den hung

Lê Kim Ngân: Tổ chức chính trị tại nước ta thời Hùng Vương

ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Khi dùng chữ «thời Hùng Vương» ở đây chúng tôi chỉ muốn chỉ một thời gian lịch sử của nước nhà trước khi Thục An Vương chiếm nước ta lập thành nước Âu lạc (tức là từ năm 258 trước Tây lịch trở ngược lên cho tới Kinh Dương Vương), gồm 2622 năm, đúng theo như Đại việt Sử ký Toàn thư (viết tắt Toàn thư) chép: «Từ đây trở lên là Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Mậu tuất, cùng một thời với Đế Nghi, truyền đến cuối đời Hùng Vương, ngang với Văn Vương đời nhà Chu năm thứ 57 là năm Quí mão thì hết. Cộng 2622 năm (2879-258 trước Công nguyên)». (Toàn thư, bản dịch, tr. 63)
  • Danh xưng «thời Hùng Vương» ở đây tôi xin xác định lại cho rõ, chỉ thuần túy là tên gọi để chỉ một khoảng thời gian lịch sử của nước Việt ta, chứ không có nghĩa như một triều đại (giống như các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… sau này).

Sở dĩ chúng tôi phải cẩn thận nêu lên vấn đề này là vì hiện thời có hai thuyết về «sự thật vua Hùng»: một thuyết cho rằng vua Hùng với nước Văn lang không chắc đã có trong lịch sử nước nhà[1], và một thuyết khác lại tin tưởng chắc chắn rằng: «Họ Hồng Bàng và vua Hùng là có thật».[2] (Chúng tôi sẽ có dịp bàn rõ về hai thuyết trên ở một đoạn sau trong bài này). Trong khi đó, chúng tôi chưa có trong tay một tài liệu chắc chắn để có thể theo hẳn thuyết nào trong hai thuyết trên.

  • Trong bài này chúng tôi sẽ chỉ tìm hiểu tổ chức chính trị tại nước ta (mà ta tạm gọi là nước Văn lang theo như Đại việt Sử ký Toàn thư chép) vào thời gọi là Hùng Vương (theo như Đại việt sử ký Toàn thư, đã viết). Các sinh hoạt xã hội khác như đời sống nông nghiệp, tôn giáo, phong tục, tập quán…, chúng tôi sẽ không bàn tới. Nếu có dịp, chúng tôi sẽ đề cập đến những vấn đề này trong một bài khảo cứu khác.

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ THỜI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

  • Nói một cách xác thực hơn, chúng ta sẽ xét tổ chức chính trị của tập đoàn dân Việt, những tổ tiên của chúng ta, trong địa bàn mà sử cũ gọi là nước Văn lang, từ thiên niên kỷ thứ III đến gần cuối thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên.
  • Để khảo cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng hai loại tài liệu:

— Loại tài liệu chắc chắn, đáng tin cây là tài liệu vật chất do khoa khảo cổ học cung cấp. Đó là những địa khai tìm thấy tại các địa điểm khảo cổ ở miền Bắc như Phùng nguyên, Gò mun, Đông sơn…

Tài liệu thánh văn gồm những sách sử Trung hoa, Việt nam viết về thời này. Loại tài liệu này cần phải cân nhắc kỹ lưỡng vì đa số do người đời sau viết lại theo truyền thuyết, khẩu truyền.

  • Trên khía cạnh khảo cổ học, ta có thể ghi nhận rằng thời đại Hùng Vương bao trùm các nền văn hóa sau[3]:

— Sớm nhất là văn hóa Phùng nguyên[4]. Văn hóa Phùng nguyên có thể phân làm hai giai đoạn: Phùng nguyên 1 thuộc cuối thời đại đá mới chuyển qua sơ kỳ thời đại đồng thau, Phùng nguyên 2 thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau.

— Muộn hơn có văn hóa Gò mun[5] thuộc trung kỳ thời đại đồng thau.

— Thuộc hậu kỳ thời đại đồng thau, hoặc một phần đã chuyển qua sơ kỳ thời đại sắt là nền văn hóa Đông sơn[6] ở vùng Bắc việt, như Việt khê, Vinh quang, Đào thịnh, Việt trì…

Tuy nhiên cũng có người[7] cho rằng văn hóa Đông sơn là văn hóa chủ yếu của thời đại đồng thau ở Việt nam và đó cũng là nền văn hóa bao trùm gần suốt thời đại Hùng Vương. Tác giả Phạm Văn Kỉnh chia văn hóa Đông sơn làm ba giai đoạn[8]:

Đông sơn 1 là thời kỳ phát triển của thời đại đồng thau. Văn hóa Gò mun, có thể coi là nền văn hóa tiêu biểu cho Đông sơn 1.

Đông sơn 2 là thời kỳ hưng thịnh và mạt kỳ của thời đồng thau. Địa điểm khảo cổ Việt khê có thể coi là tiêu biểu cho Đông sơn 2.

Đông sơn 3 thuộc giai đoạn sớm của thời đại sắt.

Về thời gian lịch sử thì, vẫn theo Phạm Văn Kỉnh (sách đã dẫn), văn hóa Đông sơn trải qua ba thời kỳ lịch sử: Hùng Vương, An Dương Vương và phần đầu thời Bắc thuộc. «Đông sơn 1 và một phần lớn Đông sơn 2 gồm những di tích có niên đại từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên trở lên đến đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên(vào khoảng đầu thời Tây Chu), là những di tích thời đại Hùng Vương.»[9]

Còn «văn hóa Phùng nguyên là một nền văn hóa khảo cổ thuộc hậu kỳ thời đại đá mới và sơ kỳ thời đại đồng thau»[10].

Về niên đại của văn hóa Phùng nguyên, tác giả họ Phạm cho rằng di tích căn bản của văn hóa Phùng nguyên có niên đại vào khoảng thời Ân và một phần thời Tây Chu, «còn một bộ phận nào đó của văn hóa Phùng nguyên còn tồn tại song song với văn hóa Đông sơn và có liên hệ mật thiết với nền văn hóa này»[11].

  • Tóm lại, về niên đại của thời đại Hùng Vương, ta có thể định như sau :

— Dựa vào Đại việt Sử ký Toàn thư, ngoại kỷ, quyển 1, Hồng Bàng thị kỷ, ta nhận rằng thời này, từ Kinh Dương Vương cho đến Hùng Vương thứ 18 bao gồm 2622 năm, tức từ năm 2879 đến 258 trước Công nguyên, nghĩa là vào đầu thiên niên kỷ thứ III cho đến gần cuối thiên niên kỷ thứ I trước Tây lịch.

