức bắt đầu hỏi: Việt Nam theo Phật Giáo Nam phương hay Bắc phương?

Tôi đoán là Đại Đức muốn biết về lịch sử Phật Giáo Việt Nam mình, để khi đi hướng đạo sẽ tiện việc nói chuyện với các Phật tử các nơi Phật tích. Thôi ta cứ việc theo lời hỏi mà trả lời.

– Bạch Đại Đức, nếu theo về địa lý thì Việt Nam chúng tôi theo Phật Giáo Bắc phương, là vì kinh Phạm tự truyền sang Bắc phương, mà các kinh Phật ở Việt Nam là theo kinh Tàu, mà kinh của Tàu đều dịch ở kinh Phạm tự ra cả. Xem thế đủ thấy Phật Giáo Việt Nam thuộc về Bắc phương Phật giáo. Theo chỗ tôi nhận xét, thì đem chia Phật giáo Nam phương ra làm tiểu thừa. Phật giáo Bắc phương làm đại thừa chưa chắc đã là đúng. Vì Phật giáo vốn có đủ Đại thừa và Tiểu thừa. Một chứng cớ rõ ràng, là những người mới vào đạo phải tu hành, về phần tự giác, tự lợi đó là Tiểu thừa, rồi sẽ đem phần tự giác tự lợi của mình ra làm mọi việc lợi tha, giác tha, thì là tôn chỉ của Đại thừa. Còn như Phật giáo ở xứ nào thiên quá về một mặt là tại quan niệm của người theo Phật giáo ở địa phương đó.

– Nếu vậy Phật giáo Việt Nam là do Tàu truyền sang chứ không phải là do Ấn Độ truyền sang?

– Cuối thể kỷ thứ 2 có Mậu Bác Cư Sỹ, vì tránh nạn mà sang Việt Nam rồi truyền bá Phật giáo ở xứ chúng tôi, nhưng lúc đó mới chỉ có ảnh hưởng một phần nào, chứ chưa có sự tổ chức cụ thể. Đến mãi năm 225, Ngài KHANG TĂNG HỘI là Cao Tăng của Quý quốc sang Việt Nam, bấy giờ Việt Nam mới có Tăng chúng, Phật giáo Việt Nam mới có hệ thống, tổ chức do Tăng già lãnh đạo trách nhiệm truyền giáo. Thế nên sau Ngài KHANG TĂNG HỘI còn có nhiều các Cao Tăng quý quốc và VIệt Nam đi lại mật thiết với nhau về việc tu hành và truyền bá. Phật giáo Việt Nam lấy hệ thống Tăng Già truyền giáo, nên từ xưa vẫn tôn thờ Ngài KHANG TĂNG HỘI là Sơ Tổ truyền Phật giáo sang Việt Nam.

– Số Tăng, Ni ở VIệt Nam có được bao nhiêu?

– Đích số thì tôi chưa biết rõ, nhưng ở Việt Nam rất ít làng không có chùa, có làng lại có đến hai ba chùa. Mỗi chùa cả thầy lẫn tiểu, ít nhất cũng tới ba người. Nhiều chùa có tới vài ba chục vị. Xem thế thì biết số Tăng, Ni ở Việt Nam không phải là ít.

– Thượng Toạ bao nhiêu tiểu mới xuất gia, tu ở chùa nào, thuộc về pháp phái nào?

– Tôi xuất gia giữa năm 1903, tức là năm lên 13 tuổi, thụ nghiệp Hòa Thượng tôi tại chùa HƯƠNG TÍCH ở tỉnh HÀ ĐÔNG thuộc về pháp phái Lâm Tế.

– Thượng Toạ theo công cuộc chấn hưng Phật giáo đã được bao nhiêu năm?

– Đầu năm 1935, tôi đang tu niệm ở chùa La sơn, bỗng bị nghiệp sư bắt ra giúp hội V.N.P.G vì có một số các yếu nhân của Hội đó vào tận chùa Hương Tích thỉnh cầu, nên Hòa Thượng tôi bắt phải ra chùa Quán Sứ để theo đuổi mục đích chấn hưng Phật giáo, chẳng may tôi bị bệnh phải xin tạm nghỉ về chùa Côn Sơn thuộc tỉnh Hải Dương điều trị, nhưng cũng không khỏi, sau lại phải ra bệnh viện Hà nội mổ giữa năm 1945 chính là năm nước chúng tôi bùng nổ cuộc cách mạng do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Quốc gia đã biến cố thì Tôn giáo cũng bị ảnh hưởng, giới xuất gia chúng tôi lúc đó cũng đã phần nhiều lâm vào tình thế hết sức lộn xộn rối ren. Giữa lúc đó tôi mới mổ bao tử được 13 ngày nhận thấy tình thế nguy ngập đến thuyền môn, không thể ngồi yên được, đành phải khăn đai chét bụng ra khỏi bệnh viện cùng với các bậc tu hành đồng chí tìm phương bổ cứu. Một ban lâm thời tổ chức Phật giáo thống nhất được thành lập, liền cử ra 7 phái đoàn chư Tăng theo một chương trình cấp tốc trong 10 ngày đi khắp 13 tỉnh để chiêu tập Tăng già để cùng thảo về vấn đề thống nhất Phật giáo đoàn kết Tăng già, hết thảy đều hưởng ứng nhiệt liệt, đã đi đến kết quả một kỳ Đại hội đồng tòan thể Tăng già và các hội Phật ở Bắc Việt. Hội nghị này đã duyệt y bản quyết nghị nhằm vào mục đích điều hòa các Hội Phật giáo, thực hiện tinh thần thống nhất Phật giáo với một ủy ban Tăng già Bắc Bộ được cử ra lãnh trách nhiệm đó. Tôi được cử làm phó chủ tịch ủy ban này.

Công cuộc của Ủy ban Tăng già Bắc Bộ đó đang tiến triển thì cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, dân chúng và các Phật tử ở Hà nội chạy loạn hầu hết còn mấy vị chúng tôi, tử, sinh phó mặc cho định nghiệp, liều chết ở lại chùa Quán Sứ, lẽ cố nhiên phải đương đầu với đầy thảm trạng đau thương, cũng đều trông cậy có Phật lực che chở cho qua cơn sóng gió hết sức nguy nan khủng khiếp mới còn đến ngày nay, lại hân hạnh được sang nước Phật đây để được gặp gỡ các Phật tử thế giới.

– Tình hình hoạt động hiện tại Phật giáo Việt Nam ra sao?

– Về giới xuất gia thì ở Bắc Việt và Trung Việt đã có tổ chức thành Tăng già giáo hội, đều theo một mục đích chỉnh lý nội bộ tu hành, còn những hội Phật giáo có đủ cả tăng lẫn tục như HỘI ĐẠI BỒ ĐỀ đây thì hiện thời có ba hội có ảnh hưởng lớn và cùng chung một tôn chỉ phụng sự Tam bảo, chấn hưng Phật giáo, ngoài ra còn thực hiện tôn chỉ cứu thế, làm các việc cứu tế xã hội nữa”.

Sáng ngày mùng 9, ông Tổng Thư Ký cho mời tôi và ông PHẠM CHỮ đến tư phòng, tôi nhân danh Hội trưởng hội Tăng Ni Bắc Việt kính biếu ông một tập báo Phương Tiện và yêu cầu ông giúp đỡ bài vở cho báo Phương Tiện. Ông rất vui vẻ nhận lời còn nói thêm rằng: “Nếu tôi vì bận mà chưa kịp viết bài gửi sang, thì Thượng toạ được tự do trích dịch những bài vở trong tạp chí Maha Boddhi của hội chúng tôi để đăng vào Phương Tiện.” Tôi tỏ lời cảm ơn. Ngài nói: “Đây là số sách báo của Hội chúng tôi biếu phái đoàn Phật giáo.” Ngài nói tiếp: “Thượng Toạ muốn chụp ảnh Phật hoặc các pháp bảo trên chùa đây, cứ việc gọi thợ ảnh đến cho họ làm. Còn như muốn mua phim thì để thư thả tôi sẽ giúp, hiện bây giờ chưa tiện có.”

Ngay lúc đó tôi liền gửi Ngài 1000 đồng roupies (theo tiền Đông dương lĩnh 4000$) để Ngài mua giúp các kinh sách báo chí về Phật giáo, nhận tiền xong, Ngài lại nói: “Tôi đã bàn định với Ngài Hội trưởng Hội chúng tôi để mời các Phật tử địa phương này đến 6 giờ chiều ngày 22 tháng 5 này đến tiếp Thượng toạ và Phái đoàn, xin Thượng toạ sẽ diễn giảng vào kỳ đó. Ngày mai, Thượng toạ đi chiêm bái, tôi đã cử một vị Đại đức đi hướng dẫn và đã báo cho các nơi biết, nhưng không nói sẽ đến đích vào ngày nào, vì đường tự nơi này đến nơi khác, hàng mấy trăm cây số một, mà lại đương mùa nắng nực, e đến không đúng để nhỡ việc cho người ta, chắc điều đó Thượng toạ cũng đồng ý.”

– “Ngài nghĩ thế thực chu đáo”. Tôi trả lời và hỏi thêm: “Ngày nào chúng tôi đi Colombo dự Hội nghị Phật giáo Thế giới?”

– “Tôi đã biên thư đến ban Trị sự của chi hội chúng tôi ở đó và có gởi thư riêng cho ông RAJA HEWAVITARNE là phó Hội trưởng Hội MAHA BODDHI TÍCH LAN để đón tiếp và sắp đặt nơi ăn nghỉ, cả bản đề nghị lên Hội nghị Phật giáo Thế giới của Thượng toạ, tôi cũng đã gửi đi rồi.

9. CHIÊM BÁI BỒ ĐỀ TRÀNG

Chư Tăng và ông Tổng thư ký Hội Đại Bồ Đề đã sửa soạn chương trình đưa chúng tôi đi chiêm bái các nơi Phật tích.

Đúng 7 giờ tối mùng 10 tháng 5, ô tô đến đón chúng tôi với Đại Đức  hướng đạo ra ga Houral lấy vé lên tàu. Đêm đó, chúng tôi phải ngủ ở tàu. Vì chúng tôi đi hạng nhất nên được rộng rãi, thư thái lắm. Nhân dịp thư thái, Đaị Đức hướng đạo có cho chúng tôi được nghe một đoạn lịch sử Đức Phật tổ tu ở Bồ đề tràng như sau: “Đức THÍCH CA khi còn ở nhà là Thái tử TẤT ĐẠT ĐA, đã nhiều lần xin Phụ vương đi xuất gia không được, đến một đêm kia thanh vắng, Thái tử bèn cưỡi ngựa vượt thành trốn vào tu ở Tuyết sơn suốt 6 năm, ép xác quá khắc khổ, đến nỗi nhịn ăn, nhịn mặc, làm cho thân thể gầy còm chỉ còn da bọc xương. Đã đến lúc Ngài không còn đủ sức lực để tu nữa, lúc đó Đức Phật mẫu ở trên cung trời thấy Ngài yếu quá, sợ đến chết mất. Phật mẫu vội vàng tự trời xuống khóc than mà khuyên rằng: “Nếu như Bồ tát Ngài cứ tu ép xác quá như thế để cho mình gầy, sức yếu mãi đi thì còn hơi sức đâu mà tu hành cho đến chứng được đạo quả”. Nghe Đức Phật mẫu khuyên răn đã hết điều, Ngài mới đổi chí hướng, bỏ Tuyết sơn xuống Buddhagâya (xứ Bồ đề tràng) xuống sông Ni Liên tắm táp rồi lại mặc áo cũ rách vào mình, đi đến cây Bồ đề, đương ngồi vá áo thì có ông VÔ CẤU QUANG là vua cõi Trời Tịnh Cư trông thấy, liền đem cái áo Cà sa xuống dâng. Lúc đó lại có Cô Nan Đà đương đi chăn bò thấy Ngài gầy gò, liền về nấu cháo sữa đem ra dâng cúng. Ngài dùng xong, lại có người cắt cỏ đem cho một bó. Ngài đỡ lấy rải xuống gốc Bồ đề, ngồi lên cương quyết thề rằng: “Ta lên ngồi đây tu thuyền mà không chứng được đạo quả, thề không bao giờ chịu bỏ cõi Bồ đề này mà đứng dậy”. Vừa dứt lời thề, thì hào quang ở đầu Ngài chiếu ra chói lọi khắp mọi  nơi, quả đất đã nhiều lần rung động làm cho bọn Ma vương khủng khiếp, chúng nó liền hô hào  kéo nhau đến, ra oai đánh đập, bắn chém tứ tung, toan bề hại Ngài, nhưng bao nhiêu gươm giáo, cung tên của bọn chúng đều biến ra  hoa sen cả. Bọn Ma vương vẫn chưa chịu, lại bảo nhau hoá phép ra làm mưa, làm bão tưởng chừng đến long trời, lở đất. Bỗng có Thần Hộ pháp hoá rắn uốn khúc che kín cho Ngài. Nó cũng chưa chịu, lại càng bực tức hơn nữa, cùng nhau chạy về cung, Ma vương lại cấp tốc sai con gái của chúng đem bộ sắc khuynh thành ra phô diễn đủ trò bỉ ổi, toan bề cám dỗ khiêu động ái tinh của Ngài, kết quả đều bị thần lực của Ngài chuyển biến cho các Ma nữ, yêu nữ, cô nào cũng hoá ra mặt bủng, môi nhợt, đầu bù, tóc rối, sau đều phải bảo nhau quỳ xuống xin Ngài mở lòng lân mẫn cho được hòan lại nhan sắc cũ, sẽ xin làm lễ quy y.

Sở dĩ Ngài hàng phục được bọn yêu ma ác nghiệt ấy, là vì chí nguyện của Ngài chỉ lo âu về sự đau khổ của chúng sinh, muốn tham thuyền để tìm đến cõi nguồn của phép diệt trừ đau khổ mà cứu độ chúng sinh ra khỏi bể thảm thành sầu. Chí nguyện bền vững ấy, đạo lực mạnh mẽ ấy, bọn Ma vương qủy quái kia ám hại làm sao cho nổi?

Hàng phục được bọn Ma vương rồi, Ngài lại vào ngồi Đại định vừa 48 ngày thì ngộ đạo. Vua Đế Thích hiện xuống chào mừng và thỉnh Phật đi truyền đạo để cứu độ chúng sinh”.

Tàu chạy suốt đêm cho đến 7 giờ sáng mới đến ga Thành Gâya. Từ đấy đến Bồ đề tràng là nơi Phật Thích Ca tu thành đạo còn 14 dậm Anh nữa, phải vào hàng cơm của sở Hỏa xa điểm tâm. Ăn xong, lại ra ô tô đến Trụ sở chi nhánh  Hội Đại Bồ Đề ở Gâya. Vào uống nước, nói chuyện qua với cụ Trụ trì; Sư Cụ Trụ trì cũng cùng đi với chúng tôi vào Bồ đề tràng.

Sư Cụ bản tự nói: “Ô tô đi đây là chạy qua con đường sông Ni Liên”. Sư Cụ nói, tai tôi tuy có nghe, nhưng vẫn chăm chú để mắt nhìn tất cả cảnh vật của nơi Phật tích mà bản tâm tôi kính thờ, ngưỡng vọng gần nửa đời tu hành. Vì nơi đó có hàm súc đầy sự huyền bí, huyền bí cả từ gốc cây ở mặt đất, cho đến vì sao ở trên trời. Chả thế mà hòang tử TẤT ĐẠT ĐA tu khổ hạnh ròng rã sáu năm ở Tuyết sơn không thấy chứng đạo quả, khi đến đây chỉ một lần tắm ở sông Ni Liên, dùng một bát sữa của Mục nữ, rồi tiến đến gốc cây Bồ đề ngồi, suy nghĩ vừa 48 ngày, bỗng một sáng mai thấy sao mai mọc mà ngộ đạo thành Phật.

Ôi! Khu đất Bồ đề tràng sao rộng rãi thế, bao la có đến mấy mươi mẫu đất, thỉnh thỏang lại nổi bật lên một khu cây cối um tùm che phủ cho đám dân cư giữa bãi cát vàng đương nắng như rang của nhiệt độ.

Ô tô vừa dừng bánh, một số thổ dân cả già, trẻ, trai, gái chạy ra, nhưng không phải để đón chào mà là xem khách lạ, vì tôi ăn vận phục sức Tăng già Việt Nam, họ thích nhất là khi được nhìn thấy bộ răng đen của tôi, hoá nên tất cả đều chăm chú nhìn vào tôi. Tôi nghe thấy trong bọn họ có một người chỉ vào tôi hỏi Sư Cụ bản tự: “Người này là thế nào?” – “Cũng tu hành như tôi”. Bấy giờ họ mới chào.

