Tran Quang Duc

Trần Quang Đức: Sự thay đổi ngữ nghĩa của từ “tôi”

Tôi vốn có nghĩa là phận tôi tớ, thuộc hạ, sau được dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, tỏ ý khiêm nhường, hạ thấp mình trước đối phương, tương tự như từ Thần 臣 và Bộc 僕 trong tiếng Hán và tiếng Nhật.

Từ điển Việt – Bồ – La ấn hành năm 1651 giải thích: “Tôi: Đầy tớ, gia nhân, thuộc hạ. Làm tôi. Cùng một nghĩa. Tôi tá: Tôi tớ” ; “Tôi: cách nói khiêm hạ. Tôi lạy ông: Tôi tôn kính sự làm chủ của ông.”[1]Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes.

Giáo sĩ Marini ở tại Đàng Ngoài năm 1646 – 1658, ghi lại hình thức chào của người Việt cho biết, khi gặp vua người Việt thưa: “Tôi tâu đúc Bua” (Tôi tâu Đức vua), gặp chúa thì thưa: “Tôi đọû Ciúa” (Tôi dộng Chúa), với hoàng tử và các quan đại thần thì thưa “Tôi thân đúc ôû” (Tôi thân Đức ông), và với những người có địa vị cao hơn mình thì thưa rằng: “Tôi Cièng” (Tôi chiềng).[2]Bản báo cáo “Sứ mệnh của những nhà truyền giáo Dòng Tên tại Nhật Bản, đặc biệt là nhiệm vụ tại Đàng Ngoài” của cha Marini. Dẫn theo Những lữ khách … Continue reading

Ðỗ Thế Giai (1709 – 1766), vị quan võ thời Lê Trịnh, trong các tờ khải điều trần của mình, dâng lên vua Lê chúa Trịnh bao giờ cũng mở đầu bằng câu: “Tôi cẩn khải vâng lạy Ðức bề trên”[3]Gia phả họ Ðỗ ở thôn Ðông Ngạc 杜族家譜 “Đỗ tộc gia phả”.

Lê Chất (1769 – 1826), võ quan triều Tây Sơn sau theo nhà Nguyễn, trong tờ tấu chữ Nôm gửi lên vua Gia Long, thưa rằng: “Tấu vái Đức hoàng thượng muôn muôn năm cao minh ngự lãm”, cuối tờ tấu viết: “Chúng tôi thật lo thật sợ cúi vái. Đức hoàng thượng muôn muôn năm. Ngày 10 tháng 12 năm Gia Long thứ 16 (1817). Bề tôi Lê Tông Chất cẩn tấu.”[4]Dẫn theo Tạp chí Hán Nôm số 6 (121)/2013.

Đại từ này về sau dần thay đổi ngữ nghĩa, chuyển từ thái độ khiêm hạ sang ngang hàng, được sử dụng trong những trường hợp lịch sự, quan phương. Tôi cho rằng sự thay đổi này chỉ diễn ra vào quãng bốn năm chục năm trở lại đây mà thôi. Bởi bạn tôi (tầm 40 tuổi) theo đạo, thường nói họ luôn băn khoăn không hiểu sao ngày bé khi vào nhà thờ, họ lại xưng là /tôi/ trước chúa, còn giờ thì nhất loạt đổi dùng từ /con/. Duyên do đại thể là như vậy.

PS: Bên cạnh từ /tôi/, người Việt còn sử dụng những từ như ta, tao, min, qua v.v. để tự xưng. Theo Từ điển Từ cổ của Vương Lộc:

Qua: Từ người chồng tự xưng với vợ hoặc người lớn tự xưng với người ít tuổi. Qua xem tướng bậu ngây thơ đã đành (LVT). Bậu nói với qua bậu không lang chạ, vỡ lở ra rồi đành dạ bậu chưa (ca dao).

Min: Từ người trên tự xưng khi nói với người dưới; ta, tao. Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi, Văn min khấp khểnh, học min lười (Trần Tế Xương – Thi cơm rượu). Này này sự đã quả nhiên, thôi đà cướp sống chồng min đi rồi (Kiều).