— So với thời đại khảo cổ, thì thời Hùng Vương bao gồm những nền văn hóa sau:

* Trước hết là văn hóa Phùng nguyên (vào những năm đầu thời Hồng Bàng),tức là thời văn hóa hậu kỳ đá mới sang sơ kỳ thời đại đồng thau.

* Văn hóa Đông sơn 1 và Đông sơn 2 tức là thời kỳ phát triển, hưng thịnh và mạt kỳ của thời đại đồng thau.

TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ THỜI HÙNG VƯƠNG

Muốn bàn tới tổ chức chính trị, trước hết ta cần xác định địa bàn trên đó cơ cấu chính quyền có thể được thiết định, sau ta mới nói tới các cơ quan, viên chức vận hành cơ cấu chính quyền này,

Nói một cách khác, trước hết ta cần bàn xem địa bàn của dân tộc Lạc việt như thế nào (nghĩa là ta phải tìm xem giới hạn của thẩm quyền quản hạt của chính quyền Hùng Vương, nếu có, ra sao), rồi sau đó ta mới bàn tới cơ cấu vận hành quyền chính trong giới hạn này, tức chính quyền.

I. LÃNH THỔ NƯỚC TA THỜI HÙNG VƯƠNG NHƯ THẾ NÀO?

A. Thử bàn về địa bàn nước ta thời Hùng Vương.

  • Theo Đại việt Sử ký Toàn thư, ngoại kỷ, Hồng Bàng kỷ, quyển 1 (bản dịch của Nhượng Tống, trang 35) thì: «Khi Hùng Vương lên ngôi dựng nước gọi là nước Văn lang. Nước ấy phía Đông giáp biển Nam; phía Tây tới Ba thục; phía Bắc đến hồ Động đình; phía Nam tiếp với nước Hồ tôn, tức nước Chiêm thành, tức là tỉnh Quảng nam ngày nay. Chia nước làm mười lăm bộ. Rằng Giao chỉ; rằng Châu diên; rằng Vũ ninh; rằng Phúc lộc; rằng Việt tường; rằng Ninh hải; rằng Dương truyền; rằng Lục hải; rằng Vũ định; rằng Hoài hoan; rằng Cửu chân; rằng Bình văn; rằng Tân hưng; rằng Cửu đức; cho các bề tôi cai trị. Còn bộ Văn lang, tức là nơi nhà Vua đóng đô.»

Theo như sử cũ của ta chép trên đây thì biên giới của nước Văn lang[12] bao gồm gần hết cả miền Giang nam và Lĩnh nam của Trung hoa, toàn thể miền Bắc Việt nam, kéo dài xuống tới Hoành sơn hiện thời.

  • H. Maspéro, trong Le Royaume de Văn lang[13], cho rằng địa bàn của nước Văn lang về phía Bắc lên tới Ba thục và hồ Động đình là do sự lầm lẫn giữa nước Văn lang 文 郎 và nước Dạ lang 夜 郎 vì hai chữ Văn 文 và Dạ 夜 viết gần giống nhau nên sách xưa dễ dàng lầm lộn. Theo ông, địa bàn nước Văn lang của vua Hùng chỉ tương đương với miền đất Bắc việt ngày nay.

Ông Đào Duy Anh, trong Đất nước Việt nam qua các đời[14] cho rằng địa bàn nước Văn lang chép trong Lĩnh nam Trích quái chính là địa bàn của dân Bách việt[15]. Còn tổ tiên chúng ta thuộc nhóm Lạc việt. Theo Hậu hán thư, Mã Viện truyện (quyển 24) và Nhâm Diên truyện (quyển 76) thì nhóm Lạc việt này là người ở các quận Giao chỉ và Cửu chân, nghĩa là ở vào khoảng miền Bắc Việt nam hiện nay. Đào Duy Anh (sách đã dẫn) cũng lại xét 15 bộ của nước Văn lang chép trong Lĩnh nam Trích quái và đi tới kết luận: «đất 15 bộ không thể ở ngoài phạm vi của miền Bắc nước Việt nam ngày nay cùng với một dải ở miền Nam tỉnh Quảng tây của Trung quốc»[16].

Như thế cả H. Maspéro lẫn Đào Duy Anh đều đồng ý với nhau địa bàn sinh sống của dân Lạc việt, hay nói khác đi, của nước Văn lang chỉ bao gồm phần đất Bắc Việt ngày nay.

  • Về phương diện khảo cổ học, các nhà khảo cổ sau khi xét các đồ đồng tìm thấy tại các địa điểm khảo cổ ở Bắc Việt nam (Phùng nguyên, Gò mun, Việt khê, Đào thịnh, Đông sơn…) ở nam Trung quốc, ở In-đô-nê-xi-a, ở Mã lai, đã đi tới kết luận là: «trên một khu vực liền khoảnh, bao gồm miền Bắc Trung bộ và Bắc bộ hiện nay, có các di tích khảo cổ thuộc thời đại đồ đồng thâu phân bố sát liền nhau, không đứt quãng». Đó là văn hóa Đông sơn, «một nền Văn hóa có địa bàn phân bố chính là miền Bắc Việt nam»[17].

Dựa vào di tích của đồ đồng thau tìm thấy ở các địa điểm khảo cổ tại Thanh hóa, tại các địa điểm ở đồng bằng Bắc việt, Đào Duy Anh viết: «Điểm cực bắc phát hiện được di tích của văn hóa đồ đồng Lạc việt là xã Đào thịnh ở phía Bắc thị trấn Yên bài trên tả ngạn sông Hồng; điểm cực nam phát hiện di tích của văn hóa đồ đồng Lạc việt là miền Cương hà trên lưu vực sông Gianh ở Quảng bình. Phạm vi phân bố của văn hóa đồ đồng ở miền Bắc Việt nam, xét đại thể chính là tương đương với khu vực của nước Văn lang như chúng ta đã xác định ở trên»[18].

  • Tóm lại, dựa vào thư tịch và khoa khảo cổ học, chúng ta có thể kết luận một cách khá chắc chắn rằng : Địa bàn sinh sống của dân Lạc việt thời Hùng Vương, hay nói khác đi, địa bàn của nước Văn lang (theo truyền thuyết) bao gồm toàn thể đất Вắс việt và một phần Bắc Trung việt ngày nay.