Đến nơi, chúng tôi cùng tiến bước lên đồi. Tôi ngửng mặt trông lên Phật điện và cây Đại Bồ Đề với tất cả cảnh vật chung quanh. Ôi! Sao mà đồ sộ, sầm uất thế. Lúc đó tưởng chừng như mắt tôi được thấy bảo tháp của Phật Đa bảo hiện ra: nghe kinh Pháp hoa trên hội Linh sơn của đức THÍCH CA còn tại thế. Vào đến gần Phật điện, nhờ người trông hành lý, ai nấy đều trút bỏ dép rồi mới được vào. Đến trước đài hương, ông Cẩn dâng hương, lại có ông già thổ dân đem đến bán hoa, ông Chữ trả tiền, tôi đỡ lấy một tràng hoa dâng lên cúng Phật, theo lễ Ấn Độ tức là đeo vào cổ Phật, còn một lẵng hoa nữa dâng ở bàn thờ. Tôi cũng như mọi vị đều quỳ lễ độ 40 phút, niệm hồng danh đức Bản sư THÍCH CA.

Quả thực lúc đó tâm tôi thổn thức, mắt tôi rơm rướm, nhìn lên Chân thân Đức Thế Tôn. Tôi không khẩn cầu với Từ phụ một điều gì cả. Trái lại chỉ thấy tự hổ mà suy nghĩ rằng: “Xưa Đức Thế Tôn cũng là người, sao Ngài sống với cuộc đời trong sạch sáng sủa? Nay con cũng là người, mặc dầu đã theo Ngài xuất gia mà vẫn sống chung với cuộc đời xấu xa, tối tăm mà người ta còn đương thi nhau đem màn ám muội mà che phủ cho tối mù mịt thêm mãi đi. Ngài cũng là người tu, mà tu đến giác ngộ chân lý vũ trụ, nhân sinh. Con cũng là người có Phật  tính, có tu hành, mà sao đối với chân lý vũ trụ nhân sinh, con chỉ thấy tối như đêm dầy như đất.

Trăm lạy, nghìn lạy Đức Thế Tôn, xin rủ lòng từ điểm hoá cho con cùng chúng sinh được giác ngộ”.

Lúc đó rõ ràng thấy tôi có cảm tưởng như nghe thấy lời Phật dạy rằng: “Này Cùng tử con ơi! Ta đã cảm thấu lời của con vừa hối hận với thân thế của con, ta cũng thương lắm rồi. Ta thương con thì những lời ta dạy bảo con đây, con cần phải suy nghĩ mà nhớ như chôn vào ruột đấy nhé. Này con ơi! Cõi trần thế là nơi bể khổ, con còn nhớ không? Quả đất này con đã có bao kiếp sinh ra cũng gửi ở đó, khi con chết đi cũng lại về với nó, con còn nhớ không? Con đã có bao phen ở quả đất này làm lòai cỏ cây đến làm loại cầm thú, côn trùng, cho đến khi làm người, khi vinh khí nhục, khí đắc, gian lao lận đận với bao nhiêu trần thế đau khổ, chưa chắc nước bể đã nhiều hơn nước mắt của con đã vẫy vùng khắp cõi với những đau thương khổ não. Nếu con đã biết khổ lại cần phải biết dục tâm, vọng ý của con là cõi rể khổ, con phải tức khắc chém chặt cho tiệt giống dục tâm, vọng ý đi, như thế là con cũng được giác ngộ và thoát khổ như tứ phụ của con đây. Nếu con chỉ than thở thân là khổ, đời là khổ mà không chịu tinh tiến nhẫn nhục mà tu thân hành đạo, thì con còn khổ”.

Lễ tạ xong, đứng dậy, lúc ấy tôi mới dám để mắt nhìn trong lòng Phật điện, chỗ tôi vừa lễ đây chỉ rộng bằng hai căn nhà thôi. Tượng Đức Thích Ca ngự trên tòa Kim cương, hai bên là tượng Di Lặc Bồ tát. Còn có một pho tượng đứng ở giữa mà đứng ở dưới đất. Sư cụ trụ trì liền chỉ vào pho tượng đứng đó mà cho biết rằng: Bồ đề tràng này đã bị giáo Bà la môn chiếm một thời gian, tượng thần SI HOA đứng đây là thần độc tôn của họ. Nay tuy đã trả Bồ đề tràng về Phật giáo, nhưng họ viện cớ rằng Thần SI HOA của họ được thờ ở Phật điện đây, cũng như các chùa thờ tượng Phạm Thiên, Đế Thích bên dưới tượng Phật vậy. Vì thế họ còn xin thờ tượng Thần SI HOA dước Phật điện.

Về phía sau Phật điện lại còn có hai thánh điện thờ tượng Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, chúng tôi đều có tới dâng hương lễ. Lễ xong các nơi mới xuống dưới Tháp để nhìn xem các kỳ công đệ nhất của Vua đệ nhất anh hùng trong lịch sử Ấn tức là Vua  A Dục. Ngài đã xây lên tòa Phật điện ở đây và còn nhiều nơi có dấu vết của Phật Thích Ca cả về quá khứ lẫn hiện tại. Có lẽ các cảnh kỳ quan của Phật giáo thế giới phải để nhường tòa Phật điện ở Bồ Đề Tràng là đệ nhất. Phật điện cao gần 80 thước tây mà xây trên đồi. Từ đỉnh đến chân và chung quanh, tứ phía đều bằng đá trạm trổ hình tượng Phật, Thánh và hình tượng bát bộ Hộ pháp, còn trạm trổ nhiều cảnh mỹ thuật về Phật giáo nữa. Còn có tới gần 1000 ngọn tháp vừa to vừa nhỏ ngọn có trạm trổ, ngọn để trơn, và còn nhiều thạch khí, trạm thành bình pháp khí, pháp bảo để bầy xung quanh. Muốn xem để nhận xét cho hiểu biết phải mất một thời gian khá lâu, và phải có nhiều người học rộng về Phật giáo mới có thể hiểu biết được các điển tích xây tạc ở đây.

Sau chúng tôi ra chiêm bái tòa Kim cương ở bên cây Bồ đề về phía sau tòa Phật điện. Ở đây cũng có tượng Đức Thích Ca ngồi, nhưng tượng tạc liền vào một tảng đá lớn rồi xây liền vào vách đá ở phía sau Phật điện chứ không tạc ngồi vào tòa Kim cương. Tòa Kim cương này tôi có đo theo thước ta, chiều dài 5 thước, chiều rộng 3 thước, trong lòng để trơn, chung quanh trạm, tựa như hình cái sập trạm bóng.

Theo lời phật dạy: “Vị Bổ sứ Bồ tát nào khi xuống Sa bà để nối ngôi Giáo chủ, cũng đều đến tòa Kim cương này ngồi tu phép Đại định cho đến chứng đạo thành Phật mới lên nối ngôi Giáo chủ cõi Sa bà”, Chư Phật trước Phật Thích Ca và sau Phật Thích Ca đều tu hành thành Phật ở tòa Kim cương này. Thế nên, mặc dầu bao thuở phong sương, bao lần ba đào đến long trời lở đất, làm cho cõi trần thế nghiêng ngả, tòa Kim cương này cũng vẫn còn ở nguyên. Đó chẳng là chân tướng của lý “bất sinh, bất diệt” ư?

Đến cây Bồ đề, trông hình dạng ngoài vỏ cây, hơi trăng trắng lại vàng vàng, lá xanh và mượt, tán nó dương xanh ngắt tận chín tận từng trời, rườm rà, âm u khắp khu đất để che vào tòa Kim cương là di tích thiêng liêng bất diệt. Sư cụ bản tự cho biết rằng: “Cái gốc to kia mới chính là cây Bồ đề che phong sương, mưa nắng cho Đức Thích Ca thuyền định đến giác ngộ đáng tiếc không còn, bởi vì trước đây giặc Hung nô sang xâm chiếm Ấn Độ, tàn phá chùa tháp. Chúa họ là Ca Xăng Ca (Cacanka) hạ lệnh đến phá chùa giết sãi và chặt cây Bồ đề của Phật ngồi tu đi rồi. Cây Bồ đề này đây chỉ là cái nhánh của nó mọc lên đấy thôi. Qua bốn thời xuân, hạ, thu, đông cũng đều xanh tốt âm u như thế này cả. Chỉ có đến ngày kỷ niệm Đức Phật tịch diệt là nó ủ rủ, rầu rĩ, rồi trút rụng đi hết cả lá, nhưng chỉ qua ngày lễ là lại đều  đâm lộc, chừng tuần lễ, cành nào cành ấy đều lại mượt mà, sin sít như thường”.

Sư cụ trụ trì nói tiếp: “Lịch sử Phật tổ Thích Ca có nói: Khi Đức Phật Thích Ca chứng đạo thành Phật, Ngài phóng hào quang chiếu đến cõi trời Đại Phạm. Vua cõi trời ấy có chiêu tập các vị thiên nhân mà bảo rằng: Thái tử Tất Đạt Đa tu đạo Bồ Tát ở dưới cây Bồ đề, nay Ngài đã chứng được đạo chính đẳng, chính giác là đạo sáng suốt hết thảy mọi lẽ. Ngài đã đem đạo ấy may làm áo nhẫn nhục, đúc làm gươm trí tuệ, hàng phục hết bọn Ma vương rồi, nay Ngài đương quanh bánh xe pháp để vận chở chúng sinh lên ngàn giác. Chúng ta tuy có phúc sinh ở thiên giới, làm người giới nhưng đối với Phật thì vẫn còn là chúng sinh, nay gặp được hội Ngài thuyết pháp, thực là hiếm có. Vậy nay chúng ta phải đến để chiêm bái, cúng dâng uy dung của Ngài.

Xưa Công chúa Sanghamitta chiết cành Bồ đề ở đây đem sang Tích Lan chao tay cho một vị Lão tăng đem trồng, đến nay cây Bồ đề đó đã thành một cảnh Phật tích nổi danh với hòan cầu của đạo Phật Tích Lan. Kế đến một Phật tử ở Tích Lan lại chiết cành ở cây Bồ đề bên đó đem sang Ấn Độ trồng ở vườn  Lộc uyển. Cây Bồ đề ở Lộc uyển hịên giờ cũng đã lớn đẫy hai người vầng”.

Lúc ấy ký giả có một cảm tưởng tựa hồ như cây Bồ đề nó đương bảo rằng: “Này khán giả! Núi Tuyết sơn kia là nơi hiểm trở, rét mướt độc nhất của dãy Hy mã lạp sơn, lại là cảnh âm u, tĩnh mịch nhất của nhà tu hành, thế mà Đức Thế tôn tu ở Tuyết sơn không chứng đạo quả. Còn như giống cây Bồ đề ở Ấn Độ đây, có thể nhiều như giống cây “đa” ở xứ khán giả, mà nó lại mọc ngay ở giữa cánh đồng bãi cát nóng cũng không khỏi náo nhiệt của hòan cảnh, thế mà Đức Thích Ca tu ở dưới gốc cây này lại giác ngộ”. Như thế có phải Đức Phật Ngài muốn biểu thị cho khán giả biết rằng: “Ngài không phải là ông Hòang độc nhất tu thành Phật, Ngài cũng không phải là thần, thánh độc nhất hoá thành Phật. Ngài cũng như số hằng sa chúng sinh có Phật tính, Ngài chỉ đem một Phật tính như ai mà tu thành Phật đó”.

Dưới đây là do cảm tưởng của ký giả ngâm bài tức cảnh:

Thích Ca thành đạo ở nơi đây,
Thế giới ba nghìn, Giác ngạn đây,
Kìa gốc Bồ đề tòa Phật chứng,
Này ngôi Bảo điện tháp vua xây,
Khơi nguồn bát nhã sông Ni rót,
Dẫn mạch từ bi núi Thứu vây,
Giáo tổ vì đời nêu cõi giác
Cho người kim, cổ biết đường ngay.

Tôi hỏi sư cụ bản tự:

– Bạch Cụ, bên gốc Bồ Đề này trước đây có pho tượng Đức Quan Âm Bồ Tát bằng đá to lắm, tương truyền rằng: hễ khi nào tượng Ngài chìm xuống thì đạo Phật không còn ở Ấn Độ nữa. Đầu thế kỷ thứ sáu, Thầy Đường Tăng đến đây chiêm bái cũng đã chìm đến ngực, từ ấy đến nay đã bao thế kỷ rồi, pho tượng đá cố nhiên không còn nữa, nhưng Cụ có biết chìm xuống chỗ nào, xin chỉ giáo cho biết”.

Sư Cụ đáp:

– “Tôi cũng thất truyền tụng như thế, nhưng cũng không biết chìm xuống chỗ nào cả. Nhưng Thượng toạ có biết tại làm sao lại chìm thế nhỉ?”

– Bạch Cụ! Đức Quan Âm Bồ Tát có phát nguyện giúp Đức Thích Ca mà hoá độ chúng sinh cả cõi Sa Bà này; Một khi mà nước nào còn có tâm niệm đến Ngài thì Ngài còn ứng hiện, nếu không tâm niệm đến Ngài thì Ngài không ứng hiện nữa thế nên tượng Ngài vừa chìm đi hết là Phật giáo không còn ở Ấn Độ nữa”.

Đại Đức hướng đạo cho biết rằng: “Bồ Đề tràng này trước đây còn đang bị giáo Bà la môn chiếm, các Phật tử thế giới tuy không ra mặt tranh đấu với họ bằng cách bạo động, cũng không cậy thế lực đòi lại cơ nghiệp của Đức Giáo Tổ. Nhưng mấy ngôi chùa của Phật tử Ấn Độ, Trung Hoa Nhật Bản và Tây Tạng đều làm lên ở chung quanh kia, đều là có công nghiệp duy trì Bồ Đề tràng này. Bác sỹ PRASAD là Tổng thống Ấn Độ hiện thời, cảm thấy trí cương quyết duy trì Bồ Đề tràng của Phật tử mấy nước đó nên Ngài mới can thiệp đòi lại cho”.

Tôi nói tiếp: “Có lẽ Phật tổ còn thương chúng sinh, nên giữa lúc ngọn Đuốc tuệ của Ngài bị lu mờ, tiếng cứu thế của Ngài bị im lìm ở xứ này mà các Phật tử ở Thế giới cứ điềm nhiên trong hòan cảnh, ở đâu biết đấy: “Cha chung không ai khóc” để mặc cho người ta chiếm đoạt tổ nghiệp, thì nhục nhã biết dường nào! Chúng ta ngày nay khỏi mang cái nhục ấy là nhờ có chư Tăng mấy nước kể trên đã làm lên mấy ngôi chùa đó để duy trì, xin Đại Đức dẫn chúng tôi đến để nhân danh Phái đoàn Phật giáo Việt Nam tỏ chút lòng kính phục”.

Nhờ có Đại Đức hướng đạo nên chúng tôi đến chùa nào, chư Tăng cũng lấy tình đồng đạo tiếp đãi rất quí hoá. Ngôi chùa chúng tôi đến cuối cùng là ngôi chùa thuộc về chư Tăng Tây Tạng. Chúng tôi đến chỉ có hai Sư bác ra tiếp, còn Sư cụ chủ với chư Tăng đang tụng niệm khoá ngọ. Vốn biết phần đông chư Tăng Tây Tạng tu theo Mật tôn tức là môn tu thần thông, tôi có ý đi tìm Sư cụ chủ để cầu Ngài chỉ giáo cho môn trì chú. Thực đáng tiếc cho tôi còn vô duyên với Mật tôn, nên khi đến phòng thấy Ngài đương ngồi thẳng thắn với nét mặt vẳng lặng, cặp môi đang rung động với trang thần chú, tôi vội vã lui ra, đến xem bộ kinh Tây Tạng bọc ngoài một vuông vải vàng. Tôi xin với Sư bác cho giở ra xem. Bộ kinh này theo thước ta, chiều dài tới thước bảy, rộng 7 tấc, còn có đến mấy trăm bộ kinh đều bọc vóc, nhiễu để vào hai tủ kính thờ ngay trên Phật điện.

Ông PHẠM CHỮ đến cho tôi biết đã hết giờ của buổi chiêm bái Bồ đề tràng. Buộc lòng tôi phải nhờ Sư bác chuyển lời kính chào Sư cụ rồi theo Phái đoàn ra ô tô. Về đến Trụ sở Hội Phật giáo Gâya đã 11 giờ trưa, nghỉ ngơi một chút lại phải ra hàng cơm của nhà Ga ăn cơm ngọ, để đi cho kịp chuyến tàu 2g50 đến Bà la nại.

 

10. CHIÊM BÁI LỘC UYỂN

 

Đúng 3 giờ chiều, tàu hỏa ở Gâya bắt đầu chạy, mãi đến 10 giờ đêm mới đến ga tỉnh BA-NA-NẠI (Bénarès) đã có ô tô đón sẵn. Đi bộ 10 cây số nữa thì đến Trụ sở Chi hội Phật giáo Lộc Uyển cũng thuộc về Hội Đại Bồ Đề. Vào tới nơi, chúng tôi uống nước vội vàng, rồi xin đi chào chiếu lệ cho phải phép, xong, đi nghỉ, vì đã phải hai đêm nằm tàu, ai nấy đều mỏi mệt và buồn ngủ. Sáng ra, Hòa thượng trụ trì cho người mời đến trai đường. Ngài tiếp chúng tôi ngay trong bữa điểm tâm sáng nay. Mở đầu câu chuyện Ngài cho biết quê quán ở Tích Lan, sang trụ trì chùa Lộc Uyển đã được 25 năm rồi, năm nay xuân thu đã mươi năm.

