DẪN VÀO TUỆ GIÁC PHẬT: Những tháng cuối cùng của Đức Phật I L.69 Phật nhập Niết-bàn

dvtgp l 69 nhung thang cuoi cung cua duc phat

Những tháng cuối cùng của Đức Phật

L.69 Phật nhập Niết-bàn

Sau khi nói giáo huấn tối hậu, Phật lần lượt nhập các định: từ sơ thiền (jhāna), rồi đến thiền thứ hai, thứ ba và thứ tư (xem *Th.140); tiếp theo nhập bốn định vô sắc (xem *Th.142) – không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ – tột cùng là tưởng thọ diệt. Rồi lần lượt xuất và nhập trở lại các định và thiền cho đến sơ thiền, từ đó lần lượt xuất và nhập trở lại lên đến thiền thứ tư, đây là thiền mà y chỉ trên đó trước đây Ngài thành Chánh giác. Nay cũng y chỉ thiền thứ tư này Phật nhập Niết-bàn.

Xuất tứ thiền, trực tiếp không gián cách, Thế Tôn nhập vô dư y Bát-niết-bàn.

Khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, cùng lúc ấy đại địa chấn động,

Phạm thiên Sahampati[1]Về vị này, xem *L.19 và 25. xướng lên bài kệ này: Thân giả hợp trên đời, cuối cùng đều xả bỏ, Đức Đạo Sư cũng vậy, đấng tuyệt luân trên đời, Như Lai, đại oai lực, chánh giác cũng diệt độ.

Khi Thế Tôn nhập diệt, cùng lúc ấy, Thiên chủ Sakka[2]Về vị này, xem *L.2, 31, 33, 36 và *Th.34 và 38. xướng lên bài kệ này: Các hành là vô thường, Có sanh phải có diệt.

Sau khi sanh, chúng diệt, Tịch diệt là an lạc.

Khi Thế Tôn diệt độ, cùng lúc ấy, tôn giả Ānanda xướng lên bài kệ này:[3]Bài kệ này không có trong Mahā-parinibbāna Sutta, nhưng có một đoạn tương đương trong Saṃyutta-nikāya I.157–59 <340–342>.
Bấy giờ thật kinh sợ, thật lông tóc dựng ngược,
Đấng Sắc tướng thù thắng, đấng Chánh giác nhập diệt.

Khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, cùng lúc ấy tôn giả Anuruddha thốt lên bài kệ này:
Không thở ra thở vào, như vậy tâm trụ định,
Bất động, hướng tịch tĩnh, Mâu-ni nhập Niết-bàn. Với tâm không co rút, nhẫn thọ mọi cảm thọ, Như dập tắt ánh đèn, Niết-bàn, tâm giải thoát.

Mahā-parinibbāna Sutta: Dīgha-nikāya II.156–157, dịch Anh G.A.S.

The last months of the Buddha’s life

L.69 The Buddha’s passing away

After his last words, the Buddha goes through a series of meditative states: from the first meditative absorption (jhāna) to the second, third and fourth of these (see *Th.140); then through the four formless states (see *Th.142) – the spheres of infinite space, infinite consciousness, nothingness, and neither-perception nor-non-perception – then to the state of the cessation of perception and feeling. He then goes back down through all these states to the first absorption, then back up to the fourth absorption, from which he had attained awakening. Having demonstrated full self-mastery, he then passed away.

Having emerged from the fourth meditative absorption, immediately after this the Blessed One directly attained final nirvana.

When the Blessed One attained final nirvana, simultaneously with his final nirvana, Brahmā

Sahampati[4]On whom, see *L.19 and 25. recited this verse:
All beings in the world will finally lay the body down,
Since such a one as the teacher, the peerless person in the world,
The Tathāgata, one endowed with powers, the awakened one, attained final nirvana.

When the Blessed One attained final nirvana, simultaneously with his final nirvana, Sakka[5]On whom, see *L.2, 31, 33, 36 and *Th.34 and 38. the king of gods recited this verse:
Impermanent indeed are conditioned things, Their nature is to arise and decay.

Having arisen, they cease:
Happy is their stilling.

When the Blessed One attained final nirvana, simultaneously with his final nirvana,

Venerable Ānanda recited this verse:[6]This verse is not in the Mahāparinibbāna Sutta, but in an equivalent passage at Sayutta-nikāya I.157–59 <340– 342>.
Then there was terror, then there was trepidation,

When the awakened one who is perfect in all excellent qualities attained final nirvana.

When the Blessed One attained final nirvana, simultaneously with his final nirvana, Venerable Anuruddha recited these verses:
There was no more in-and-out breathing in the stable one of steady mind When unstirred, bent on peace, the one with vision attained final nirvana. With unshrinking mind he endured the pain;

Like the quenching of a lamp was the deliverance of the mind.

Mahā-parinibbāna Sutta: Dīgha-nikāya II.156–157, trans. G.A.S.

________________________

THỈNH SÁCH
PHẬT ĐIỂN PHỔ THÔNG
DẪN VÀO TUỆ GIÁC PHẬT

Chủ Biên:
LÊ MẠNH THÁT | TUỆ SỸ

logo HTPV

References
1 Về vị này, xem *L.19 và 25.
2 Về vị này, xem *L.2, 31, 33, 36 và *Th.34 và 38.
3 Bài kệ này không có trong Mahā-parinibbāna Sutta, nhưng có một đoạn tương đương trong Saṃyutta-nikāya I.157–59 <340–342>.
4 On whom, see *L.19 and 25.
5 On whom, see *L.2, 31, 33, 36 and *Th.34 and 38.
6 This verse is not in the Mahāparinibbāna Sutta, but in an equivalent passage at Sayutta-nikāya I.157–59 <340– 342>.

Xem thêm

Dan vao Tue giac Phat

Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 7: Đạo đức

CHƯƠNG 7 ĐẠO ĐỨC   THƯỢNG TỌA BỘ Thiện và bất thiện hành   Th.102 …

Dan vao tue giac

Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 6: Đạo tích và Đạo hạnh

CHƯƠNG 6 ĐẠO TÍCH VÀ ĐẠO HÀNH THƯỢNG TỌA BỘ Trách nhiệm cá nhân – …

Dan vao tue giac

Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 5: Về nhân sinh

PHẦN II: PHÁP CHƯƠNG 5 VỀ NHÂN SINH   THƯỢNG TỌA BỘ Vòng luân hồi …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.