B. Sự thật về nước Văn lang ra sao?

Địa bàn của tập đoàn dân Lạc việt vừa xác định trên có phải là địa bàn của một nước Văn lang trong truyền thuyết không? Sự thật về nước Văn lang như thế nào?

  • Về khía cạnh thư tịch, có lẽ chữ «Văn lang» đầu tiên xuất hiện trong một đoạn văn của Lâm ấp ký (do người Trung hoa viết vào khoảng thế kỷ thứ V) được dẫn lại trong Thủy kinh chú, quyển 36 tờ 451-452, nguyên văn như sau:

朱 吾 以 南 有 文 狼 人 野 居 無 室 宅 依 樹 止 宿

食 生 魚 肉 採 香 為 業 與 人 交 市 若 上 皇 之 民

矣 縣 南 有 文 狼 究 下 流  逕 通,

Âm: Chu ngô dĩ nam hữu Văn lang nhân, dã cơ vô thất trạch, y thụ chỉ túc, thực sinh ngư nhục, thải hương vi nghiệp, dữ nhân giao thị, nhược Thượng hoàng chi dân hỹ. Huyện nam hữu Văn lang cứu hạ lưu kinh thông.

Xin dịch nghĩa là:

«Ở phía nam (huyện) Chu ngô (tại quận Nhật nam) có giống người văn lang (văn: vẽ mình; lang: loài sói), ở đồng nội không (xây) nhà cửa, nương vào đây mà nghỉ ngơi ban đêm, ăn cá và thịt sống, làm nghề hái lượm các chất có hương thơm, cùng mọi người buôn bán tại chợ, cũng là dân của Thượng hoàng vậy. Ở phía nam huyện (này) có khe thác Văn lang, hạ lưu nhỏ hẹp giao thông được.»

Về sau các sử gia Việt nam viết Văn lang 文 狼 này thành Văn lang 文 郎 [19] và đặt thành quốc hiệu cho một nước giả tưởng của Vua Hùng! Chính Đào Duy Anh trong Đất nước Việt nam qua các đời, nơi trang 13 và 14, khi xét về danh sách 15 bộ của nước Văn lang, cũng đã tỏ ý nghi ngờ về 15 bộ này với tên Văn lang: «Những tên trong ba danh sách ấy[20] đều là tên các quận châu huyện từ đời Tần đến đời Đường, trừ ra hai tên Việt thường và Văn lang là hai tên vốn có trong truyền thuyết, nhưng chính hai tên ấy thì tên Việt thường đến nhà Ngô nhà Tề cũng lấy để đặt tên của quận Cửu đức và tên Văn lang thì đến đời Đường đã trở thành tên một thành 文 狼, ở huyện Tân xương, hoặc tên một rợ Di (文 郎 夷) xưa ở huyện Mê linh. Xem nội dung các danh sách ấy thì có thể đoán rằng khi các sử gia xưa của nước ta muốn cho nước Văn lang trong truyền thuyết một nội dung cụ thể thì họ đã lấy tên ở các đời từ nhà Đường về trước, chọn lấy một số tên, một là nhắm cho đủ số 15 bộ trong truyền thuyết, hai là nhắm làm thế nào để cho 15 tên ấy trùm cả địa bàn sinh tụ của tổ tiên ta ở thời Hùng Vương.»

  • Vậy thì ta đã thấy rõ rằng Văn lang chỉ là một tên trong truyền thuyết, và có thể để chỉ một giống người vẽ mình (văn) và đời sống còn lạc hậu sống như loài sói (lang). Chứ vào thời Hùng Vương chưa thể có một nước Văn lang với một tổ chức hành chánh khá chặt chẽ (chia nước làm 15 bộ) như trong các danh sách sử xưa của ta ghi chép được.

II. TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI HÙNG VƯƠNG

Bàn tới tổ chức chính quyền, người ta thường nói tới người đứng đầu tổ chức này. Ở đây đó là vua Hùng Vương.

Vậy sự thật về Hùng Vương ra sao? Cơ cấu chính quyền của xã hội Lạc việt thời này thế nào?

A. Vua Hùng có hay không?

Về vấn đề này có hai giả thuyết được nêu lên:

1) Giả thuyết thứ nhất gồm có: Nhượng Tống, Nguyễn Phương và một số học giả khác nghi ngờ về triều đại Hùng Vương với nước Văn lang trong lịch sử dân tộc Việt:

  • Nhượng Tống, trong bản dịch cuốn Đại việt sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, nơi trang 51, có bàn rằng: «Theo như lời tác giả (chỉ Ngô Sĩ Liên), tập Ngoại kỷ về triều họ Hồng Bàng và triều vua Thục là do mình mới thêm vào. Thêm vào bằng cách nào? Tác giả đã bảo ta: «Tham bác với Bắc sử, Dã sử; với các sách truyện, chí; cùng với các điều được nghe, được thấy, được truyền dạy…». Nói một cách khác, trong các sử cũ của ta, không hề có chép họ Hồng Bàng cùng vua Thục. Hai chuyện đó là tự Ngô Sĩ Liên chắp nối «đầu cua tai ếch» mà chế tạo nên!

Theo Nhượng Tống, sở dĩ Ngô Sĩ Liên «bịa» ra đời Hồng Bàng rồi đặt họ này lên đầu phần Ngoại kỷ, gán cho họ này là tổ của dân tộc Việt là có một hậu ý rõ ràng: đó là ý đề cao dòng họ Lê là dòng họ sư thần Ngô Sĩ Liên khâm phục và đang làm thần tử (Ngô Sĩ Liên làm quan dưới thời Lê Thánh Tông).