Ngài hỏi: Chư Tăng Việt Nam đều mặc áo như Thượng toạ ư?

– Vâng.

–  Sao không mặc Pháp y luôn ở mình như chúng tôi?

– Chư Tăng Việt Nam phần nhiều ở nhà quê phải làm việc, nên không tiện mặc Pháp y, chỉ có lúc lễ Phật, tụng kinh mới mặc.

– Làm sao có Pháp y?

– Do các thầy Giáo sư truyền thụ trong khi thụ giới.

– Pháp thụ giới ở Việt Nam như thế nào?

– Ở nơi nào có nhiều chư Tăng tu hành thì phải mời mười vị giới hạnh cao cả, nơi nào ít thì mời năm vị. Các Thầy được mời đó sẽ kết đàn làm phép theo luật Phật dạy mà truyền giới và ban áo cà sa cho.

– Chư Tăng Việt Nam có kết hạ an cư không?

– Nhiều lắm.

– Chư Tăng Việt Nam có tu thuyền định không?

– Về các đời Đinh, Lê, Lý, Trần phần nhiều tu thuyền định, nhưng hiện thời phép tu thuyền ở Việt Nam đã thất truyền.

– Nếu vậy thì không có môn tu nào nữa sao?

– Còn có môn tu Tịnh độ là môn tu niệm Phật, nếu niệm được nhất tâm thì cũng như tu thuyền.

– Bạch Hòa thượng – tôi hỏi lại: Ở đây có ruộng không?

– Khu Lộc Uyển này có vô số ruộng, nhưng để mặc người bản xứ họ làm họ ăn, mình đi tu để làm Đạo chứ có đi tu để làm ruộng đâu.

– Không làm ruộng lấy gì mà ăn?

– Cứ làm Đạo tự nhiên đủ ăn, không làm Đạo mà chỉ đi làm ruộng, dù có cũng chưa chắc đã giữ được mà ăn.

Đối với Hòa thượng này, tôi đã nhận được ở Ngài thổ lộ ra nhiều câu có đầy tư tưởng cao xa. Thấy tôi điểm tâm có vẻ ểu oải, Hòa thượng liền pha trò:

– Tuy chúng ta ăn chay, nhưng cũng cần phải ăn khỏe mới có đủ lực lượng mà tranh đấu cho Phật pháp chứ?

– Vâng, phải đấy, nhưng tiểu đệ xin nối lời thêm:

“Phải tu khỏe nữa mới đủ tinh thần tranh đấu cho Phật pháp”. Tất cả Tăng, Tục trong bữa điểm tâm này đều nẩy ra những nụ cười tươi tắn.

Điểm tâm xong, ra ngoạn cảnh, thì ra hôm qua Phái đoàn Phật giáo chúng tôi ngủ ở trung tâm ba tòa nhà gác có tới tất cả 74 gian, kiến trúc theo kiểu “Tịnh xá”. Hòa thượng trụ trì cho biết rằng: Ông vua thương mại hiện thời của Ấn Độ là Birla (Biếc La) tự xuất gia tài làm nên tòa tịnh xá này cung tiến cho hội Đại Bồ Đề để làm trường Phật học. Trong nội dung ba tòa nhà gác này, chia làm nhiều ngăn. Ngăn để chư Tăng thường trụ ở, ngăn để khách tăng đến ở, ngăn làm trường Tăng học v.v…Ngoài ra còn có nhiều nhà phụ tùng khác nữa. Cách xếp đặt rất khéo, đây chính là trụ sở của hội Phật giáo Lộc Uyển lại là trường Phật học của hội Đại Bồ Đề. Vì tháng này nóng nực quá, chư Tăng học sinh đều đi kết Hạ ở các chùa khác. Ở khu nhà tịnh xá đây không có Phật điện như các nơi, vì tòa Phật điện đã có ở giữa Lộc Uyển chỉ cách đây vài trăm thước tây.

Tôi đương ngoạn cảnh thì có người mời đi ra Phật điện chiêm bái. Khi đến Phật điện, nghi thức lễ bái cũng như ở Bồ Đề Tràng. Tòa Phật điện ở Lộc Uyển này là do hội Đại Bồ Đề làm lên, chứ không phải có tự cổ, nhưng cũng kiến trúc tựa như tòa Phật điện ở Bồ Đề Tràng. Tòa Phật điện mới này chính giữa cao độ 50 thước tây, còn tòa Bái đường có thể để cho vài trăm người lễ bái và ngồi nghe giảng được, rồi đến hai tòa “Chung lâu”, “Cổ các” đều cao độ 40 thước tây, bên ngoài tiếp liền với tòa Chấn môn, lại thành ra hình tòa Tam quan, làm theo kiểu kiến trúc này đẹp lắm.

Chính giữa Phật điện, chỉ thờ có một tòa tượng THÍCH CA ngự trên tòa Sư tử đá, trạm chổ theo điển tích Phật chuyển pháp luân ở vườn Lộc Uyển. Chính giữa trạm bánh xe có hai con hươu quỳ chung quanh, bên ngoài là các Ngài: KIỀU TRẦN NHƯ, năm vị Đại A La Hán ngồi nghe Phật nói pháp Tứ đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Bấy giờ chúng tôi mới đi xem các di tích ở Lộc Uyển. Khi còn ở Phật điện trông ra đã thấy một quả núi cao ngất trời mà cũng chẳng ra núi đất, cũng chẳng ra núi gạch, khi đến nơi, thì thời ôi! Phong xương ác nghiệt của thời gian đã vạc đẽo và bọn giặc giã tàn bạo đã cả gan tàn phá gần hết tòa Bảo tháp bằng đá trạm chổ, đủ thiên hình vạn trạng, chỉ thỉnh thoảng còn lại vài tảng đá đeo bám vào mỗi chỗ, thực đáng buồn thay cho nơi Phật tích mà cũng phải chung với kiếp vận bể dâu!

Đại đức hướng đạo cho biết rằng: “Vua A Dục xây ở Lộc Uyển này hai ngọn Bảo tháp, một ngọn cách đây độ hai cây số, ngọn ấy xây để kỷ niệm chính chỗ của thánh tăng KIỀU TRẦN NHƯ với bốn vị bạn của Ngài khi thấy Phật bỏ lối tu quá khắc khổ, đi ra tu theo Trung đạo, nên cả năm thầy đều bỏ Phật đến đấy tu khổ hạnh, tức là vẫn kiên trì tu theo phép tiểu thừa là lối tu quá ư ép xác. Khi Phật THÍCH CA thành đạo rồi, Ngài liền đi tìm năm vị để giáo hoá, khi đến đấy là gặp. Còn ngọn Bảo tháp này xây lên để kỷ niệm chính nơi mà đức THÍCH CA tìm thấy năm vị đem đến đây mới thuyết pháp “Tứ đế”. Ngọn Bảo tháp này còn có xá lợi của Phật, ngọn kia họ đào phá tứ tung ra để lấy đi mất hết rồi”. Nghe nói động tâm, tôi gần xa lệ. Nhưng phải cố trấn tĩnh để tìm xem những quý vật của ngọn Đại bảo tháp này bọn giặc phá ra đem đi đâu mất cả? Đại đức Hướng đạo biết tôi đương suy nghĩ cố ý tìm tòi những cái gì thiêng liêng, huyền bí mà đức Phật Ngài đã cho đứa con lạc loài của Ngài được thấy ở ngoài Bồ đề tràng hôm qua, liền nói với tôi: “Này Thượng toạ, ở sông Hằng có cái cầu xây toàn bằng đá trạm chổ là do ông Chúa ác nghiệp phá lấy ở tháp đây đem ra xây đấy. Nhưng đây mới là xem Phật tháp bị tàn phá, bây giờ chúng ta đến xem Phật điện, Tăng đường còn di tích của lịch sử Phật giáo huy hoàng mà nay đều bị tan hoang”.

Đi độ vài trăm thước, đến một khu độ ngót hai mẫu ta, toàn thấy những chân tường xây bằng gạch chỉ còn có sát mặt đất mà ăn sâu đến bẩy thước ta, đều có đường đi thông với nhau, thỉnh thoảng lại có một chỗ độ bằng chiếc chiếu thụt vào. Đại đức hướng đạo hỏi: “Thượng toạ có biết kiểu nhà Tăng làm có Thuyền hốt không?”

– Tôi có biết! Nhưng chỗ lõm vào bằng chiếc chiếu kia chứ gì?” Tôi chỉ lên cái nhà bằng kẽm đằng sau có cái cột đá đứng dựng to lắm, mà đã gẫy một nửa, người ta mới làm hàng rào sắt để ngăn. Hỏi: “Đây là gì?”

– Đây chính là Sư tử toạ của Phật ngồi để thuyết pháp khi còn tại thế. Sợ lâu ngày mưa trôi mất dấu tích, nên phải làm nhà kẽm để che. Cột đá kia cũng của A Dục vương xây để ghi khắc lời đức THÍCH CA di chúc rằng: “Sau này đức Di Lặc ra đời khi tu thành Phật, Ngài cũng lại ra thuyết pháp độ sinh lần đầu tiên ở Lộc Uyển này.

– Khu Lộc Uyển rộng độ bao nhiêu?

– Chu vi tới 50 dậm Anh (90 cây số), chung quanh có 3 cái hồ, khi Phật còn tại thế, Ngài thường tắm ở một hồ, giặc y phục ở một hồ và rửa bình bát ở một hồ. Khu đất này thỉnh thoảng lại nổi lên một quả đồi và nhiều cây cối. Đại đức nói tiếp: Thượng toạ chèo lên chóp quả đồi kia mà xem, sẽ thấy cảnh trí đẹp, thiên nhiên của nơi Phật tích”. Tôi liền đi một mình lên mặt quả đồi, thấy còn rất nhiều tảng đá trạm chổ vất ngổn ngang dưới rừng cây um tùm. Tôi ngắm xem tất cả cảnh Phật tích bao la man mác đã để lại bao nhiêu dấu vết tàn phá của phong sương và của những quân giặc Hung giặc Hồi. Càng thấy cảnh, lòng càng thổn thức. Bài tôi vịnh tức cảnh dưới đây, chính là muốn miêu tả lúc đương uất ức với hai bọn giặc tàn ác vô đạo:

Càng nhìn Lộc Uyển Phật trường xưa,
Toàn thấy lòng đau với lệ sa.
Rào sắt rêu phong tòa Tứ đế,
Vườn hiêu cỏ rậm lối Tam thừa.
Nhà Tăng hết đã cây chen đá,
Dấu Phật còn chăng Tháp với Hồ,
Cảnh ấy lòng này hương một nén,
Pháp luận mau chuyển chúng sinh chờ.

Ký giả đương bồi hồi thổn thức, thì Đại Đức hướng đạo đột ngột làm dật nẩy mình lên bằng câu hỏi: “Có lẻ Thượng toạ đương thổn thức với cảnh vật tiều tụy của nơi Phật tích này lắm thì phải?”

– Vâng, tôi đương ảo não lắm, tôi tưởng người tôi không phải là loài mộc thạch, đối với nơi Phật tích bị tan hoang sụp đổ này, ai mà không xúc động?

Hỏi: – Sáng tạo ra nơi Phật điện vô biên công đức này, cũng là do một người có quyền hành độc nhất, đến khi hạ thủ phá hoại đi, cũng lại do một người có quyền hành độc nhất. Thượng toạ có thấy Đức Phật đối với người ấy ra sao không?

Đáp: – Vua Lương Vũ làm chùa để xương minh đạo Phật, Pháp, Tăng, được hưởng phúc ở thiên đường. Vua Chu Vũ đuổi Tăng phá chùa để toan phá đạo Phật, Pháp, Tăng, phải chịu tội ở địa ngục. Vua A Dục tu đạo nên Phật Trường này, Vua Xa sang Ca giết Tăng chúng, phá hoại Phật Trường này, tất nhiên cũng như Lương Vũ và Chu Vũ, ấy là cái lẽ định đoạt của nhân quả phải theo thiện tâm với ác tâm của người đời mà thưởng phạt. Còn đến Đức Phật Ngài đối với người tu đạo, người phá hoại, Ngài đều vô tâm cả. Ngài chỉ cho người tu đạo, người phá hoại cũng như hai con chim sẻ húc núi Tu Di mà thôi. Vì tu tạo, đạo Ngài cũng vẫn còn, đến phá hoại, đạo Ngài cũng vẫn còn, cũng tỷ như núi Tu Di có bao giờ siêu đổ với sức húc của hai con chim sẻ.

– Thượng toạ có dám nhận nơi này là chân thực Phật địa không?

– Bàn về lý Phật tức tâm địa thì tôi không nhận, còn bàn về tông tích Phật địa ở nơi này thì tôi quả quyết nhận. Về tâm lý thì Phật dạy: “Người đời không được say mê nơi giả ảnh và giả cảnh mặc dầu cảnh vật và hình ảnh ở vào phạm vi hình thức nào. Phật cho rằng: Tất cả muôn hình vạn trạng ở đời đều là giả cảnh hay là giả ảnh ráo, vì thế mà tôi không nhận nơi này là chân thực Phật địa, trái lại chỉ nhận tâm tôi là chân thực Phật địa.

Bàn về Phật tích thì hiện tất cả Phật tử thế giới đều một lòng ngưỡng mộ về nơi Phật tích này vì nó có một giá trị thiêng liêng của Phật giáo, khiến cho người đời thấy cảnh phát tâm rồi tu hành đến “minh tâm kiến tính thành Phật” được. Giữa chúng tôi đây, hẳn ai cũng nhớ câu “Mượn cảnh chùa, Tượng Phật mà tu trì cho đến minh tâm: “Giả hương đài sắc tướng dĩ minh tâm”.

Ông PHẠM CHỮ vừa thông ngôn xong, liền cho tôi trông đồng hồ ở tay, thì ra đã gần 12 giờ rồi, liền cùng nhau vội vã về Hội quán thụ ngọ kẻo Hòa Thượng cùng Chư tăng đợi.

Dùng cơm xong, đương ngồi uống nước thì Hòa thượng trụ trì thốt nhiên hỏi: “Thượng toạ thấy lịch sử Phật Tổ Thích Ca nói về nơi Lộc Uyển này thế nào, xin cho chúng tôi nghe với?” Nghe hỏi tôi lấy làm e lệ quá, vì tôi không nhớ hết, vả lại, không biết chỗ lịch sử tôi học nó có giống với Hòa thượng Ngài biết không? Vì sách Phật giáo nói về lịch sử Đức Thế tôn nhiều lắm. Nhưng thôi “đem chuông đi đấm nước ngoài” dù chẳng kêu ta cũng cứ đấm, dẫu chẳng cầu vinh nhưng cũng gỡ cho khỏi nhục vì dốt. Nghĩ thầm thế rồi Ký giả liền đáp:

– Bạch Hòa Thượng, tôi xin kể sơ lược, nếu có sai lầm xin Ngài chỉ giáo thêm cho.

Một hôm, vua cõi giời đại Phạm cùng với rất nhiều thiên nhân cùng đến chốn Phật thành đạo, lễ xuống sát chân Phật mà bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, Ngài chỉ vì chúng sinh, đau khổ mà phải xuất gia cầu đạo để diệt trừ cõi rễ đau khổ cho chúng sinh, nay Ngài đã thành Phật, xin Ngài mau chuyển xe pháp nhiệm mầu để giáo hoá cho chúng sinh. Chúng sinh đương mong chờ nghe pháp của Ngài không khác gì người đương đói mong được ăn, đương đói mong được sáng.

Bấy giờ Đức Thế tôn nhận lời thỉnh pháp của vua Phạm Thiên, mới đi tới vườn Lộc Uyển đây để tìm năm ông đệ tử trước cùng tu với Ngài là: Kiều Trần Như, A Thấp Bà, Bạt Đà, Ma Ha Nam và Thập lục Ca Diếp. Đến nơi tìm thấy đủ cả năm ông. Phật liền chuyển xe pháp Tứ đế mà giáo hoá rằng: “Này lũ các ông Kiều Trần Như! Các ông nên biết rằng: Năm uẩn là sắc, thụ, tưởng, thành, thức ở thân con người ta, nó mà nồng nàn quá là bị khổ, sinh là khổ, già là khổ, ốm là khổ, chết là khổ, yêu nhau mà phải ly biệt là khổ, ghét nhau mà cứ phải gặp nhau là khổ, muốn gì mà cầu cạnh không được là khổ, các ông nên biết, các sự phiền não Tham, Sân, Si, là cái nhân nẩy ra mọi quả khổ, các ông nên đoạn trừ, cõi tịch diệt (vẳng lặng) là cõi sung sướng nhất các ông nên chứng, đạo Bồ Đề là đạo giải thoát, các ông nên tu đi”. Phật vừa giáo hoá xong năm ông bỗng thấy tự tâm chứng được đạo quả A-La-Hán, tức là lên ngôi Thánh cao nhất hàng thánh của Tiểu thừa.