Phô: Từ dùng trước một số danh từ, đại từ để diễn đạt ý nghĩa số nhiều; các, chúng. Phô người học đạo, vô số nhiều thay (Thiền tông bản hạnh). Phô ngươi, phô nuôi (Đại Nam quốc âm tự vị, các ngươi). Nhắn nhủ phô bay đạo cái con (Quốc âm thi tập). Phô bay xét nghe… (Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh). Tôi đã nói ra cùng phô ông… (Phép giảng tám ngày). Bấy nhiêu lời cha đã nói là lời trối sau hết thì phô con phải giữ (Sách sổ sang chép các việc).

Từ điển Việt Bồ La 1651 giải thích:

Ta: Người bề trên nói như vậy với những người bề dưới, nhưng phải là những người bề dưới trang trọng.

Tao: Người trên nói với những người rất thấp như cha nói với con, người quyền quý nói với tiện dân.

Thiền tông bản hạnh do sư Chân Nguyên (1647 – 1726) soạn, kể về hành trạng của vua Trần Nhân Tông, có những đoạn hội thoại giữa vua Nhân Tông với tùy tùng, với các quan. Ở đây vua tự xưng là TAO, gọi kẻ dưới là BAY. Ví dụ:

– Thị tòng bay đi cùng tao, thăm xem dân thế dường nào cho hay.

– Nhân Tông mỉm cười thốt ra: […] Lòng tao quảng độ chúng sinh, Đầu Đà khổ hạnh giáo thanh truyền đời.

– Nhân Tông thốt bảo rằng: Bay! Lòng tao thuở này muốn tới Ngọa Vân […] Gọi lấy Bảo Sát cho tao, có lời được nhủ tiêu hao mọi lòng […] Pháp Loa tao đã truyền lòng, làm đệ nhị tổ nối dòng Như Lai.

tqdTrần Quang Đức (sinh năm 1985 tại Hải Phòng) là một tác gia và dịch giả Việt Nam. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống Nho phong. Thuở nhỏ, ông bắt đầu được ông nội hướng dẫn tự học và đọc Hán tự, sau đó tiếp thụ thêm mặt chữ Nôm.

Năm 2003, ông tốt nghiệp trường THPT Thái Phiên (Hải Phòng), sau đó thi đỗ trường Đại học Ngoại ngữ Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên, năm 2004, ông đoạt giải nhất cuộc thi Nhịp cầu Hán ngữ nên nhận học bổng sang du học Đại học Bắc Kinh. Sau 4 năm ở Bắc Kinh, ông hồi hương và công tác tại Viện Văn học.

Ông bắt đầu được công luận Việt Nam chú ý với ấn phẩm Ngàn năm áo mũ, một công trình chuyên khảo lịch đại y quan An Nam từ quốc sơ tới trung đại mạt kì. Những cứ liệu này đồng thời dẫn tới sự phản bác thành kiến bài xích Nho học, Hán tự và cả lịch sử văn học trung đại mà dư luận từ đầu thập niên 2000 duy trì tới thời điểm 2013 – khi sách được công bố. Tác phẩm này cũng lập tức khơi dậy trong giới trẻ trào lưu tìm về cội nguồn phong hóa Việt Nam vốn đã mai một từ thời kì lãnh chiến tang thương. […] Wikipedia 

References
1 Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes.
2 Bản báo cáo “Sứ mệnh của những nhà truyền giáo Dòng Tên tại Nhật Bản, đặc biệt là nhiệm vụ tại Đàng Ngoài” của cha Marini. Dẫn theo Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam. Lưu ý:
Dộng: Từ thưa gửi với Chúa Trịnh. Từ điển Việt Bồ La: “Tiếng danh dự mà bất cứ ai bắt đầu thưa với Chúa xứ Đông Kinh. Dộng Chúa muôn năm; Làm khải dộng chúa”. Thái tử quỳ dộng chỉnh tề (Phạm Công Cúc Hoa). Thân 申: Nói. Chiềng: tức trình 呈, thưa gửi với người trên. Chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ tây đông.
3 Gia phả họ Ðỗ ở thôn Ðông Ngạc 杜族家譜 “Đỗ tộc gia phả”.
4 Dẫn theo Tạp chí Hán Nôm số 6 (121)/2013.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.