Nhượng Tống viết: «Ông Liên là sử thần đời Lê… và ở các nhà nho xưa, lòng trung ái cơ hồ như thiên tính… Huống chi vua của ông lại là Thánh Tông, một kẻ rất sùng nho, trọng đạo. Với vua ấy, ông có thể yêu tha thiết… Như trong lời tựa, ông đã muốn báo bổ nhà Vua bằng việc viết sử. Báo bổ cách nào? Ấy là cách nhận ngầm dân Mường là chính giống Việt nam… Sao thế? Bởi vì Lê Lợi, Thái tổ nhà Lê, chính là một người Mường… Nếu không là một người Mường, sao có kế thế làm phụ đạo động Lam sơn? Miền cho tới nay cũng vẫn còn là một miền Mường thuần túy! Ấy là cái duyên cớ khiến nhà viết sử của chúng ta đặt họ Hồng Bàng lên đầu Ngoại kỷ.»[21]

  • Nguyễn Phương trong bài «Lịch sử Lạc việt»[22] lại cho rằng 18 đời vua Hùng gán cho nước Văn lang chính là 18 đời vua Hùng của nước Sở bên Trung quốc, và Hùng Vương ở nước Văn lang chính là Lạc vương mới đúng. Ông viết: «…làm được cho Hùng Vương do Lạc vương mà ra cũng là Hùng Vương do nước Sở mà ra, đó mới là công việc các học giả Việt nam cố gắng làm. Con người đã bắt đầu công việc to tát đó có lẽ là tác giả của Lĩnh nam Trích quái vào thượng bán thế kỷ XV. Ở đây sự việc sẽ được chắp nối một cách tự do và quái dị! Dẫn đầu một loạt những chuyện «trâu ma rắn thần», là chuyện họ Hồng Bàng, tức là chuyện trong đó có nói về Hùng Vương.[23]» Rồi sau khi chép lại chuyện Hùng Vương trong Lĩnh nam Trích quái, Nguyễn Phương phê bình: «Tính cách tưởng tượng của câu chuyện thật là rõ rệt. Ngoài ra nó còn mang tính cách đồi phong bại tục nữa… Nhưng không phải nhờ tập Lĩnh nam Trích quái mà tập truyền Hùng Vương đã được bất hủ hóa trong tri óc người Việt. Tác phẩm đã làm việc đó, chính là bộ Đại việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Trong Toàn thư, ông không có công sáng tác câu chuyện, nhưng sáng kiến của ông lại không ai bì kịp… đó là lấy chuyện quái dị làm chuyện sử…»[24] và Nguyễn Phương kết luận: «Như vậy tính cách giả tạo của tất cả câu chuyện Hùng Vương đã trở thành hiển nhiên, và thứ dân đầu tiên lịch sử nói đến ở Cổ việt chỉ có thể là dân Lạc việt, với người đứng đầu là Lạc Vương[25]
  • Nhượng Tống nghi ngờ Ngô Sĩ Liên «bịa» ra thời đại Hùng Vương để đề cao triều đại của nhà Lê mà họ Ngô đang giúp giập. Thực ra Ngô Sĩ Liên không hề «sáng tác» ra triều đại Hùng Vương. Trước thời Ngô Sĩ Liên người ta đã thấy có đền thờ Hùng Vương tại làng Hi cương, huyện Sơn vi, tỉnh Phú thọ, nơi mà truyền thuyết cho rằng đó là kinh đô cũ của vua Hùng[26]. Theo ông H. Maspéro, trong Le Royaume dé Văn lang[27], thì đền thờ này không xưa lắm, có lẽ mới được dựng lên vào đời nhà Trần. Điều này chứng tỏ rằng «truyền thuyết Hùng Vương» đã có trước Ngô Sĩ Liên, sử gia Ngô Sĩ Liên chỉ làm công việc ghi chép lại; và đồng thời, đền này cũng không phải được lập ngay khi triều đại vua Hùng vừa bị diệt để chứng tỏ chắc chắn cho giả thuyết «vua Hùng là có thật.»

Còn Nguyễn Phương không hẳn phủ nhận «Sự thật Hùng Vương» mà chỉ cố chứng minh Hùng Vương tức là Lạc Vương.

2) Giả thuyết thứ nhì gồm có đa số học giả ngoài Bắc cho rằng: «Họ Hồng Bàng và vua Hùng là có thật»[28]. Tác giả bài «Họ Hồng Bàng và vua Hùng là có thật» không đưa ra một luận cứ nào vững chắc, mà hoàn toàn chỉ dựa vào «điều thư tịch nói rằng: Thời Chu Trang Vương, ở Bộ Gia ninh, có người xưng là Hùng Vương, dùng ảo thuật để áp phục nhân dân»[29].

Ngoài ra còn nhiều tác giả khảo ở ngoài Bắc đã cố gắng chứng tỏ «Hùng Vương là có thật» bằng cách ghép khoa khảo cổ học gắn liền với thời đại Hùng Vương, khiến cho người đọc có cảm tưởng như khoa khảo cổ học đã tìm được dấu tích Hùng Vương qua những địa khai đào quật được hoặc trên những hoa văn của đồ gốm, đồ đồng tìm thấy[30]. Hơn thế nữa Tố Minh Trung và Đỗ Văn Ninh, trong bài «Những người làm công tác sử học ở miền nam Việt nam đã bàn gì về thời đại Hùng Vương»[31] đã chê sử gia Nam Việt nam về việc họ tìm hiểu sự thật về Hùng Vương là: «Không có những sử liệu chính xác, khoa học, không thêm được chút tài liệu mới nào vượt quả lập luận của H. Mapê-rô, Lê Chí Thiệp, Lê Dư, vẫn với phương pháp duy nhất là lục lạo trong mớ sử cũ của Trung quốc và Việt nam…»

Chúng ta không phủ nhận được công trình to lớn của các nhà khảo cổ học ngoài Bắc đã thực hiện được nhiều công cuộc khai quật giá trị, đóng góp rất nhiều về việc tìm hiểu thời đại đồ đá, đồng thau tại miền Bắc Việt nam. Tuy nhiên, những địa khai mà các nhà khảo cổ học ngoài Bắc thực hiện cho tới giờ, mới chỉ cho ta biết được một cách chắc chắn những văn hóa vật chất của dân ta trong một giai đoạn lịch sử nào đó, mà ta cũng chỉ mới chắc chắn gọi được là thời đại đồ đá, thời đại đồng thau, hoặc gọi bằng tên địa danh khai quật: Văn minh Hòa bình, Bắc sơn, Phùng nguyên, Gò mun, Đông sơn… Chứ chưa có một chứng tích vật chất nào do khoa khảo cổ cung cấp chứng tỏ có sự tồn tại của một triều đại Hùng Vương trên mảnh đất Bắc việt vào thời gian từ năm 258 trước Tây lịch trở về trước. Rốt cuộc, các nhà sử học miền Bắc vẫn phải dựa vào «mớ sử cũ của Trung quốc và Việt nam» mà định niên đại cho thời Hùng Vương. Chính Hoàng Xuân Chinh trong bài «Về thời gian tồn tại của thời Hùng Vương»[32] cũng đã phải dựa vào Việt sử lược, Đại việt sử ký Toàn thư để đoán định về thời gian tồn tại của thời đại Hùng Vương và rồi phải thú nhận: «Sở dĩ có sự khác nhau trên là do chúng ta nghiên cứu còn đang quá tản mạn. Đối với sự xác minh, giám định các tài liệu trên, chúng ta mới đang trên quá trình tiến hành. Trong khi đó việc đoán định niên đại tuyệt đối của các di chỉ khảo cổ, văn hóa khảo cổ, thì cho đến nay, chúng ta chưa có điều kiện làm được»[33].