Sở dĩ có ngôi Tam Bảo là bắt đầu từ đấy, Đức Như Lai Đại giác là ngôi Phật Bảo; bốn phép diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo là ngôi pháp bảo; năm vị A-la-Hán vừa nói trên là ngôi Tăng bảo. Nói tóm lại Lộc Uyển đây là nơi Tam Bảo địa mở ra trước nhất của Đức Giáo chủ Thích Ca của cả Phật tử thế giới”.

Đến chiều, tôi xem ý cả Phái đoàn đều có vẻ mệt mỏi, vì đi nhiều và thức đêm giữa lúc tiết trời nóng nực quá, mới cùng nhau bàn ở lại đây nghỉ ngơi một ngày mai nữa, rồi sẽ lại đi chiêm bái nơi khác.

Chiều hôm ấy, mãi đến 5 giờ, một vị Đại đức ở Hội quán đưa chúng tôi ra xem viện Bảo tàng. Đi bộ 500 thước tây thì đến. Lấy vé vào cửa rồi ai nấy đi xem tự do. Viện này ngày trước người Anh trông coi mới trả lại cho chính phủ Ấn Độ, Viện bảo tàng này khác hẳn với Viện Bảo tàng ở nơi khác, vì toàn có đồi đá và có đến 7/10 là di tích về Phật giáo ở các ngọn chùa tháp thuộc về các nơi Phật tích mà bọn giặc lấy đi không hết người ta đem về để ở đây. Ba tòa nhà có tới 20 gian rộng, ngăn đôi thành 40 gian. Bất cứ vật di tích lớn nhỏ đều để trong viện này mà đều đề chữ Anh đánh dấu niên lịch sáng tạo ra các vật bảo đó. Chúng tôi xin xem lượt qua cũng đã hết hai tiếng đồng hồ. Nếu muốn xem để nhận xét kỹ lưỡng phải hết đến tuần lễ, mà phải có lực học Phật rộng lắm mới hiểu hết điển tích.

Sáng hôm sau chúng tôi lại đi xem các cơ quan Từ thiện của Hội Đại Bộ Đề đã thực hiện được nhiều tôn chỉ từ bi, phương tiện để giúp ích cho dân chúng xứ này.

Phật tử chúng ta ai cũng phải phục về mục đích truyền bá về văn hoá ở đây. Mặc dầu là nơi Phật tích, nhưng chỉ là nơi thôn quê, dân cư cũng không lấy gì làm đông, thế mà Hòa thượng trụ trì Ngài tổ chức nên Thư viện về Phật giáo rộng bằng bốn căn nhà, đều có đủ hình kê vây khắp cả, tủ nào bên trong cũng đựng đầy kinh, sách, có bàn ghế đầy đủ để cho độc giả ngồi. Bên cạnh Thư viện lại có trường học dạy theo chương trình Chính phủ Ấn cũng do Hòa thượng sáng lập nên, có đủ các lớp Tiểu học và Trung học. Các Giáo sư toàn là Phật tử phụ trách. Chúng tôi đương xem trường học lại có người rủ ra xem phòng phát thuốc làm phúc. Đến nơi thấy có nhiều người cầm chai lọ đến xin thuốc. Tôi vào chào vị y sĩ cũng là Phật tử, tôi liền hỏi: “Mỗi ngày có độ khoảng bao nhiêu người đến xin thuốc, và tiền mua thuốc lấy ở đâu?”

– “Trung bình mỗi ngày có 100 người đến xin thuốc. Tiền mua thuốc để phát, đều do các Hội viên Hội Đại Bồ Đề góp nguyệt liễm và các nhà từ tâm giúp”. Lúc đó tôi cảm động quá với tấm lòng vàng của các nhà mộ Phật xứ này, đã biết mộ Phật bằng thực tế, mới bảo ông PHẠM CHỮ khi về dâng Hòa thượng trụ trì 200 roupies (tính theo tiền Đông Dương linh 800$). Đi qua phòng phát thuốc một quãng, lại đến bệnh viện cũng để làm phúc, cũng do Hòa thượng trụ trì đứng ra kiến trúc, nhưng độ hai tháng nữa thì mới làm xong.

Thực ra hai hôm nay tôi rất buồn rầu về hiện tượng tiêu điều tan tác của cảnh Lộc Uyển. Đến đây được thấy Hội Đại Bồ Đề thực hiện được cơ quan từ thiện để phụng sự nhân loại ở Lộc Uyển, do Hòa thượng trụ trì lãnh đạo, Ngài đã thực hiện được lòng từ bi của Đức Phật ra làm công việc cứu tế mà tôi đã mục kích. Tôi tin rằng: Nếu những việc “pháp thí, tài thí” này mà tiếp tục được mãi, thì nơi Phật tích này, có thể phục hưng được một cách rất nhanh chóng. Lúc đó tôi thấy tâm hồn vui vẻ, liền tức cảnh:

Đạo có người làm, Đạo mới hay,
Này Bồ Đề Hội thực hành đây.
Học đường dạy trẻ thêm công hiến,
Thư viên cung đời đủ sách hay.
Phòng phát thuốc không, tiền Hội chịu.
Nhà thương làm phúc, đất Chùa xây.
Cứu dân độ thế noi gương Phật,
Phật ở lòng người mãi mãi đây.

 

11. CHIÊM BÁI SONG LÂM

 

Từ Lộc Uyển đến Song Lâm, nếu đi tàu hỏa phải lên ga tỉnh Ba-la-nại. Vì muốn xem cảnh tượng kinh đô của các Tôn giáo ở Ba-la-nại, nên 5 giờ chiều chúng tôi ở Lộc Uyển, ra Ba-la-nại, đến đây, chúng tôi đi xem cả bằng đường bộ lẫn đường thủy cho tới 9 giờ rưỡi mới lấy vé. Đúng 10 giờ tàu chuyển bánh, với con đường dài 300 cây số, cho tới 7 giờ sáng hôm sau mới đến ga Goruqua, xuống ga vào hàng điểm tâm xong lại ra ô tô đi đến 80 cây số nữa mới đến Song Lâm là nơi Đức Phật tịch.

May sao vừa xuống xe thì gặp được vị sư Ni người Tàu chừng độ 39 tuổi, thấy chúng tôi liền ra vái chào hết sức mừng rỡ, mời đón vào Chùa thì thấy đương tu đạo dở dang, gỗ lạt còn bỏ ngỗn ngang, xem phong cảnh thì Chùa này cũng nghèo, nhưng lễ độ cư xử của người đối với chúng tôi thật đáng phục, chúng tôi gửi hành lý rồi ra chiêm bái. Ra khỏi cửa Chùa đã trông thấy Phật điện và Bảo tháp.

Theo lời Đại đức hướng đạo: “Vì Đức Phật Thích Ca tịch ở đây, nên có nhiều xá lợi của Phật để trong bảo tháp này”. Mực thước bảo tháp này cũng ngang với bảo tháp bên Lộc Uyển, mà vẫn còn nguyên vẹn, lại được Chính phủ Ấn Độ mới tu sửa lại những chỗ hư hỏng. Bên dưới chân tháp có Phật điện. Phật điện ở Song Lâm, mặc dầu có tu bổ lại, nhưng không đồ sộ nguy nga như các nơi khác, vẫn giữ nguyên cái khung khổ của một cái lăng cổ, xây vuông chạy dài khoảng 7, 8 thước tây, trên đỉnh có mấy cấp giống như bậc lên, có một cửa đi vào để lễ Phật. Cửa nhỏ hẹp chỉ đi lọt hai người. Tôi mặc áo cà sa sẵn, đến nơi quỳ lễ ngay chứ chưa dám nhìn lên. Xong ba lễ, tôi vẫn quỳ để toan khẩn cầu, bỗng thấy tâm hồn hồi hộp, nước mắt chạy quanh. Tại sao lại cảm động như thế? Vì tôi vừa thấy tượng Từ phụ Thích Ca nằm mở mắt như khi còn hiện tại, tưởng chừng như Ngài nhìn vào tôi, đầy vẻ từ bi lân mẫn, không khác ông bố nhìn nhận đứa con yêu mới đi đâu về. Lúc đó đối với Phật tôi cứ nhìn vào mắt Ngài tựa như đứa con hư hỏng, chót dại bỏ cha đi “tha phương cầu thực”, nếm trải bao nhiêu phong trần cay đắng, trải qua biết bao cảnh thế nổi chìm, ngày nay mới quay về với thân phụ. Tâm tôi càng xúc động thì mắt tôi càng chăm chú nhìn Ngài. Tôi bỗng khóc òa lên mà than rằng:

“Từ phụ của con ơi! Khi Từ phụ còn ở đời thuyết pháp mầu, tế độ chúng sinh, thì đứa con của Từ phụ này còn đương bị lưới phiền não vây phủ chân tâm, tự tạo lấy dây nghiệp báo để trói trằng trong bao kiếp luân hồi khổ não. Nay con đã được làm người, lại nhờ có thiện duyên xuất gia học đạo của Từ phụ, thì Từ phụ, lại đã tịch đi hơn hai ngàn năm rồi, thật đau đớn cho con biết nhường nào. Hôm nay đây, con được đến thăm dấu vết cũ của Từ phụ, chiêm bái trước sắc thân của Từ phụ, con thiết tha dâng lên Từ phụ tất cả lòng thành kính lẫn mối đau khổ của con và chúng sinh, dám mong mắt trí bao la, lòng từ quảng đại của Từ phụ lân mẫn xét soi”.

Lúc tôi còn đương ủ rũ quỳ trước mặt Phật mà khóc than, bỗng cảm tưởng như nghe thấy những câu an ủi từ miệng vàng của Từ phụ nói ra rằng:

“Này con ạ! Ta xưa cũng đều phải theo luật biến thiên, nghĩa là cũng như con nay, đã có hợp thì phải có tan, có sống thì phải có chết; nhưng sống là gửi mà chết là về. Thân ta tuy đã về cõi Niết bàn vô biên giải thoát, nhưng đạo lý của ta vẫn còn khắp thế gian, đạo của ta tức là thân của ta đấy. Nếu con biết thương thân bao nhiêu, lại càng phải lấy đạo của ta mà dùi mài lấy thân bấy nhiêu. Con nghe lời ta, thực hành đạo của ta, quyết nhiên lúc nào con cũng thấy thân ta. Nghe lời ta, con sẽ độ được con và chúng sinh, tức là ta độ con và độ chúng sinh đấy con à!”

Không biết ai khéo ra mẫu cho thợ tượng mà họ tạc tương Phật giống như in thế. Tượng Phật nằm gối lên khuỷu tay của Ngài mà lại mở mắt, hai con mắt giống như nụ sen xanh, nét mặt y như trăng rằm, thân Phật dài trượng sáu. Toàn thân Phật đều phủ kín bằng một bức gấm hoa, chỉ để hở có hai bả vai với hai bàn chân thôi. Phật nằm trên toàn đá. Trạm chổ toàn những hình ảnh bi ai như lúc sắp vào Niết bàn. Buồn thảm nhất là hai tượng Ngài Ca Diếp và A Nan, là hai đệ tử nhất nhì của Phật. Tượng hai vị này quỳ khóc lóc bên tòa lúc mà Đức Phật Ngài sắp nhập diệt. Tôi còn đương quỳ để chiêm ngưỡng mặc niệm, thì bỗng có khách vào lễ, đành phải vái tạ đứng lên. Nhưng tôi còn đi vòng quanh tòa Phật nằm, tôi lại đánh bại khẽ lật xem. Xem vừa xong, lại ra nghiêm trang đọc trước mặt Phật:

Ba cõi đạo sư hiện tại còn,
Ngửa trông Đại giác Thích Ca Tôn.
Ba hai tướng báu y như đúc,
Trượng sáu thân vàng hệt đổ khuôn.
Mặt nguyện hình dung bao phúc tuệ,
Mắt sen thấu đáo mấy càn khôn.
Chẹn hương khấn trước tòa Từ phụ,
Tế độ quần sinh lẫn chúng con.

Xưa kia Đức Phật tịch rồi, còn lập Hỏa đàn để làm lễ phần thân, tức là làm lễ thiêu rồi lấy xá lợi rước vào tháp, còn bao nhiêu tro tàn đều để vào ngôi tháp ở nơi làm lễ phần thân mà chúng tôi sắp đến nơi chiêm bái bây giờ đây.

Từ Phật điện đến hỏa đàn còn phải đi qua một cánh đồng dài độ ba cây số. Mặc dầu đương nắng như thiêu như đốt của giữa trưa mùa hạ, chúng tôi cũng cố đi đến. Còn cách độ một cây số nữa, đã thấy cảnh hỏa đàn um tùm, tôi cứ tưởng hảo đàn ở trên một quả núi giữa cánh đồng, nhưng đến nơi thì lại là núi gạch của cây bảo tháp bị tàn phá còn lại, phần nhiều gạch đã hoá ra đất, người ta đem trồng lên đỉnh nó hai cây Bồ đề, hiện thời hai cây đã tỏa ra thành cây bảo cái thiên nhiên rườm rà che phủ cho cả quả núi gạch đất tới ba sào ruộng. Dấu vết của người ta đào phá ra để tìm xá lợi còn để lại suốt bên này sang bên kia giữa bảo tháp, ai là con Phật đến nơi này trông thấy cũng phải mủi lòng sa lệ.

Chúng tôi lên tới nơi, thấy một cánh cửa bằng sắt tây, buộc vào cái cột bằng cành củi khô chôn xuống đất, mà cánh cửa thì đóng. Một mảnh giấy đỏ đề bằng chữ Hán rằng: “XUẤT HÀNH TĂNG PHẬT TUỆ”, nghĩa là: “Khi ra đến đường phải làm cho đạo Phật thêm sáng sủa”. Bên trong cánh cửa hiện ra một gian nhà cỏ đã củ kỹ ở lọt vào gốc cây bồ đề.

Bốn chữ hán với gian nhà cỏ ấy, khiến cho ký giả đoán chắc thể nào cũng lại có một vị xuất trần hiền tăng người Trung Hoa hay Nhật Bản bế quan tu thuyền ở đấy. Chúng tôi còn đương ngồi nghỉ ở gốc cây bồ đề thứ hai ở bên ngoài, bỗng nghe tiếng oan oan tiếng thổ đồng của vị Lão tăng người Trung Hoa từ trong cổng ra. Chúng tôi ai nấy đều vội vã đứng cả dậy, kính cẩn vái chào và bạch thực rằng: “Chúng tôi là Phái đoàn Phật giáo Việt Nam đến chiêm bái”.

Vị Lão tăng tỏ vẻ hoan hỷ lắm. Ngài toàn dùng tiếng Ấn Độ nói với người thổ dân đi cùng chúng tôi rằng: “Bần tăng ở đây chỉ có một mình thôi, không có nhà cửa, bàn ghế gì để mời quý khách vào nghỉ, cũng không có tiểu tăng đâu mà sai đun nước, xin mời các vị ngồi nghỉ chỗ cũ, để bần tăng đi lấy bầu nước lã ra đãi quý khách”.

Ngài vừa vào qua cánh cổng, đã xách ngay ra một bình nước giếng mà người ta mới xách lên cho, với mấy cái bác sành mời chúng tôi uống nước. Ngài đứng nói chuyện với chúng tôi đến hơn nữa giờ, cứ luôn mồm nói nói, cười cười rất vui vẻ mà đạo vị. Ngài còn cho biết rằng: “Khi tôi (vẫn là Ngài), 31 tuổi, từ Trung Hoa qua đây chiêm bái, thấy các nơi Phật tích ở khắp Ấn Độ này đều bị vật đổi sao dời, vì phong sương, vì giặc giã đã tàn phá, nhất là ngôi mộ của Đức Giáo tổ chúng ta đây, bấy giờ còn tan hoan, bừa bãi lắm. Tôi lo các Ngài ngoại đạo cũng như các người du lịch trên thế giới họ phê bình đến số Trưởng tử của đấng Từ phụ là chư Tăng, Ni, chúng ta quên mất mồ cha khi khóc đống mối. Sau khi chiêm bái xong trở về Trung Hoa, tôi nhất quyết bỏ học, trốn thầy tôi sang ở đây, từ bấy đến nay đã được 25 năm rồi. Thổ dân ở đây người ta cho mỗi ngày một bữa cơm dưa muối, nhưng không bao giờ tôi phải nghĩ đến sự tôi đói cơm rách áo nơi đất khách quê người, chỉ một niềm gửi thân hoa cỏ cho được sớm khuya hương khói ở đây thờ cúng nơi phần mộ của Đức Từ phụ”.

Lão tăng hoan hỷ là đời tu của người đã báo hiếu được đấng Từ phụ, nên trong khi Ngài nói ra những câu cay đắng, sót xa, mà nét mặt vẫn vui vẻ tươi cười. Riêng ký giả nghe thấy thấm thía, mủi lòng sa lệ, bảo ông PHẠM CHỮ dâng kinh Ngài một món tiền. Người thổ dân vội gạt đi nói:

– “Chứ! chớ! Lão từ khi đến tu ở đây, không hề cầm lấy tiền của ai cho bao giờ, chỉ có ai đưa đến cho gạo, củi, rau, muối thì Ngài mới nhận”.