  • Tóm lại các học giả vẫn chưa đồng ý với nhau về vấn đề vua Hùng có thật hay không.

Vì phía chúng tôi, như đã minh xác ngay từ khởi đầu bài này, hiện chúng tôi không đủ tài liệu chắc chắn để có thể quyết chắc rằng vua Hùng (hay vua Lạc), coi như một ông vua trong nền quân chủ phong kiến, có hay không trong lịch sử cổ đại của dân Việt. Mà có lẽ cũng khó ai có thể đưa được một sự thật chính xác về vấn đề này.

  • Tuy nhiên, theo thiển ý, nếu có một vua Hùng (hay vua Lạc) thì vị vua này cũng chỉ là một tù trưởng trong một bộ lạc lớn nằm ở trung tâm sinh hoạt của dân Lạc việt (tại Phong châu, tức miền Vĩnh phú hiện nay ở Bắc việt). Luận cứ chứng minh ý kiến này sẽ được biện giải trong phần sau đây.

B. Cơ cấu chính quyền thời Hùng Vương.

1) Cổ thư và khoa khảo cổ nói gì về vấn đề này?

  • Muốn biết cơ cấu chính quyền thời Hùng Vương, thiết nghĩ không gì hơn là phải lục lọi lại các THƯ TỊCH CỔ nói về thời này:

— Một trong những sách cổ nhất của Trung hoa viết về xã hội Lạc việt là cuốn Giao châu ngoại vực ký (viết vào thế kỷ IV, nay không còn) được Thủy kinh chú chép lại[34] như sau:

«Đất Giao chỉ xưa, thời chưa chia thành quận huyện, đất đai có Lạc điền, ruộng làm theo nước thủy triều lên xuống. Dần khai khẩn để sinh sống trên ruộng này, nhân đó gọi là Lạc dân, dựng lên Lạc vương, Lạc hầu làm chủ các quận huyện. Ở các huyện đa số là Lạc tướng làm chủ. Lạc tướng có ấn đồng giải xanh.»

Âm: Giao chỉ tích vị hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu Lạc điền, kỳ điền tùng triều thủy thượng hạ. Dân khẩn thực kỳ điền, nhân danh vi Lạc dân, thiết Lạc vương, Lạc hầu chủ chư quận huyện. Huyện da vi Lạc tướng. Lạc tướng đồng ấn thanh thụ.)

Đến thế kỷ thứ V, Thẩm Hoài Viễn, tác giả Nam việt chí đã chép về xã hội của dân Giao chỉ thời Hùng Vương như sau:

«Đất Giao chỉ rất phì nhiêu, nhiều dân bị di cư đến đó. Họ là những người đầu tiên khai khẩn đất. Đất đen và bốc hơi mạnh lắm, bấy giờ những cánh đồng đó gọi là Hùng điền và dân là Hùng dân. Có một ông chúa gọi là Hùng Vương và Hùng Vương có các chức viên giúp việc gọi là Hùng hầu. Lãnh thổ đất Hùng thì chia ra cho các Hùng tướng»[35].

— Nhìn về sách do người Việt viết ta thấy có cuốn Lĩnh nam Trích quái (đầu thế kỷ XV) chép về tổ chức chính trị thời Hùng Vương như sau:

«Hùng Vương… sai các em phân trị, đặt em thứ làm tướng võ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quang lang, con gái gọi là Mỵ nương, quan hữu ty gọi là Bồ chánh, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi[36]».

— Lê Quí Đôn, trong Vân đài loại ngữ, chép lại sách Phiên ngung tạp ký như sau:

«Đất Giao chỉ… xưa kia có quân trưởng gọi là Hùng Vương, tướng văn là Hùng hầu, tướng võ là Hùng tướng»[37].

Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí[38] chép:

«Lúc bấy giờ, vua tôi cùng đi cày, cha con tắm cùng (sông) không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền thứ bậc.»

  • Nếu dựa theo thư tịch trên, thì ta phải nhận rằng thời Hùng Vương, nước Văn lang đã có vua, có triều đình. Vua, gọi là Hùng Vương, đã có quyền phong cho thân thích đất đai. Những người được phong đều được cha truyền con nối hưởng tước phong và đất đai được phân phong. Đó chính là chế độ quân chủ phong kiến giống như chế độ nhà Chu bên Trung quốc.

Tuy nhiên, nếu xét kỹ, ta thấy tất cả các thư tịch trên có lẽ chịu ảnh hưởng nhiều của Giao châu ngoại vực ký được dẫn lại trong Thủy kinh chú.Giao châu ngoại vực ký chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ thứ IV, cách thời Hùng Vương ít nhất là 7 thế kỷ, và cuốn này lại do một tác giả Trung hoa viết nên việc gán ghép cho thể chế thời Hùng Vương tương tự như thể chế Trung quốc đương thời (thời Chu) là việc thường thấy.

Cho nên ta có thể đặt nghi vấn về chính thể thời Hùng Vương theo thư tịch cổ.

  • Quay sang các nhà KHẢO CỔ HỌC, dân tộc học và các sử gia hiện thời, ta được biết gì về chính thể thời Hùng Vương?

— Nguyễn Minh Cương, trong bài «Thử tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa Phùng nguyên và văn hóa hậu kỳ thời đại đá mới ở miền nam Trung quốc» đã viết[39]:

«Qua mối thống nhất về đặc trưng văn hóa vật chất của văn hóa Phùng nguyên trên một miền đất rộng bao gồm các tỉnh Vĩnh phú, Hà tây, một phần Hà bắc và Hà nội, ta có thể suy đoán rằng lúc đó nếu không phải là liên minh bộ lạc, thì các thị tộc đã gắn bó với nhau chặt chẽ thành bộ lạc hùng mạnh để khai phá miền châu thổ sông Hồng và để chống với sự xâm nhập từ bên ngoài.»

— Phạm Văn Kỉnh, trong bài «Những di tích hậu kỳ thời đại đá mới, thời đại đồng thau trên miền bắc Việt nam và về vấn đề thời đại Hùng Vương» đã cho rằng «chúng ta có thể biết rằng cơ cấu xã hội của thời đại này đã vượt khỏi phạm vi của chế độ thị tộc và bộ lạc, nhưng cơ cấu xã hội đó như thế nào, chúng ta chưa có những tài liệu chắc chắn. Nhưng dù sao đi nữa, chúng ta có thể nhận xét rằng đây là một thời kỳ có những biến chuyển quan trọng, tạo nên những cơ cấu cần thiết cho sự ra đời, hoặc đã manh nha với một hình thức nào đó, một cơ quan… Đó là nhà nước».[40]

— Nguyễn Linh, trong bài «Về những giai đoạn phát triển của «nước Văn lang » và thời kỳ Hùng Vương» chia sự hình thành nước Văn lang qua ba giai đoạn[41]:

  1. Sự hình thành bộ lạc Văn lang: diễn ra cuối thời đại đá mới hậu kỳ, lúc chưa biết kỹ thuật đồ đồng. Di tích An đạo là điển hình, di chỉ Phùng nguyên là mốc cuối cùng. Thời gian từ khoảng 2.000 đến 1.500 năm trước Công nguyên.
  2. Cư dân bộ lạc Văn lang chuyển sang thời đại đồng thau, đó là giai đoạn sơ kỳ thời đại đồng thau, kéo dài từ thế kỷ XV đến thế kỷ thứ VII trước Công nguyên. Di tích tiêu biểu là Lũng hòa, Gò bông, Nghĩa lập, Gò ấp.
  3. Sự hưng khởi của nước Văn lang, việc thành lập nước Văn lang trùng hợp với thời kỳ hưng thịnh của thời đại đồng thau, được phản ảnh trong các di tích Từ sơn, Gò mun, Đông lâm, Việt khê, sự xuất hiện của những kiểu trống đồng cổ nhất. Thời điểm của nước Văn lang là từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ III trước Công nguyên.
  • Nếu dựa theo các nhà khảo cổ miền Bắc như chúng tôi vừa trích dẫn ở trên thì nước Văn lang chậm lắm là vào cuối thời Hùng Vương, đã có một cơ quan nhà nước bao trùm lên dân Lạc việt. Và như thế thì nước Văn lang bấy giờ đã chắc chắn thành hình. Tổ chức chính trị và chính thể tại nước Văn lang bấy giờ như thế nào thì các nhà khảo cổ học vừa kể dè dặt nói rằng không đủ tài liệu đề biết cho chắc chắn.

— Thực ra thì không phải dựa vào khoa khảo cố học mà các nhà khảo cổ kè trên đã đi tới kết luận có một nhà nước Văn lang. Chính Phạm Văn Kỉnh (sách đã dẫn, trang 50) đã thú nhận: «hiện nay chúng ta chưa có trong tay những tài liệu khảo cổ có «dấu ấn» rõ rệt của «nước Văn lang». Mà chính là nhờ ảnh sảng của tư tưởng En ghen mà họ đã đưa tới kết luận có «nhà nước Văn lang» thời Hùng Vương[42].

Để áp dụng tư tưởng En ghen vào việc chứng minh có nhà nước Văn lang, Phạm Văn Kỉnh đã dựa vào khu mộ Việt khê: khu mộ này cho thấy «có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: chủ nhân của một trong những ngôi mộ đó là một người bản địa giàu có và còn thuộc loại quí tộc nữa. Một số lượng lớn gồm hàng trăm vật tùy táng quý giá, những loại vũ khí quí, những đồ dùng xa xí chứng tỏ chủ nhân của nó rất cách biệt với nhân dân»[43].

Ta biết rằng: không phải hễ có sự phân biệt giàu nghèo là phải có một nhà nước theo kiểu một tổ chức quốc gia như nước Văn lang theo quan niệm của các nhà khảo cổ miền Bắc. Về khu mộ Việt khê, sao ta không thể đưa giả thuyết rằng mộ này là của một người tù trưởng của một bộ lạc? Mà sao cứ phải gán cho chủ nhân của nó thuộc thành phần tư bản quí tộc trong một xã hội «vượt khỏi phạm vi của chế độ thị tộc và bộ lạc».

— Giả định của Nguyễn Linh về các giai đoạn hình thành nước Văn lang cũng không có chứng cớ vững chắc. Những di tích khảo cổ mà Nguyễn Linh ghép cho mỗi giai đoạn của bộ lạc, bộ và nhà nước Văn lang hoàn toàn do tác giả họ Nguyễn tự đặt ra, chứ không có di tích An đào, Lũng hòa, Từ sơn… nào chứng tỏ có sự tồn tại của bộ lạc, bộ, nhà nước Văn lang cả.

2) Sự thực về cơ cấu chính quyền thời Hùng Vương ra sao?

Vậy thì cơ cấu chính quyền của dân Lạc việt thời Hùng Vương như thế nào? Khó thể xác định một cách chắc chắn vấn đề này.

Tuy nhiên chúng tôi cũng thử đưa ra một phương pháp để tìm hiểu về xã hội nước ta thời Hùng Vương. Phương pháp này dựa vào sự tiến hóa tất nhiên của mọi xã hội nhân loại qua thời gian, nhất là sự tiến hóa về cơ cấu xã hội. Xã hội Việt nam không vượt ra ngoài qui lệ tiến hóa này. Chúng tôi sẽ định một thời điểm nào đó, mà vào thời điểm này ta có thể biết được khá chính xác xã hội ta đang cần khảo cứu. Ở trường hợp Việt nam, chúng tôi chọn thời điểm đó là thời Bắc thuộc vì, ở thời Bắc thuộc, ta có thể đọc thấy trong các sử sách Trung hoa sinh hoạt của dân ta, nhất là về cơ cấu xã hội nước ta do các nhân chứng đương thời người Trung hoa qua ta viết lại. Dựa vào xã hội thời Bắc thuộc này, ta đi ngược trở lên trước từ 3 đến 10 thế kỷ là có thể suy đoán, tuy không được chính xác lắm, nhưng cũng không đến nỗi quá xa sự thật, về xã hội nước ta thời Hùng Vương.

Áp dụng phương pháp này chúng tôi có thể đưa ra nhận định sau về cơ cấu xã hội của dân ta thời Hùng Vương:

Vào thời Hùng Vương ta chưa có một nước «Văn lang» với một guồng máy nhà nước duy nhất bao trùm lên toàn thề miền Bắc Việt nam; mà bấy giờ chỉ có những bộ lạc, với mối giây liên kết nào đó, rải rác khắp miền châu thổ sông Hồng, Thái bình, Chu và Mã.