Ký giả hỏi người thổ dân:

– Thế người có hay đi vào các làng không?

– Có, nhưng thỉnh thoảng thôi.

– Người xuống làm gì? Và có ai cho gì, lúc đó người có lấy không?

– Lần nào xuống, Ngài cũng chỉ đi giáo hoá, ai cho gì cũng không lấy và bảo: “Nếu cho lão thức ăn, xin quá bộ đem đến am cho, chớ lão không tiện mang”.

Câu chuyện đã dài, lão tăng liền mời chúng tôi đi ngoạn cảnh để người vào thụ trai kẻo quá ngọ. Tôi mừng thầm rằng sẽ lại được chứng kiến bữa ăn khổ hạnh của vị lão tăng mô phạm này. Tôi rủ các đoàn viên giả vờ đi ngoạn cảnh đấy thôi, chứ ở đây chẳng có Phật điện, bảo tháp gì mà chiêm bái và ngoạn cảnh như các nơi.

Ký giả mượn cớ ngoạn cảnh, bước luôn vào gian nhà cỏ, chợt thấy bàn tay khô héo đương dúm một thứ tựa như cám, bỏ vào miệng. Tôi nhìn kỹ thì trời ơi! Sao quá ư khổ hạnh! Món thuyền vị mà lão tăng đương thụ đó là thứ cơm khô, rang lên rồi tán nhỏ, vì đã móm không còn nhai được nữa, cứ mỗi dúm bỏ vào miệng lại phải chiêu một hớp nước lã mới trôi được. Ký giả đánh bạo đi xem vài cái hũ và lọ sành để lỏng chỏng ở chân giường, mở ra xem thấy nhẵn không cả, chỉ còn cái vò con là còn độ mấy bát cơm khô, các đồ vật hành dùng chỉ có mấy tấm áo với một cái chõng tre, dưới hầm có vài cái hỏa lò để tay còn hơi nóng; đuợc thấy rõ đời tu khổ hạnh của nhà xuất thế mô phạm, ký giả trở ra vừa gặp các đoàn viên với người thổ dân cùng đến cửa. Người thổ dân chỏ lên cái trạc ba ở lưng chừng cây bồ đề bảo tôi. Ký giả ngẩng lên xem, thấy tựa như hình cái chuồng chim bồ câu, tự nghĩ chắc không phải, vì nếu là chuồng chim thì phải có cửa, chẳng có lẽ nào Ngài lại nuôi chim? Hay là miếu thờ cô, cậu, song chẳng có bát nhan hoặc đồ thờ cúng gì cả. Ký giả đi tìm thang để lên thì ra đã bị lão tăng đoán cất đi rồi. Chừng hiểu ý tôi muốn lên xem để khám phá nơi huyền bí, nên lão tăng đương ở trong nhà ra bảo cho biết rằng: Không lên được đâu? Đấy là thuyền thất riêng của lão tăng. Ký giả cảm phục quá, quay lại lễ Ngài rồi bảo ông PHẠM CHỮ chụp ảnh làm kỷ niệm, nhưng ba lần đưa máy ảnh ra, lão tăng đều lấy áo che mặt nhất định không cho chụp. Vì lòng khâm phục bậc lão tăng siêu việt, nên ký giả viết tặng Ngài bài sau đây:

Xuất gia như Cụ mấy ai đây,
Một hạnh tu tròn, muôn hạnh hay.
Ngoài áo bát kia không bận bịu,
Trong am cỏ nọ lắm vui say.
Đã quen mùi đạo dưa cùng muối,
Nhường thấy việc đời bọt với mây.
Nhắn nhủ thuyền sơn bao Phật tử,
Song Lâm mau đến học Sư Thầy.

 

12. CHIÊM BÁI THỨU LĨNH

 

Ngôi chùa của chư Tăng Diến Điện cách núi Thứu chừng 6 cây số, chúng tôi định vào chùa này gửi hành lý rồi thượng sơn. Vì trời nắng quá, xem ý Phái đoàn ai cũng mệt mỏi cả. Cụ bản tự chùa Diến Điện lại bảo: “Các Ngài nên nghỉ lại đây hôm nay, sáng mai mát mẽ sẽ thượng sơn”, đành vâng lời nghỉ lại. Mặt trời gần gác núi, nhiệt độ đã bớt nhiều, ký giả mời Đại đức hướng đạo đi xem phong cảnh ở ngay khu chùa. Đại đức hướng đạo cho biết: Ở đây còn di tích của hai thành quách xưa. Một di tích có tự thời kỳ trước Phật, mà chính vua Tần bà Xa la là người sùng mộ và ủng hộ Đức Phật THÍCH CA thứ nhất. Ký giả đến thăm di tích của thành quách về thời chưa có Phật thì nó chỉ là địa thế ỷ sơn, thủ hiểm của mấy ông tiểu Bá vương của mấy nghìn năm về trước, hiện giờ không còn dấu tích gì nữa.

Kế đến xem di tích, thành quách, lâu đài của các triều đại vua Tần bà Xa la ở một địa điểm bao la, núi non vây phủ, cây cối rất nhiều, tuy đương mùa nóng nhưng cỏ cây rất trù mật, chân tường của thành quách, chân móng của cung điện, đài các, trông dấu vết để lại rất mực quy mô, hùng tráng của kinh đô cổ kính dĩ vãng.

Đến ở giữa cựu đô của vua Tần bà Xa la cố nhiên tôi phải hồi tưởng mà hỏi đến chuyện thương luân bại lý của Thái tử A xà Thế là con vua Tần bà Xa la. Đại đức hướng đạo chỉ ra một nơi xa tít, âm u mà bảo tôi: “Chỗ kia là nhà ngục mà vua Tần bà Xa la bị Thái tử A xà Thế giam chết, còn chỗ kia là lãnh cung mà Hoàng hậu Vi đề Hy bị con là A xà Thế giam cầm rồi được Phật đến cứu. Còn chỗ kia là trường đua của 500 con voi dữ say rược của A xà Thế thả ra để toan giết hại Đức Phật Thích Ca.

Ôi! Thảm mục thương tâm nào bằng cảnh ngộ, mà tai đương nghe những việc làm thương luân bại lý của kẻ đã phú quý cực nhân gian, mắt lại thấy bao nhiêu dấu vết oai hùng đã tan tác với phong sương, đã tan tành với sóng nước. Những cảnh ngộ chiều nay đã đưa Ký giả đi sâu vào chân lý vô thường của Đức Phật dạy. Nếu như ai không tin lý vô thường thì hãy nhìn vào sự thật khu đất tôi đương đứng đây, đương lúc thời vận cường thịnh của nó, đã có bao kẻ chém giết lẫn nhau, để tranh đồ nó. Tranh đồ nó để nắm lấy oai quyền nghiêng trời, lệch đất, để ăn ngồi trên miếng đỉnh trung. Bởi mù quán vì lợi danh nên không thấy lẽ thiêng liêng của luân lý, đến nỗi lật đổ cương thường, cắt đứt cả giây tình nghĩa, như Thái tử A xà Thế, nếu ta không tin chân lý vô thường của Phật dạy “thế gian vô thường” thì thành quách, lâu đài của mấy ngàn xưa, giờ này đây, bao vương bá tranh hùng, miếng đất này giờ đâu? Trái lại khu đất này làm cho Ký giả hồi hộp, cảm súc. Hồi tưởng lại những câu bất diệt của nữ thi sĩ Thanh Quan:

“Đá cũng bề gan cùng tuế nguyệt.
Nước còn chau mặt với tang thương”.

Hay:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Dấu cũ lâu đài bóng tịch dương”.

Lúc này ký giả không còn đủ sức kìm lại mối bi quan. Vì súc cảnh thương tâm nên cũng vịnh mấy câu để gửi lại mai hậu:

Hỡi hồn tranh Bá đồ Vương,
Hỏi bao thành quách, miếu đường đây đâu?
Những ai Khanh, Tướng, Công, Hầu,
Giang sơn còn đó thấy đâu anh hào.
Đài văn, điện vũ nơi nao?
Bao vua chiến thắng, bao trào bai quân.
Nào phường hại nước hại dân,
Nào phần cậy thế, cậy thần hiểm sâu.
Lầu ca, gác múa, chén đào,
Từng bừng bao cuộc nay nào còn đâu?
Kìa kìa đá mốc cỏ tầu,
Nắng mưa bao độ bể dâu mấy lần.
Ta đây là khách ngoại trần,
Đứng trên cõi mộng, mấy vần gửi ai.
Gửi ai là khách quan hoài,
Việc đời muôn sự có rồi lại không.
Gửi ai là khách cửa không,
Việc đời điên đảo bận lòng mà chi.
Gửi ai là khách đắc thì,
Việc đời chớ để những gì mỉa mai.
Gửi ai là khách lỡ thời,
Việc đời bầy soá, soá thôi lại bầy.
Cuộc đời ai tỉnh ai say,
Cảm hoài đọc mấy câu này làm duyên.

Vì muốn cho chúng tôi tránh đỡ sự nóng nực, nên sáng hôm nay mới có 4 giờ 30, Sư Cụ bản tự đã gọi dậy điểm tâm, để ai chiêm bái Thứu lĩnh.

Điểm tâm xong, vừa 5 giờ, chúng tôi bắt đầu ra đi, Đại đức hướng đạo hỏi: “Từ đây đến Thứu lĩnh có tòa kết tập kinh của Tổ Ca Diếp và 500 vị La Hán ở tít trên đỉnh núi và có vài ngọn tháp của vua A Dục xây nhưng đã đổ gần hết, lại còn có nhiều trường Tăng học về thời Phật và sau thời Phật to lắm, nhưng hiện giờ các cảnh đó chỉ còn nền không thôi. Thượng toạ có muốn đến thăm không?”

– “Xin thôi, đến nơi thấy cảnh cũ điêu tàn, người xưa khuất tịch, lại càng thêm cảm động thương tâm, cũng như mấy hôm trước đây, tôi thấy cảnh Phật tích ở Lộc Uyển, ở Song Lâm.

Thế là chúng tôi đi thẳng đường lên núi Thứu lĩnh. Từ chùa đến núi chỉ có 6 cây số, đường xây bực đá rộng rãi dễ hơn đường đi chùa Hương Tích. Tôi hỏi Đại đức hướng đạo: “Con đường đá này làm từ đời nào?”

– “Con đường này của vua Tần bà Xa la sáng tạo ra từ khi Phật còn tại thế, đồng thời nhà vua còn làm tòa nhà đồ sộ ở gần khu suối nóng, để cho các vua chúa đến thăm Phật nghe đạo được dễ dàng, trong khi đi lại và cư trú, tòa nhà đó hiện vẫn còn, khi trở về sẽ dẫn Phái đoàn đến xem suối nóng rồi xem tòa nhà ấy nhân thể”. Vì còn sớm, chúng tôi bảo nhau đi nhởn nhơ để ngắm cây cỏ, núi mây của buổi sớm mai mà sức nhiệt độ của ánh dương quang chưa vén hết những ánh làn mây khói. Thật là vô biên thú vị của khách ngoại trần nhẹ nhàng theo gót ngoại vật thiên nhiên.

Chỉ độ 6 cây số thế mà chúng tôi đi từ 5 giờ cho mãi đến 8 giờ mới đến. Đến chân núi Linh thứu, đứng mà ngắm không chỉ những ưu điểm của cảnh yên hà, còn có nhiều cảnh tượng bí tàng của nơi Phật tràng nữa. Dưới chân núi có thung lũng rộng rãi, khói mây; cây cỏ điểm tô như gấm, như vóc, các ngọn núi bao phủ chung quanh đều là những bức bình phong, xa xa có những dòng suối uốn quanh mà trắng xoá như bạc. Tâm hồm tôi lúc đó thấy nó phảng phất tiêu dao theo với những vần nhạc thiên nhiên của gió reo, suối hát, cỏ đón, hoa chào giữa cảnh núi Phật tích. Cảnh đẹp thiên nhiên thế ấy, đến những cảnh bi quan của vận tạo phủ phàng ở núi Linh thứu cũng không kém phần đau đớn, khiến cho ai là Phật tử khi đến nơi cũng phải chau mày với mưa gió vạc đẽo của thời gian dĩ vãng.

Tôi thấy nổi lên sừng sửng những bực tường đá xây cao phủ lấy chung quanh lối lên Phật đài, tôi hỏi Đại đức hướng đạo sao lại xây dãy tường ở lưng chừng núi nhỉ ? Ngài cho biết rằng: “Chính phủ Ấn Độ mới cho xây để giữ lấy lối lên Phật đài, kẻo dần dà lở mất hết. Kìa bao nhiêu những tảng đá ngổn ngang kia, đều là mới lở ở trên núi xuống đây”. Đại đức hướng đạo còn chỉ vào hòn đá bằng hai gian nhà đã nứt đôi bảo tôi rằng: “Năm ngoái tôi lên, hòn đá này còn lành lặn, năm nay lên đã nứt đôi, sang năm lên có lẽ nó bay rồi”.

Đại đức hướng đạo lại dẫn chúng tôi đến một cái hang đá chỉ độ nửa gian nhà mà bảo rằng: “Đây là hang ngồi tu thuyền định của Tổ A Nan Đà từ khi Phật còn tại thế”. Tôi thấy cái hang của nhà Tiên giác đã hơn 2500 năm, mới định ngầm trong tâm, khi lễ xong, ta sẽ đến nơi này yên toạ một lúc để thưởng thức thuyền vị còn lưu hương của ngàn xưa.

Từ hang tu của Tổ A Nan Đà còn phải đi vòng quanh ngược lên một quãng dài nữa mới đến đỉnh núi là nơi có tòa Sư tử của Đức Phật ngồi thuyết pháp ngày xưa, mà cũng lại là nền cũ của tòa Phật đài này chỉ độ 5 miếng ruộng vuông vắn, đã phải xây đá bao bọc kỹ càng cho khỏi lở. Nền lát xi măng hãy còn lành lặn, sẵn có gió quét mưa rửa nên sạch sẽ lắm. Vì chùa đổ nên tượng Phật cũng rước đi nơi khác rồi, nhưng hương nến không đủ sức chống với gió của đỉnh núi cao, cho nên hễ thắp là sẽ tắt, sau đành phải lễ không hương, không nến.

Lúc chúng tôi lễ mới có hơn 8 giờ, hoá nên đỉnh núi còn nhiều đám mây khói chùm phủ lấy cả người. Tôi đương quỳ lễ trong mây, bỗng nhớ đến câu: “Linh vân kết tạo tràng” do cảm tưởng ấy, nên khi lễ xong, tôi vịnh tức cảnh:

Đầu lễ mây, rồi mắt ngắm mây,
Đạo tràng Thứu Lĩnh nghiễm nhiên đây.
Kìa tòa Sư tử in chân Phật,
Nọ cảnh Lôi Âm tạc dấu Thầy.
Mạch Đạo đã khơi Nam đến Bắc,
Nguồn Thuyền từng rót Đông qua Tây.
Phong sương dù cố mà xuyên tạc,
Ngàn giấc mây thiêng vẫn thế này.

Lễ xong, chúng tôi bàn nhau ở lại một tiếng để cho ai nấy có đủ thì giờ để ngoạn cảnh. Một mình tôi liền xuống hang tu thuyền của Tổ A Nan Đà, thực là âm u tịch mịch, sẵn có tòa đá nhẵn mát, lại có thêm gió lùa mát mẻ, ngồi được một lúc, đã thấy thân thể nhẹ nhàng, tâm hồn phóng khoáng, nhường như đã đi sâu vào cõi chân không. Mùi thuyền đã nếm, lại ngả lưng chơi thử giấc tiên nữa, đương lúc sắp thiu thiu thì Ông CẨN đến gọi ra về, lúc đó đã gần 10 giờ rưỡi rồi. Ra khỏi hang thấy nhiệt độ của nắng hạ như thiêu như đốt, vậy mà khi nằm trong hang tôi không biết gì là nóng cả.

Ký giả có vịnh bốn câu tức cảnh:

Thủa mùa hạ nằm hang Thứu Lĩnh,
Gió Nam phong quét sạch trần hiêu.
Nửa giờ tự tại tiêu diêu,
Thú vui, vui thực khó điều mách ai.

 

13. THĂM SUỐI NÓNG

 

Đường về qua chừng bốn cây số mới đến suối nóng “Ôn tuyền”. Thoạt đến nơi, tôi cứ tưởng có hàng chục ngôi đền thờ của tín đồ Bà la môn, nhưng đến nơi xem thì không phải, vì dân Ấn Độ xem suối nước nóng này thiêng liêng lắm. Họ tin rằng: Ai nặng nghiệp xuống tắm gội là sẽ được nhẹ đi, cho nên họ xây đắp chung quanh mỗi cái suối là một cái đền đồ sộ, ở dưới lát đá hoặc trị xi măng, lại có bệ ngồi tắm giặc. Họ còn xây máng cho nước suối chẩy ra để tắm gội, mà suối nào cũng đều có ống ngầm cho nước thoát đi, coi có mỹ thuật và sạch sẽ lắm.