  • Để chứng minh cho điều nhận định này, trước hết chúng tôi thiết nghĩ phải bác bỏ luận cứ dựa vào thư tịch xưa cho rằng thời Hùng Vương hay Lạc Vương, ta đã có một nước Văn lang với vua Hùng hay Lạc cai trị như một ông vua trong nền quân chủ phong kiến.

Khởi đầu là một đoạn trong Giao châu ngoại vực ký (thế kỷ thứ IV) được dẫn trong Thủy kinh chú, nói về giống dân Lạc, có Lạc vương, Lạc hầu và Lạc tướng cai trị. Sau đó có cuốn Nam việt chí của Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ thứ V) được Thái bình quảng ký của Lý Phỏng và Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử trích dẫn lại vài đoạn nói về đất Giao chỉ có dân Hùng, do một ông chúa là Hùng Vương cai trị với các Hùng hầu giúp việc, Hùng tướng chia nhau cai trị lãnh thổ đất Hùng[44].

Còn các sách sử của ta thì đều dựa vào sách sử của Tàu, rồi thêm bớt chút ít cho ra vẻ có một vua Hùng là Quốc tổ của dân Việt, một dân tộc có «bốn ngàn năm Văn hiến».

Do đó, ta thứ xét lại toàn bộ bản văn có lẽ là đầu tiên nói về cơ cấu xã hội của dân tộc Lạc: đoạn văn của Giao châu ngoại vực ký được dẫn lại trong Thủy kinh chú, quyển 37, trang 458. Bản văn đó như sau:

交 趾 昔 未 有 郡 縣 之 時 土 地 有 雒 田 其 田 從

潮 水 上 下 民 墾 食 其 田 因 名 為 雒 民 設 雒 王

雒 侯 主 諸 郡 縣 縣 多 為 雒 將 雒 特 銅 印 青 綬

(Phần phiên âm chúng tôi đã dẫn ở trên)

H. Maspéro, trong Le Royaume de Văn lang, BEFEO, XVI (1916) trang 8 dịch đoạn này ra tiếng Pháp như sau:

«Autrefois, au temps où le Kiao-tche n’était pas encore divisé en commanderies et Sous-préfectures, son territoire formait les champs lo (lặc), où l‘eau montait et descendait suivant la marée; Les habitants labouraient des champs pour en tirer leur nourriture; c’est pourquoi on les appelait le peuple lo (lặc). Il y avait le roi lo (lặc) et les marquis lo (lặc) qui étaient à la tête des commanderies et des sous-préfectures. Dans les sous- préfectures, il y avait beaucoup de chefs lo. Les chefs lo recevaient (au temps des Han) un cachet de cuivre avec ruban vert».

Hoàng Hưng, trong Hùng Vương dựng nước, trang 87, dịch như sau:

«Đời xưa, đất Giao chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất gọi là Lạc điền, nước lên xuống theo thủy triều. Dân cư cày bừa trên ruộng đó để sinh sống, gọi là Lạc dân. Lạc vương và Lạc hầu cai trị các quận huyện đó. Ở các huyện đó có Lạc tướng; Lạc tướng có ấn đồng giải xanh».

Nguyễn Phương, trong Việt nam thời Khai sinh (Viện Đại học Huế xuất bản, 1965) nơi trang 137 đã dịch đoạn trên như sau:

«Xưa, khi Giao chỉ chưa thành quận huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng Lạc, ruộng đó tùy thủy triều lên xuống mà làm. Dân khẩn ruộng đó mà ăn, vì thế tất cả gọi là dân Lạc. Họ lập Lạc vương, Lạc hầu để coi quận huyện, có nhiều Lạc tướng, có ấn đồng lụa xanh».

Ta thấy bản dịch của Hoàng Hưng dựa nhiều vào bản chữ Pháp của H. Maspéro, còn bản dịch của Nguyễn Phương có hơi khác. Cả ba bản dịch đó đều có những chỗ khiến ta cần xét lại. Đó là:

a. Bản dịch của H. Maspéro và Hoàng Hưng đã bỏ quên chữ «thiết» không dịch. Nguyên văn câu ở bản chữ Hán là: «Dân khẩn thực kỳ điền, nhân danh Lạc dân, thiết Lạc vương, Lạc hầu chủ chư quận huyện…», Ông H. Maspéro đã cắt câu này làm hai và dịch là: «les habitants labouraient des champs pour en tirer leur nourriture; c’est pourquoi on les appelait le peuple lo (lặc). Il y avait ie foi lo (lặc) et les marquis lo (lặc) qui étaient à la tête des coinmanderies et les sous-préfectu- res». Hoàng Hưng theo H. Maspéro và dịch là: «Dân cư cầy bừa trên ruộng đó để sinh sống, gọi là Lạc dân. Lạc vương và Lạc hầu cai trị các quận huyện đó».

Ta thấy rõ cả hai bản dịch, Pháp lẫn Việt, đều bỏ rơi mất chữ «thiết».

Còn bản của Nguyễn Phương có dịch chữ «thiết», nhưng ông lại thêm chủ từ cho chữ thiết và dịch là: «họ lập». Họ ở đây, theo ý học giả họ Nguyễn, là «người Trung hoa», hay nói rõ hơn là người Hán. Nguyễn Phương lý luận: «Nếu tổ chức Vương, Hầu, Tướng không phải do nhà Hán thiết lập, vì nhà Hán không có thói quen đó và vì nó đã có trước khi nhà Hán đến, thì tại sao nó lại đầy dẫy mầu sắc Trung quốc đến thế? Nhà Hán không lập Vương, Hầu, Tưởng ở những nơi họ mới chiếm cứ, nhưng những tiếng Vương, Hầu, Tướng là tiếng Trung quốc, và tổ chức đó ai cũng biết là tổ chức phát xuất từ Trung quốc. Muốn giải quyết khó khăn này, chúng ta có thể nghĩ rằng : trước khi bị Trung quốc đến cai trị, người Lạc việt đã có một tổ chức khá phát triển, gồm có một số người đứng đầu và nhiều người giúp việc cai trị; tổ chức đó, khi các sử gia Trung quốc muốn mô tả, họ đã dùng những danh từ tương đương trong ngôn ngữ Trung quốc, gọi người đứng đầu là Vương, gọi cậc thứ bực giúp việc là Hầu, là Tướng. Hỏi các danh từ Vương, Hầu, Tướng có diễn đúng sự thật của tổ chức Lạc việt không? Điều đó chúng tôi không biết, và có lẽ cũng không ai có thể biết».[45]

Thực ra với lập luận trên, Nguyễn Phương chưa thể biện minh cho việc dùng chữ «họ» (chỉ người Hán) đặt trên câu «lập Lạc Vương, Lạc Hầu…»

Còn bảo rằng người Hán dùng chữ Vương để chỉ người đứng đầu, và những chữ Hầu, Tưởng để chỉ những người giúp việc, lại càng vô căn cứ. Trong bản văn của Giao châu ngoại vực ký dẫn trên có chỗ nào nói đến Lạc vương đứng đầu và Lạc hầu, Lạc tướng giúp việc cho Lạc vương đâu ? Hay ta chỉ thấy: Lạc vương, Lạc hầu đều được là chủ các quận huyện, cũng như tại đa số các huyện, có Lạc tướng làm chủ?