Lúc chúng tôi đến nơi, vì nhiệt đã mạnh lắm nên dân chúng lân cận ra tắm gội rất đông, không còn làm sao tìm được một suối vắng người để lau mình cho biết thú vị của “Ôn tuyền”.

Đại đức hướng đạo cho biết rằng: “Về mùa đông thì dân Ấn Độ và Phật tử thế giới về Thứu Lĩnh chiêm bái, rồi ra đấy tắm đông đúc không kể xiết. “Ôn tuyền” này còn là một cảnh du lịch của mùa đông, nên Chính phủ Ấn Độ đã phải làm một tòa nhà để cho khách du lịch có chỗ ăn nghỉ, nhưng hết mùa đông thì đóng cửa, bây giờ có đến, người gác cũng không cho vào”. Chúng tôi chờ mãi đến 12 giờ trưa mới dành được một suối để xuống lau mình.

Thì ra suối nóng này quý thực, suối nào nước chảy ra cũng trong trắng như bạc, khi mới rửa thì âm ấm như mới hâm, nếu về mùa rét mà tắm rửa thì thực là như ý; khi rửa xong lại mát lạnh đi, tôi có vịnh tức cảnh:

Phương Tây núi Thứu đạo khơi giòng,
Có phải đây là suối nóng không?
Thương kẻ lạnh lùng khơi mạch ấm,
Vì đời vẫn đục mở nguồn trong.
Ủ bầu nhật nguyệt chừng dư sức,
Hâm lửa âm dương đã tốn công.
Toan quẩy quách về Nam Việt tắm,
E rằng Phật quở sãi chơi ngông.

 

14. CẢM TƯỞNG CỦA KÝ GIẢ ĐỐI VỚI CÁC NƠI PHẬT TÍCH

 

Chương trình đi chiêm bái năm nơi Phật tích trong khỏang 10 ngày, nay đã hết số ngày ấy rồi mà chúng tôi mới đi được bốn nơi, còn nơi Phật Thích Ca giáng sinh là Lâm Tỳ Ni (Lumbini) đành phải bỏ dở, vì Đại đức hướng đạo cho biết rằng: Phải đi đường bộ qua bãi cát vàng nóng của mùa viêm nhiệt chừng 30 cây số mới đến nơi, mà xem khí sắc Phái đoàn ai nấy đều mỏi mệt lắm rồi, vả lại còn phải nghỉ ngơi mấy ngày cho lại sức, để còn sang họp Hội nghị Phật giáo Thế giới tại Tích Lan, khai mạc vào ngày 25 tháng 5 dương lịch này. Vì những lý do ấy, nên chiêm bái xong ở Thứu Lĩnh, chúng tôi về thẳng ngay chùa Đại Bồ Đề nhằm ngày 19 tháng 5, Chư Tăng đón tiếp chúng tôi ngay ở phòng khách, sau dịp thỉnh an, Thượng toạ thư ký liền hỏi: “Cảm tưởng của Thượng toạ trong dịp đi chiêm bái các nơi Phật tích thế nào, xin cho chư Tăng chúng tôi được nghe với?”

– Bạch các Cụ, chư Tăng, trong 10 ngày chúng tôi tòan đi tàu, xe đến các nơi Phật tích mà còn thấy vất vả, nhọc nhằn, huống hồ Đức Phật Thích Ca ở thời đại trước đây linh hai ngàn rưỡi năm, đường xá chưa mở mang, tàu xe cũng chưa có, mà Ngài đi khắp 18 tiểu quốc trong 49 năm để truyền bá đạo pháp, giáo hoá chúng sinh, huống lại còn gặp bao trở lực của bọn ngoại đạo ghen tỵ, bài bảng, và những chúng sinh ương ngạnh nan hoá, xem thế đủ biết tư tưởng hy sinh với nguyện vọng lợi tha của Đức Phật bền bỉ, mạnh mẽ biết nhường nào? Nếu không phải là bậc Từ phụ, coi chúng sinh như con đỏ, tự thụ lấy đau khổ trước chúng sinh đau khổ, hưởng sự vui sướng sau chúng sinh vui sướng thì ai làm được như vậy!

Cũng trong dịp đi chiêm bái các nơi Phật tích này, chúng tôi còn khám phá được những truyện yêu tinh, quỷ quái, dùng pháp thuật cao cường để đấu chiến với Tề Thiên Đại Thánh toan bề bắt Đường Tăng ăn thịt cho được phúc trường sinh, những truyện đến nay tôi mới nhận ra nó đều do những khối óc hoang đường phịa đặt ra cả. Họ tưởng cốt phịa đặt ra như thế sẽ nêu cao giá trị cho Thầy Đường Tăng và Tôn Ngộ Không cho nó vui truyện thì truyện mới đắt, họ mới có lợi chứ họ có biết đâu là làm cho người thức giả càng thêm hồ nghi rằng: Sao đạo đức như Thầy Huyền Trang tại sao lại thua kém pháp thuật của Hành Giả Tôn Ngộ Không? Tệ hơn nữa là khiến số người thiển trí vào đạo Phật với con đường mê tín huyền hoặc. Đại khái các loại tiểu thuyết hoang đường đều có cái tai hại khốc liệt như vậy. Riêng tôi, tôi cảm thấy thầy Đường Tăng để lại đài gương chói lọi vô biên là do chỗ Thầy muốn thực hịên tinh thần từ bi cứu thế của Đức Thích Ca để cứu khổ nạn cho dân tộc Trung Hoa hồi đó. Vì từ cuối Tùy sang Đường trải mấy chục năm hầu khắp nước Tàu gây nạn binh hỏa rất là nguy kịch, người ta chỉ thấy nào cha mất con, vợ mất chồng, cô nhi nheo nhóc lầm than, quả phụ cô đơn hờn oán, nhà cửa tiêu điều, ruộng vườn hoang dậm sô nhau dầy séo trên đống xương, vũng máu đồng loại. Người ta không còn biết tin cậy vào đâu để cầu bảo đảm tính mệnh, tài sản nữa. Bấy giờ họ mới tỉnh linh hồn mà quy tâm hướng về Phật giáo. Nhưng khốn thay, chính trị đã thối nát, Tôn giáo cũng rối ren, vì nổi chia môn rẽ phái, cái nạn công kích, bài xích lẫn nhau biến thành bao nhiêu hàng rào ngăn đường vào Phật giáo. Bổ cứu tai nạn tầy trời ấy phải là bậc giác ngộ cùng tội chân lý của Đức Thích Ca mới mong làm được trọn vẹn. Vì lý do ấy, Thầy Đường Tăng phải dấn thân trên con đường xa xăm sang Tây trúc, lao đao, lận đận, trèo non, vượt suối, giãi nắng, dầm mưa khắp sứ Thiên Trúc mới tìm được Thầy học được pháp đến minh được tâm, ngộ được đạo của Đức Thế Tôn đem về quê hương, chuyển vận hội chiến tranh khổ nạn ra thời kỳ Phật giáo xương minh.

Các nơi Phật tích mà chúng tôi đã đến chiêm bái, sung sướng nhất là Bà la môn giáo đã trả Bồ đề tràng về Phật giáo sau bao nhiêu năm bị chiếm đoạt, cũng nhờ có chư Tăng 4 nước làm chùa ở chung quanh để giữ gìn nên Bồ Đề Tràng vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chúng tôi không khỏi buồn rầu rằng: Thạch Tượng Ngài Quan Âm đã chìm mất mà Tượng Thần Si Hoa của Bà La Môn còn thờ ở dưới chân bệ Đức Thế Tôn.

Đối với Lộc Uyển bi quan nào bằng, chùa xưa, cảnh cũ đã chung cuộc bể dâu từ bao giờ rồi. Tuy thế nhưng chúng tôi rất lạc quan là Quý Hội đã tân tạo lên Phật điện nguy nga, tăng đường đồ sộ. Quý hội còn chăn nuôi cho tinh thần nhân dân xứ Lộc Uyển bằng thư viện, bằng học đường điều trị cho thân thể của họ một khi có bệnh bằng dược phòng, bằng bệnh viện. Khi mục kích thấy cảnh Song Lâm, chúng tôi đều phải sa lệ trước cảnh bao la của Pháp viện, Tăng đường đều đã bị quân Hung, quân Hồi tàn phá. Nhưng kim thân của Đức Giáo Tổ với Bảo tháp Xá lợi của Ngài còn ngất trời. Đạo tràng Phật thuyết Đại thừa tại Linh Thứu, mặc dầu không còn hình thức ở đỉnh núi, nhưng tinh thần vẫn còn ở trong lòng người ở khắp thế giới. Đáng tiếc cho phúc duyên của chúng tôi còn mỏng manh nên không được đi đến chiêm bái khắp cả 48 tòa bảo tháp của vua A Dục xây để tôn thờ dấu vết thiêng liêng của Đức Thích Ca cả về quá khứ lẫn hiện tại ở khắp 5 xứ Ấn Độ này.

 

15. DIỄN GIẢNG TẠI CHÙA HỘI PHẬT GIÁO ĐẠI BỒ ĐỀ

 

Sáng ngày 20 tháng 5 năm 1950, Ông Tổng thư ký Hội Đại Bồ Đề cho mời lên phòng khách đàm đạo hồi lâu, ông cho biết rằng: “Vì các Ngài không báo tin trước, nên hôm Quý Phái đoàn đến, bản Hội chưa có dịp hội họp đông đủ để được tỏ tình thân mật với Quý Phái đoàn. Nay bản Hội đã đưa thiếp mời chư Tăng và quan khách cùng thiện tín hội viên tới chùa Hội quán đây vào hồi 6 giờ chiều hôm 22 này. Hôm đó, trước khi khai giảng xin mời Thượng toạ lấy tư cách Trưởng Phái Đoàn Phật giáo Việt Nam sẽ chủ lễ khai xá lợi hai vị Thánh tăng mà Ngài đã dự lễ hôm vừa rồi, để cho mấy Phái đoàn Phật giáo các nước mới tới và các quan khách đều được chiêm bái”. Sau khi nghe ông Tổng Thư ký nói, Phái đoàn chúng tôi ai nấy rất mực cảm động, đều đứng dậy cảm ơn.

Dưới đây là thiếp mời bằng Anh văn của Hội Đại Bồ Đề:

The Maha Bodhi Society of India request your presence at the Sri Dharmarajika Vihara, 4A, Bankim Chalterjee Street (College Square), Calculla on Monday, the 22nd May,1950, at 6 p.m..,at a reception to be given in honour of the Buddist Mission consisting of Venble Abbot To Lien (the leader), Ven ble Bhikkhu Thach Lich and Mr.Pham Chu, the Secrectary of the Mission, sent by His Majesty Bao Dai.

Head of the Government of Viet Nam.
Dr. Kalidas Nag, M.A.,D.Litt will preide.

Devapriva Valisinha.
General Secretary

Đúng thời giờ kể trên, lễ khai xá lợi cử hành, tuy đơn giản nhưng rất mực trang nghiêm. Sau 10 phút lễ xong, Ông Tổng thư ký Hội Đại Bồ Đề giới thiệu Phái đoàn Phật giáo Việt Nam với cử toạ. Xong, tôi nhân danh Trưởng Phái đoàn tỏ lời cảm ơn và giới thiệu ông PHẠM CHỮ thay tôi lên diễn đàn dịch bài giảng của tôi nói về “LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM” ra tiếng Anh.

Dưới đây là nguyên văn bài diễn văn:

Thưa các Ngài,

Hiện nay Phật giáo đã là thế giới hoá, các nhà học Phật Đông, Tây đều suy tôn Ấn Độ là đệ nhất Tổ quốc Phật giáo, thế là lấy Ấn Độ làm Trung tâm điểm của Phật giáo thế giới. Đến Việt Nam chúng tôi cũng được thấm nhuần với nguồn giòng giáo lý từ bi bình đẳng ấy gần 2.000 năm nay (189-1950) cố nhiên Phật giáo Việt Nam phải có một lịch sử sự thật.

Trước khi bàn đến lịch sử Phật giáo Việt Nam, chúng tôi cảm thấy tận đáy lòng thành thật xin bộc bạch với Quý Ngài rằng: Chúng tôi bao giờ cũng tu trì theo chân lý tuyệt đối của chư Phật, không hề manh tâm tranh giành lấy một thiên lịch sử cho Phật giáo Việt Nam, cũng không dám mong phô trương nền tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Chẳng qua vì giữa nhân loại đương xô đẩy nhau đi tìm lịch sử của hiện tượng để nghiên cứu, để học hỏi. Phật giáo cũng đã là pháp môn hiện tượng thích hợp với lòng mong cầu của nhân loại, có đủ phép này phép khác để trị sạch hết hiện tượng thảm hoạ đương diễn giữa nhân loại. Nói tóm lại Phật giáo đã là pháp môn hiện tượng bao la giữa đại đồng thế giới, đem thu hẹp lại thì Phật giáo cũng đã là một tôn giáo truyền bá vào nước Việt Nam. Chúng tôi là người được thấm nhuần, ngày nay may mắn lại được gặp các Ngài ở đây đều là Phật tử, đều là Phật lữ hay ít nhất cũng đều là người có Phật tính, lẽ nào lại không mạnh bạo đem những chỗ đã nghe, đã học về lịch sử Phật giáo Việt Nam, hầu mong cống hiến Quý Ngài, để đền bù những tấm thịnh tình vô biên của Quý Ngài đối với Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chúng tôi, tức là đối với cả dân tộc Việt Nam và tín đồ Phật giáo Việt Nam.

Xét về lịch sử truyền giáo suốt cổ kim, chúng tôi thấy rằng, một khi có tôn giáo nước này truyền vào nước khác, trước nhất phải do hai nguyên nhân:

Nước có tôn giáo, sau khi đã thành công chiến thắng và đã đặt được nền thống trị.

2) Trước nhất phải do dân tộc nước có tôn giáo này với dân tộc chưa có tôn giáo kia, đã mở cuộc giao thông buôn bán với nhau qua một thời gian, để am hiểu nhau về ngôn ngữ và kết chặt dây liên lạc thân ái.

Nguyên nhân Phật giáo của Đại Ấn truyền vào Việt Nam không ở điểm chiến thắng, thống trị mà chính ở điểm hai dân tộc Ấn-Việt sớm liên lạc thông thương với nhau, huống hồ Phật giáo lại rất thích hợp với tính tình dân tộc cũng như phong hoá cổ truyền của quốc gia Việt Nam. Điều đó chứng minh ở điểm này:

Xem trong bản đồ Ấn Độ Chi-Na tức là bán đảo Đông Dương, sẽ thấy nước Việt Nam có tới 7/10 đất đai ở lọt vào khỏang giữa Ấn Độ và Trung Hoa, mà đường giao thông từ Ấn sang Việt Nam còn thuận tiện hơn từ Trung sang Việt, vì thế nên Phật giáo của Đại Ấn đã sớm thấm nhuần hầu hết dân tộc Việt Nam ngay từ thế kỷ thứ nhất, thứ nhì.

Đứng về phương diện lịch sử, chúng tôi thấy trong truyện Đàm Thiên Pháp Sư có chép rằng: Một buổi kia vua Cao Tổ nhà Tùy có sắc dụ cho Đàm Thiện Pháp sư rằng: “Trẫm nhớ đến đạo đức từ bi của Đức Thích Ca Giáo chủ, không biết báo ơn Đức Ngài thế nào cho xiết, nên chỉ ước mong truyền bá đạo Ngài thế nào cho đi khắp thiên hạ. Trẫm đã cho đi rước xá lợi của Phật về kính thờ trong 49 ngọn tháp, lại mới xây xong 150 ngôi chùa để làm tiêu biểu tín ngưỡng đạo đức cho dân nước ta (Tàu). Bây giờ Trẫm lại muốn xây tháp làm chùa ở Việt Nam, hơn nữa là cử các Pháp sư sang đó truyền bá Phật giáo, hầu mong một ngày gần đây đạo Phật sẽ lan tràn khắp thế giới. Nay Pháp sư lựa chọn mấy vị Tăng có đạo hạnh sang Việt Nam hoằng hoá cho dân tộc xứ đó để họ sớm hiểu biết đạo Bồ đề”.

Đàm Thiện Pháp sư tâu: “Nước Việt Nam vốn có đường giao thông sang Ấn Độ hơn sang nước Tàu ta, nên Ấn Độ đã có nhiều các bậc đại Pháp sư, như Khang Tăng Hội, Chi Khương Lương v.v…sang Việt Nam truyền bá Phật giáo rất sớm (Pháp sư Khang Tăng Hội sang Việt Nam vào năm 225, Pháp sư Chi Khương Lương sang vào năm 226 và Pháp sư Ma Ha Kỳ Vực sang vào năm 294). Hiện ở Việt Nam các vị Pháp sư đó đã dịch được nhiều kinh Phật, đã giáo hoá được nhiều tăng sĩ và ở Việt Nam cũng đã có nhiều chùa tháp rồi, nay ta không phải phái Pháp sư sang Việt Nam nữa”.

Trở lại mà xét vào lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ thấy các bộ sách Thuyền uyển tập anh, Thống yếu kế đăng và Đạo giáo nguyên lưu v.v…các bộ sách đó đều nói nhiều về công nghiệp truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ qua VIệt Nam lúc đầu. Mặc dầu năm 189, Mâu Bác cư sĩ là người Tàu vì lánh nạn mà truyền Phật giáo qua Việt Nam trước Ngài Khang Tăng Hội, nhưng bàn về hệ thống kế đăng vẫn phải tôn Ngài Khang Tăng Hội làm Giáo tổ thứ nhất của Phật giáo Việt Nam, mà chính thân phụ Ngài Khang Tăng Hội sang buôn bán doanh nghịêp ở Việt Nam đã lâu năm. Đại Ấn đã có ba vị cao tăng rộng lòng phổ thông Phật giáo, chẳng từ gian lao sang xây nền đắp móng cho Phật giáo Việt Nam, không những thế mà thôi, lại đến thời kỳ khuếch trương cho Phật giáo Việt Nam thành lâu đài trang nghiêm sáng lạng cũng lại nhờ ở bậc Thánh tăng của Đại Ấn là Tổ sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi Ngài sang Việt Nam vào năm 580, ở chùa Pháp Vân, quận Thường Tính thuộc tỉnh Hà Đông bây giờ. Tăng đạo Việt Nam có quy mô tổ chức, có hệ thống nối truyền, để xương minh mệnh mạch Phật tổ, để bồi bổ nhân tâm thế đạo, là nhờ ở công đức của Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi; vì Ngài đã ròng rã 14 năm trụ trì chùa Pháp Vân, chỉ một niềm chuyên chú dịch kinh giảng đạo, trong thì đào tạo chư Tăng, ngoài thì tiếp hoá thiện tín, rốt ráo lại sáng lập nên một phái Thuyền tôn trước nhất, lớn nhất ở Việt Nam, gọi là Tôn Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Tôn phái của Ngài truyền nối đến 19 đời: không những ngọn đuốc tuệ chói lọi khắp non sông Việt Nam mà ảnh hưởng còn chấn động đến cả Trung Quốc, sự thực còn ghi chép ở Việt Nam Phật giáo sử. Sau khi Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi tịch, giữa khoảng năm 603-604, vua Cao Tổ nhà Tùy được nghe tiếng liền khởi lòng tôn kính, có hạ chiếu cho sang Việt Nam xây tháp để kính thờ Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở chùa Pháp Vân, chùa Tràng Khánh v.v…lại gửi sang 5 hòm lễ vật tặng ban cho Pháp Hiền Thuyền sư là vị Thánh tăng thứ nhất của Việt Nam vì được Ngài truyền tâm pháp cho nên kế pháp vị thống xuất tăng chúng.

Từ Ngài Khang Tăng Hội truyền Phật giáo sang Việt Nam đến Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền Thuyền tôn sang Việt Nam trước sau trải qua 345 năm (225-580). Trong thời gian ấy ở Việt Nam cũng có nhiều các Tăng sĩ am hiểu Phạm tự, thông thạo tiếng Ấn, nên cũng được sang cầu đạo, tham thuyền ở Phật địa và cũng dịch được nhiều kinh Phật như Vận Kỳ Thuyền sư. Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Xứng Thuyền sư, Huệ Diệu Pháp sư, Trí Hành Thuyền sư và Đại Thắng Đăng Pháp sư.

Lại đến thời kỳ Việt Nam chúng tôi nội thuộc nhà Đường, Phật giáo ở Việt Nam vẫn thịnh hành lắm, cũng có những bậc cao tăng VỊêt Nam có ảnh hưởng lớn với Phật giáo Trung Hoa. Sự thực còn thấy trong bộ sách “Loại hàm anh ngữ” của Tàu và ở sách Kiến văn của ông Lê Quý Đôn là nhà Nho học trứ danh ở Việt Nam, đều chép rằng: “Phụng Định Pháp sư và Duy Giám Pháp sư đều được vua nhà Đường mời sang Tàu để vào Vương cung giảng kinh bàn đạo. Đường cư Nguyên thi hào của Tàu hồi đó có thơ tiễn biệt Ngài Phụng Định khi về Việt Nam sau này:

Quê nhà trông cõi Việt,
Mây bạc tít mù xa.
Cửa trời vắng kinh kệ,
Mặt bể nổi hương hoa,
Sóng gợn có in bóng,
Thành xây hến mấy tòa,
Trường An lòng quấn quít,
Giao Châu chuông đêm tà.

Lại có thi hào Cổ Đảo tặng thơ tiễn biệt Ngài Duy Giám Pháp sư khi rời Vương cung nhà Đường về Việt Nam rằng:

Điện xuân giảng kinh luận,
Giường ngự vướng mùi hoa,
Bể Nam quen lối cũ,
Non Việt viếng tuần già,
Ăn mòn khi gió táp,
Áo lấm lút mưa sa.
Kìa kìa, trời lẫn nước,
Tin tức biết bao qua.

Ôi! Việt Nam chúng tôi, gần 1000 năm 3 lần thuộc quyền đô hộ của các triều Hán, Tần, Tùy, Đường, mà giữa thời gian ấy các triều đại của Đại Ấn cũng có các vua anh hùng như vua Sảng Đức, (299 trước kỷ nguyên và vua A Dục 222 cũng trước kỷ nguyên) đều gây dựng lên Vương triều Khổng tước, hùng cường thịnh trị, mãi về sau hơn 300 năm, nối đến triều đại vua Ca Tỳ Sắc Ca mở vận nước cũng không kém hùng cường, thế mà lịch sử Việt Nam chỉ thấy chép những trang hai dân tộc Ấn Việt giao thông buôn bán với truyền bá văn hoá Phật giáo chứ không có qua một trang lịch sử đẵm xương máu xảy ra đáng tiếc. Các nhà học giả Đông, Tây ngày nay đều công nhận văn minh Ấn Độ là văn minh tinh thần chứ không phải văn minh vật chất, những lời tán dương đó đủ thấy hầu hết nhân vật yêu chuộng văn minh cao siêu, hòa bình tuyệt đối đều tỏ lòng kính trọng văn hoá Ấn Độ chớ không những dân tộc Việt Nam quý mến.

Huống hồ còn có những bậc Thánh tăng truyền bá sang nước tôi một nền tôn giáo Từ bi Bình đẳng, một nền văn hoá triết học cao siêu mà vẫn không kém tinh thần đại từ bi, đại hùng lực. Chính nền văn hoá đó không những đã sản xuất ra cho Việt Nam những vị Cao tăng ở gần 1.000 năm nước tôi thuộc quyền đô hộ của người Tàu mà chỉ đem đạo đức, học thức để cảm hoá lòng người, có uy quyền mạnh khiến họ đỡ sự khinh miệt người Việt Nam, lại dự một phần lớn xây đắp nền độc lập, mãi về sau cho các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Phật giáo đã được công nhận là quốc giáo khắp các triều đại kể trên, cũng như Ấn Độ đã tôn Phật giáo làm Quốc giáo, ở các triều đại Sảng Đức, A Dục, Ca Tỳ Sắc Ca v.v…

Nền Phật giáo lại còn đào tạo nên những bậc Pháp sư kiêm Thái sư giúp vua trị nước, ơn thắm muôn dân ở hai triều Đinh Lê như Khuông Việt Thái sư, giúp vua Lê Đại Hành giữ ngoại giao; như Ngài Đỗ Thuận Quốc sư dự bộ Tham mưu, bàn tính quốc quân đại sự; như Vạn Hạnh Quốc sư giáo dục cho ông Lý Công Uẩn trở nên bậc hiền quân; như Khánh Vân Pháp sư. Ở Việt Nam mà nói đến Phật giáo hết thảy đều tán dương Phật giáo về đời Lý, đời Trần. Vì các đời đó có các vị vua thâm ngộ thuyền tâm như Thánh tôn Anh Tôn và Cao tôn nhà Lý đến nhà vua xuất gia thành Phật như Nhân tôn nhà Trần, Trạng Nguyên xuất gia chứng ngô chánh pháp nhãn tạng như Huyền Quang Pháp sư. Gòn đến những bậc Tuệ Nghiệp Pháp sư, văn nhân cư sĩ thật không sao kể xiết.

Nước Việt Nam có thể gọi là một nước Phật giáo, vì hầu hết mỗi làng đều có chùa chiền thờ Phật, Tăng Ni tu hành, mặc dầu hơn 300 năm nay, Phật giáo ở Việt Nam đã bị suy kém vì hòan cảnh nội loạn và ngoại xâm xui nên. Nhưng chỉ suy kém về phần tinh thần giáo lý, còn đến lòng tín ngưỡng của dân chúng nay cũng như xưa. Dân Việt Nam đã có những câu truyền tụng về nổi trẫy chùa Yên tử cực điểm khó khăn rằng: “Đi như cáy, về như cua – vất gậy mà quơ lấy cành”, vậy mà mỗi năm về tháng hai, hằng ngày ít nhất cũng có tới vài ngàn người trèo non vượt suối lên chiêm bái. Lại đến động Hương Tích ở làng Yên Vĩ, thuộc tỉnh Hà Đông đông gấp mười phần thế nữa. Trong cuốn Nhật trinh chùa Hương Tích đã có những câu rằng:

Làng Yên Vĩ có non Hương Tích,
Bao khí thiêng đất Việt đúc nên,
Phật Quan Âm ngự tòa sen,
Mười phương quý tiện đua chen khấn nguyền.

Khách trẩy chùa Hương này mỗi năm từ cuối tháng giêng đến cuối tháng ba âm lịch, mỗi ngày ít bù nhiều có tới vài vạn người, còn sự đi chiêm bái các danh lam cổ tích khắp trong nước không thể kể xiết đặng.

Gần đây lại nhờ có ảnh hưởng Hội Đại Bồ Đề và Hội Nghiên cứu Phật học ở Đại Ấn đây lan tràn đến, khiến cho từ 20 năm đến nay cơ duyên chấn hưng Phật học ở Việt Nam cũng rất bồng bột, từ các thủ đô lớn đến hầu hết các tỉnh, phủ, huyện, đều có hội chấn hưng Phật giáo. Số hội viên đông đúc không xiết kể. Cuộc Việt Pháp chiến tranh xảy ra gần 5 năm rồi, chùa chiền, bia tháp khắp các nơi cũng mang đầy dấu vết tang thương; nhưng cục dịên ở Việt Nam cũng đã hé tia sáng thống nhất độc lập, mặc dầu đang ở vào thời kỳ tinh thần khủng hỏang, cũng như kinh tế quẫn bách. Vậy mà lòng công đức của dân chúng cũng đã gom góp để kiến thiết, tu bổ chùa tháp. Các giáo hội Tăng già cũng như các Hội Phật giáo đương thành lập và đương phục hưng, các trường TăngNi học ở các thủ đô lớn cũng đã tổ chức được hơn 10 trường Phật học, số Tăng Ni học sinh trong các trường đó tổng cộng có tới gần 300. Còn về quan niệm tín ngưỡng Phật giáo của dân chúng quả thật là bồng bột, hầu như họ đã qua một cuộc bom đạn, khói lửa khiến cho phần lớn bị cốt nhục ly tán, tài sản tan không, cái thảm hoạ đó đã khiến họ càng hiểu chân lý vô thượng của Phật dạy, hoá nên không ai bảo ai mà đi lễ bái nghe kinh, cầu đạo lại bắt đầu bồng bột.

Hiện nay dân tộc Việt Nam từ trí thức đến bình dân phần nhiều tin tưởng: Phật giáo Việt Nam có cơ chấn hưng để bồi dưỡng lại tinh thần dân tộc đã có mấy ngàn năm nay.

Ngày nay Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chúng tôi sang Quý quốc đây, mục đích trước là để tỏ lòng chiêm bái Phật địa và ca tụng Quý quốc đã sớm thu hồi chính quyền độc lập; sau là ước mong nối lại dây tinh thần văn hoá  của Phật giáo đã bồi dưỡng cho hai dân tộc bao nhiêu thế kỷ chung sống trong bầu không khí trong sạch sáng suốt vậy.

Sau nửa giờ ông Phạm Chữ dứt tiếng, kế đến Tổng Lãnh sự Pháp và Trưởng Phái Đoàn Phật giáo Việt Nam và Hội Đại Bồ Đề. Các vị còn nêu cả vấn đề quan hệ về Hội nghị Phật giáo Quốc tế, thành ra cuộc nói chuỵên kéo dài ra đến hai tiếng đồng hồ mới giải tán, ai nấy đều đem về một cảm tưởng hy vọng ở Hội Phật giáo thế giới sắp được thành lập cho Phật tử hòan cầu đều có một lực lượng đoàn kết đại hùng, đại lực để cùng thực hiện tinh thần phụng sự nhân loại.

 

16. CUỘC GẶP GỠ NHÀ TRƯỞNG GIẢ BIRLA

 

Sau khi người Anh trao trả Chính phủ Ấn Độ Xá lợi của hai vị Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên do Bác sỹ Nerhu, Thủ tướng Ấn Độ tiếp nhận rồi giao sang Hội Đại Bồ Đề phụng sự. Tuy vậy mà chính phủ Ấn vẫn còn giữ hai món đó là Quốc Bảo vô giá, Phật giáo nước nào muốn xin rước về chiêm bái, tất phải được Chính phủ Ấn duỵêt y, nhiên hậu Hội Đại Bồ Đề mới dám cho rước. Khi tôi được cử làm Trưởng Phái đoàn Phật giáo qua Ấn Độ, ban Tổng trị sự Hội Việt Nam Phật giáo cho tôi một số tác phẩm quý nhất của Phật giáo Việt Nam đem sang biếu Chính phủ Ấn để gây thiện cảm, mong sau này sẽ nhờ Chính phủ Ấn cho được toại nguyện thỉnh Xá lợi.

Đem trí tưởng tượng ra mà đặt đường thì dễ đấy, nhưng đến sự thực tế thì khi sang đến Ấn Độ mới thấy sự trực tiếp với Tổng thống Ấn để trao tay cho Ngài hòm kinh thực là khó, mà điều khó nhất là khi người ta còn nghi kỵ Phái đoàn Phật giáo chúng tôi là có dính chính trị. Đối với danh nghĩa, điều đó chính chúng tôi cũng cần phải tránh nên khi mới đến Ấn Độ, hai lần có các nhà báo đến phỏng vấn về chính trị, chúng tôi đều từ chối, lại phải hoạt động theo nhiệm vụ Phái đoàn Phật giáo cả ở Ấn Độ lẫn Tích Lan. Các báo chí ở Ấn Độ và Tích Lan đều đem các hoạt động hợp chính nghĩa của Phái đoàn Phật giáo nêu lên dư lụân; lại nhờ có Thượng toạ Janatana biên thư giới thiệu với nhà đại Trưởng giả rất được Chính phủ Ấn trọng nể, vì ông này đã giúp kinh tế ho Thánh Cam Địa cách mệnh thành công, tức là BIRLA tiên sinh.

Chúng tôi đáp phi cơ từ Calcutta đến New Delhi hồi 2 giờ chiều ngày 16 tháng 6, có các viên tòa Đại sứ Pháp và đại biểu Phật giáo New Delhi đón về chùa Hội quán dùng cơm nước rồi nghỉ ngơi, 5 giờ chiều Birla tiên sinh cho đón Phái đoàn Phật giáo chúng tôi vào biệt thự đàm đạo. Chúng tôi nói qua mục đích biếu kinh Chính phủ Ấn, yêu cầu Tiên sinh giới thiệu cho được gặp Tổng thống Ấn. Tiên sinh nói:

“Việc này kể ra rất khó, nhưng các Ngài cứ yên tâm, thể nào tôi cũng yêu cầu được Tổng thống chúng tôi tiếp quý Phái đoàn vào nội nhật ngày mai”. Birla tiên sinh hỏi tiếp:

– Cuộc chiến tranh ở Qúy quốc liệu có sắp kết liễu chưa?

– Đa số dân Việt Nam chúng tôi đều cho cuộc chiến tranh ở nước tôi chỉ kết liễu khi nào người Pháp trả lại hòan tòan chủ quyền.

– Sự sinh hoạt hiện thời của dân chúng có dễ chịu không?

– Trừ một số ít người hoặc dấu giếm hoặc chạy được trước khi chiến tranh thì đời sống của họ còn dễ chịu một chút, còn đều bị thiếu thốn đủ mọi đường.

– Ở Việt Nam có Gia giáo không?

– Trước đây linh 300 năm, ở Việt Nam đã có ảnh hưởng Gia giáo, nhưng dân chúng theo rất ít, hịên thời chỉ độ 20% thôi.

– Còn thì theo Phật giáo cả ư?

– Cũng có một số ít người vô Tôn giáo còn họ theo Phật giáo trực tiếp, hoặc theo gián tiếp, nhưng họ cũng tự nhận là theo Phật giáo.

– Lực lượng của Hội VIệt Nam Phật giáo ra sao?

– Trước thời kỳ chiến tranh có linh một trăm chi hội khắp cõi Bắc Việt cộng cả số Hội viên Tăng, Ni, thiện tín có tới linh 30 vạn, nhưng từ khi xảy ra chiến tranh đã tan rã mất nhiều. Nhưng hịên thời cũng đã có nhiều chi tiếp tục hoạt động. Còn Hội Trung ương ở Hà Nội thì sự tiến hành cả về truyền bá giáo dục lẫn cứu tế xã hội cũng khả quan. Đó là tôi chưa nói đến các Hội Phật học ở Trung Việt và Nam Việt, nhất là Sơn môn Tăng già ở Trung Việt có ảnh hưởng rất sâu xa về Phật học ở nước tôi.

Chúng tôi hỏi tiếp:

– Xin tiên sinh cho chúng tôi được biết quan niệm của Ngài đối với Phật giáo?

– Xin thú thực tôi thuộc về Bà la môn giáo, không những riêng tôi mà phần lớn giới trí thức ở  nước chúng tôi tuy thuộc về Bà la môn nhưng rất kính phục Đức Thích Ca. Sở dĩ chúng tôi kính phục Ngài như vậy, là vì Ngài đã sớm hy sinh đời sống diễm phúc, xa hoa của vị Hòang Tử đương tuổi anh niên, quả quyết đoạn tuyệt cảnh ngôi cao quyền lớn, vợ đẹp, con yêu, dấn thân theo con đường tu đạo khổ hạnh, khi chứng ngộ được đạo lại mạnh mẽ đem đạo ra cứu đời suốt 49 năm, tức là Ngài đã hy sinh thân thế để đi tìm hạnh phúc chân thực cho chúng sinh, Ngài đã nêu cao tấm gương chân lý sáng sủa để cải cách từ Tôn giáo, cho đến chính trị, văn hoá, xã hội cho nước tôi hồi ấy, lòng vị tha không bờ bến của Ngài đã kết thành một sức mạnh độc nhất để hướng dẫn hằng hà sa số những tâm hồn về với chân lý từ bi, bình đẳng, cho biết đường sinh sống với cuộc đời sáng suốt, êm dịu. Đức Thích Ca chính là nhà đại tôn giáo cách mệnh, nhưng Ngài chỉ cách mệnh bằng tinh thần bình tĩnh, Ngài còn làm gương cho các nhà cách mệnh bằng võ lực bạo động nữa.

Birla tiên sinh hỏi:

– Xin Thượng toạ cho biết Đức Thích Ca khi Ngài còn tại thế có hay nói đến chính trị không?

– Có, Đức Phật Tổ Thích Ca ngày xưa có nói về chính trị để giúp cho các vua chúa. Dưới đây Bần tăng xin dẫn chứng một đoạn lịch sử còn chép về việc Đức Thích Ca đem chính trị giáo hoá cho vua Thắng Quang ở nước Kiều tát la: “Một hôm vua Thắng Quang đến chiêm yết Phật rồi xin Ngài dạy phép làm chính trị.

Phật bảo vua Thắng Quang rằng: Tuy thân mặc gấm vóc ngồi ngai vàng nhưng tâm phải để đến hạng dân đen áo vải, nhà tranh. Miệng ăn sơn hào hải vị, mà trí phải để đến kẻ đổ mồ hôi nước mắt lấy miếng cơm dưa muối. Ý trí tuy khoan khoái, nhưng phải nghĩ đến những tù hàm oan uổng. Trong tay thống lĩnh muôn dân, làm sao cho chúng đều được sống mạnh mẽ trong lòng nhân ái từ bi, cần phải thương muôn dân như con một của mình, hằng mong cầu cho dân chúng được mọi sự yên lành. Thấy chúng làm điều ác nghiệt, phải nhận ở mình có lỗi thiếu dạy bảo. Nên cố khoan tội lỗi rồi giáo hoá cho họ biết đổi chừa. Thấy dân chúng làm điều hay việc tốt phải khen thưởng để khuyến khích cho chúng thêm hăng hái làm điều lợi ích. Nếu nhà vua thương dân như con thì muôn dân sẽ coi nhà vua như cha. Ở Triều đình phải chọn người tài mà trọng dụng, cho mỗi người một việc, xét kẻ gian nịnh mà truất bỏ. Chớ để nhũng lạm hại nước, hại dân, không nên dùng nhiều người làm để phiền phí đến công quỹ, coi của dân là của mình, sức dân là sức mình, chớ nên đánh sưu thuế nặng, chớ nên bắt phu phen nhiều. Những kẻ ương ngạnh không theo phát luật thì phải trừng trị ngay, chớ để di hoạ về sau.

Còn cần phải noi gương chính trị thuần túy của các vị Thánh vương hiền thần đời trước. Chớ nên hà khắc để dân ai oán làm loạn, chớ nên tàn sát quá đáng để mang tội báo đền nặng về sau. Đối với các nước lân bang, nên gây cảm tình thân thiện, chớ gây mầm oán thù báo phục, chớ nên cậy khỏe hiếp yếu mà xâm chiếm đất nước người ta, chớ nên cậy lớn hiếp bé, đem quân đánh chém gây vạ chiến tranh để bắt người ta thần phục cống hiến. Ngẫm suốt cổ kim thiên hạ, có nước nào mạnh giỏi được mãi, có nước nào bị hèn yếu mãi, mình đã gây vạ chém giết người ta khi cậy lớn cậy khỏe, tất người ta phải lo toan phục thù báo oán để rửa nhục khi mình đã bị hèn yếu.

Nếu nhà vua đem nhân đức làm chính trị như vậy thì ân uy sẽ nhuần thấm thiên hạ, tiếng hay sẽ đồn đại ra khắp các nước gần xa, họ sẽ rủ nhau đến quy phục đông như về chợ, đem lễ vật đến cống hiến cho nhà vua, coi nhà  vua ngang thánh,  thần vậy. Đối với ngôi Tam Bảo nhà vua chớ nên bài bang phải nên tôn kính. Ngôi Tam Bảo là nền trí tuệ của dân, nhà vua phải chăm khêu luôn cho thêm tỏ. Ngôi Tam Bảo là đạo sư hướng dẫn đạo đức cho dân, nhà vua phải ủng hộ. Ngôi Tam Bảo là thuyền bè chở dân đến bến hạnh phúc, nhà vua phải ra tay ủng hộ cho người cầm lái. Cần phải gắng sức giữ gìn. Ngôi Tam Bảo còn phải sáng lập ra khắp trong nước nhiều đạo tràng truyền giáo để cho dân chúng có một nền đạo vị nuôi sống linh hồn của chúng mãi mãi.

Nếu Đại vương nghe theo lời tôi mà trị nước trị dân, thì dân yên nước trị, thiên địa, thần minh chứngminh ủng hộ, mưa thuận gió hòa, lúa đậu nhân dân no ấm, tai vạ không có, nước nhà an lạc, thiên hạ thái bình, sau khi nhà Vua băng hà còn được sinh về cõi giới mà hưởng phần khoái lạc nữa.

Tôi hỏi: Đạo của Đức Phật Thính Ca thuần túy cao cả như Tiên sinh đã biết, tại sao Phật giáo không được bành trướng ở Ấn độ?

Đáp: Đó chẳng qua là vì Phật giáo ở nước tôi đến vận hội suy nhược, hoá nên trong Tăng giới không sản xuất ra được những bậc vĩ tăng như Mã Minh, Long Thụ, Thiên Nhân, Vô Trước v.v.. trong giới Thiện tín không có bậc Hộ Pháp như vua Bình xa. Vua Tần Bà Xa La hay ít nhất cũng được như Vua Sảng Đức, Vua A Dục v.v. để cùng đem giáo lý Đại thừa ra giáo hoá cho dân tộc chúng tôi. Trái lại mặc cho họ xu hướng theo về các giáo khác cả. Nhưng hiện thời ở nước tôi, Phật giáo đã có cơ chấn hưng, vì từ khi nước tôi đòi được chủ quyền Độc lập, chính phủ Ấn đã tính ngay đến phương châm dung hòa Phật giáo với Bà la môn giáo mong cứu vãn cái nạn chia rẽ dân tộc và tôn giáo.

– Thượng toạ Janatana đã cho chúng tôi được biết đến quan niệm đối với Phật giáo của Tiên sinh. Chúng tôi còn nhận thấy công đức vĩ đại của Tiên sinh đã sáng tạo nên trường Phật học ở Lộc Uyển và tòa Chùa ở ngay Quỷ thủ đô đây. Tòa đền thờ Thần Bà La Môn có thể to tát nhất Ấn Độ cũng là do Tiên sinh xuất tài, xuất lực tạo nên. Tiên sinh cho đắp tượng hai bậc Vĩ nhân là Vua A Dục và cho vẽ tranh Thánh Cam Địa đều quý lễ trước tượng Phật Thích Ca. Như vậy, không riêng gì chúng tôi, tất cả các nhân vật trên thế giới đến du lịch quý Thủ đô đây một khi ngoạn cảnh ngôi đền đó, họ đều nhận chân được lòng sủng mộ Phật giáo của tiên sinh là nhường nào rồi.

Đến phút cuối cùng Birla Tiên sinh lại ngỏ ý với chúng tôi rằng:

Xin Thượng toạ cho biết số tiền chi tiêu của quý Phái đoàn đi dịp này hết tất cả bao nhiêu để tôi xin cúng, mong được góp phần công đức.

– Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn tấm đạo tâm vô thượng của tiên sinh đối với Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chúng tôi cũng như đối với tòan dân Việt Nam. Chúng tôi không dám nhận món tiền của Tiên sinh tặng, vì chúng tôi đi đây, ChÍnh phủ Việt Nam đã chu cấp đủ cả. Nói đoạn, chúng tôi liền cáo từ ra về.

 

17. PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM YẾT KIẾN BÁC SỸ “PRASAD” TỔNG THỐNG ẤN ĐỘ

 

Hồi non trưa 17-6-50, chúng tôi nhận được tin Tổng thống Ấn Độ sẽ tiếp chúng tôi tại điện Tổng thống vào hồi 6 giờ chiều. Đúng giờ kể trên, chúng tôi mới tới cửa ngoài đã có lính đón, dẫn vào đến cửa điện đã thấy tổng thống ra đón chào. Chúng tôi đáp lễ rồi cùng vào ngồi. Mỗi đoàn viên ngồi riêng một ghế, riêng tôi, Tổng thống mời ngồi chung với Ngài một tòa để nói chuyện cho vui. Tôi nhân danh Trưởng phái đoàn đệ hòm kinh kính biếu, Ngài tiếp nhận với lễ mạo thành kính và gửi lời cảm ơn Hội Việt Nam Phật Giáo đã để ý đến Chính phủ Ấn Độ do Ngài lãnh đạo. Ngài còn cho mở hòm kinh ra xem một lúc rồi mới cùng chúng tôi đàm đạo.

Dưới đây là những lời vàng ngọc của Bác sỹ PRASAD, Tổng thống Ấn Độ tiếp chúng tôi:

– “Tôi rất sung sướng được tiếp quý Phái đoàn Phật giáo, tôi hằng mong dây tinh thần Phật giáo giữa Ấn Việt sẽ được nối lại mỗi ngày một thêm chặt chẽ. Chỉ có nối dây tinh thần Phật giáo với nhau mới được lâu dài chân thực, còn các mối dây liên lạc khác, dù thiết chặt đến đâu chăng nữa cũng chẳng mấy mà ái nút ! Chính sinh quán của tôi ở Bouddha Gâya tức Bồ Đề tràng nơi Phật Thích Ca tu thành đạo. Tôi đã phải trực tiếp can thiệp giúp Phật giáo đòi Bồ Đề tràng, nên bên Bà La Môn giáo người ta mới chịu trả. Chính phủ Ấn hiện thời không những chỉ bảo tồn những nơi Phật tích, lại còn giúp Hội Maha Bồ đề chấn hưng nhiều công cuộc Phật giáo ở Ấn Độ nữa. Tôi thấy Phật giáo cần phải chấn hưng ở nước tôi; xin Thượng toạ cho biết cảm tưởng của Ngài đối với xứ Ấn Độ?

– Thưa Tổng thống: Chúng tôi nhận thấy ở Quý quốc có ba tôn giáo lớn là Phật giáo, Bà La Môn giáo và Hồi giáo, nay Hồi giáo đã biệt lập thành một nước, chỉ còn có Bà la Môn và Phật giáo. Ở ngay Quý quốc thì Bà la Môn thịnh hơn Phật giáo nhiều, trái lại, Bà La Môn không có một tín đồ nào ở thế giới cả. Phật giáo tuy kém Bà La Môn ở Quý quốc, nhưng lại có hàng mấy trăm triệu Tín đồ ở khắp thế giới, lý thế tất đạo Phật gây thiện cảm với thế giới. Quý quốc còn phải dung hòa Phật giáo với Bà la Môn giáo cho dân chúng thoát cái nạn vì tôn giáo mà chia rẽ cái lực lượng hùng hậu của quốc gia, nhất là phải giải phóng 18 triệu dân nô lệ để cho họ được sinh sống trong bầu không khí từ bi, bình đẳng thời cuộc đời họ mới được có giá trị của con người. Hiện tại muốn xây đắp một nền tảng chắc chắn cả về tôn giáo, chính trị, văn hoá, xã hội ở Quý quốc, cố nhiên cần phải chấn hưng Phật giáo.

Phong trào nam, nữ tự do bình quyền đã lan đến Quý quốc hơn ba năm nay. Vậy mà bần Tăng xem ở mấy tỉnh như Ba la nại, Can quit ta, Đa nát, dĩ chí Tân đen ni đây ít khi thấy đôi vợ chồng trẻ hoặc đôi thanh niên Nam, Nự khoác cánh nhau đi ngoài đường, lại qua không có một người phụ nữ nào mặc áo cánh ra khỏi cửa, đủ thấy nguồn phong hoá ở Quý quốc còn chay sạch lắm. Bần Tăng còn thấy cả dân tộc Quý quốc chỉ độ một phần trăm ăn vận âu phục là những người thường tiếp xúc với ngoại quốc, còn đều dùng quốc phục với đồ nội hoá. Người ốm dùng thuốc men, không kiều cúng ma quỷ và không đốt vàng mã. Người chết đem đốt cho xuống sông là xong, không ma chay kèn trống, xôi thịt và đã không tốn đất cát tốn tiền của lại không tốn cả thì giờ nữa. Đám cưới nào cũng đơn giản, không cỗ bàn, không tiệc tùng, các việc cúng lễ ít khi ăn uống linh đình; như thế không những chỉ bồi bổ cho tinh thần tự chủ của một dân tộc có ngót bốn trăm triệu người, mà còn xây đắp nền kinh tế chắc chắn cho quốc gia nữa. Bần tăng thấy tinh thần thanh, cần, tiết, kiệm và tu, ố, liêm, sỉ còn tươi sáng ở Quý quốc nhiều lắm. Nhất là vừa được thành công rực rỡ của cuộc cách mệnh lạnh, không mất một giọt máu, một đốt xương mà giành được chính quyền độc lập. Chả thế mà phần nhiều người Âu châu đã chán ngấy cái khí vị văn minh vật chất, họ đương đổ xô đến khảo cứu về văn hoá của Quý quốc”.

Cuộc đàm đạo đã đến nửa giờ, chúng tôi xin cáo từ, Tổng thống còn ân cần gửi lời thân ái chào dân tộc Việt Nam và ước mong tinh thần Phật giáo cũng như tinh thần hữu nghị của Ấn Việt luôn luôn liên lạc với nhau rất mật thiết bằng tinh thần Phật giáo.

Khi ra khỏi dinh Tổng thống Ấn, tự thâm tâm ký giả cảm thấy rằng hơn hai tháng lo âu với gánh nặng Trưởng Phật giáo bỗng nhẹ hẳn tôi bèn hứng vịnh:

Từ vâng Phật xứ luống lo âu,
Nhờ sức phù trì kết quả thâu,
Gây mối bang giao cùng quốc tế,
Mở đầu Phật hội với hòan cầu,

Thỉnh kinh ba Tạng noi gương trước.
Ký sự một thiên rọi đuốc sau.
Gánh nặng Phái đoàn thôi đã cất,
Phó cùng trăng gió giữ dùm nhau.

References
1 Chỉ chư Tăng Ấn Độ.
2 Kệ nhà Phật cũng có vận điệu như thơ nhà Nho.
3 Phật tử thế giới phần nhiều đến chùa Đại Bồ Đề rồi mới đi chiêm bái các nơi.

Xem thêm

Chua Viet 2

Thích Trí Hải: Hồi ký thành lập Hội PGVN | Thời kỳ thứ sáu: Giáo Hội Tăng Già Việt Nam

Có người hỏi: Trong Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đã có Tăng già rồi …

Khuong Tang Hoi

Thích Như Điển: Tổ Sư Khương Tăng Hội (?-280)

Cho đến ngày hôm nay hầu như những Sử gia Phật Giáo như Hòa Thượng …