Đó là chưa kể việc dùng tước hiệu của nước mình để gán cho các nhà cầm quyền nước ngoài của các sử gia Trung quốc hoàn toàn nằm trong ức đoán của Nguyễn Phương. Trái hẳn thế, qua các bộ sử của Trung quốc, như Hán thư, Đường thư… ta thấy truyền thống của các sử gia Trung quốc vẫn là tôn trọng các địa danh, nhân danh, cùng tên gọi các chức quan của các nước «man di» và họ cố gắng phiên âm ra tiếng Trung quốc cho thật sát với tiếng địa phương.

Vậy «thiết» có nghĩa gì?

Theo Từ hải, chữ «Thiết» có mấy nghĩa như sau:

—Thiết là đặt ra, bầy ra (thi trần dã   )

—Thiết là đặt dựng lên (trí lập dã )

—Thiết là chữ dùng chỉ sự noi theo, đắn đo bắt chước (huyền nghĩ chi từ 縣 儗 之 詞)

— Thiết là to lớn (đại dã )

Ta có thể dùng nghĩa thứ nhất và thứ nhì của chữ « thiết » mà dịch nghĩa câu trên như sau: «Dân khai khẩn để sinh sống ruộng này, nhân đó gọi là Lạc dân, dựng lên Lạc vương, Lạc hầu làm chủ các quận huyện».

Ta lại cũng có thể dựa vào nghĩa thứ tư của chữ «thiết» (thiết là to lớn) để dịch nghĩa câu này như sau: «Dân khai khẩn để sinh sống ruộng này, nhân đó gọi là Lạc dân, to(hơn Lạc dân thì có) Lạc vương, Lạc hầu, chủ các quận huyện».

Nếu dùng nghĩa chữ thiết là dựng lên, thì ai dựng lên Lạc vương, Lạc hầu? Phải chăng đó là Lạc dân?

Nếu vậy thì vào thời này đã có một nền dần chủ cổ đại, các người cầm quyền bộ lạc đã do dân chọn lựa rồi chăng ?

Nếu dùng nghĩa chữ thiết là to lớn thì có vẻ hợi gượng ép và không được chỉnh lắm đối với từ pháp Trung hoa.

Dầu sao tôi cũng xin nêu một nghi vấn ở đây để các vị học giả tưởng lầm và góp thêm ý kiến làm sáng tỏ vấn đề này.

b. Tiếp theo câu trên là câu: «Huyện đa vi Lạc tướng». Rõ ràng chữ «đa» không thể đi với Lạc tướng. Thế mà H. Maspéro dịch là: «Dans les sous-préfectures, il y avait beaucoup de chefs lo». Hoàng Hưng dịch là «Ở các huyện đó có Lạc tướng». Nguyễn Phương dịch: «có nhiều Lạc tướng».

Vậy là H. Maspéro đã ghép chữ «đa» vào với Lạc tướng, còn Hoàng Hưng thì bỏ chữ «đa» đi không dịch. Nguyễn Phương bỏ sót mất chữ «Huyện» và cũng để chữ «đa» đi với Lạc tướng.

Câu trên theo thiển ý, phải dịch là: «Ở các huyện phần lớn là Lạc tướng làm chủ» (chữ «vi» ở đây có nghĩa thay cho chữ «chủ» ở trên).

Nếu phân tích kỹ bản văn chữ Hán trong Giao châu ngoại vực ký ở trên thì ta nhận thấy rằng:

* Tại khu vực có Lạc dân sinh sống, có nhiều bộ lạc (mà sau này người Tầu sang cai trị dựa vào các bộ lạc này mới chia thành quận, huyện).

* Làm chủ các quận huyện này là Lạc vương, Lạc hầu (nếu là bộ lạc lớn, được hiểu thị trong bản văn trên bằng chữ quận huyện) hay Lạc tướng (nếu là bộ lạc nhỏ, tương đương với cấp huyện ở thời người Tầu cai trị). Mà đa số các bộ lạc cấp huyện sau này thì do Lạc tướng làm chủ (có thể còn thiếu số huyện do Lạc hầu làm chủ).

Nhận định này càng được chứng thực khá chắc chắn, nếu ta đọc tiếp đoạn văn kế tiếp đoạn trên, cũng trong Giao châu ngoại vực ký được Thủy kinh chú (quyển 37, trang 458-459) dẫn lại, như sau:

後 蜀 王 子 將 兵 三 萬 來 討 雒 王 雒 侯 服 諸 雒 將

(Âm: Hậu Thục Vương tử tương binh tam vạn lai thảo Lạc vương, Lạc hầu, phục chư Lạc tướng).

Nghĩa:

«Sau con Thục Vương đem binh ba vạn đến đánh giết Lạc vương Lạc hầu, cho các Lạc tướng làm việc (như xưa).»

(Xin ghi chú cho rõ: chữ phục ở đây nghĩa là theo, làm việc, chứ không có nghĩa như chữ phục 伏 (phục này có nghĩa là: cúi xuống, chịu khuất).

Cũng vẫn Giao châu ngoại vực ký dẫn trong Thủy kinh chú (quyển 37 trang 458) chép về thời Triệu và đầu đời Bắc thuộc của nước ta như sau: (Sách đã dẫn)

(Âm: Việt vương lệnh nhị sứ giả điển chủ Giao chỉ, Cửu chân nhị quận dân. Hậu Hán khiển Phục ba Tướng quân Lộ Bác Đức thảo Việt vương. Lộ Bác Đức đáo Hợp phố. Việt vương lệnh nhị sứ giả tê ngưu bách đầu, tửu thiên chung, cập nhị quận dân hộ khẩu bạ, nghê Lộ Tướng quân. Nãi bái nhị sứ giả vi Giao chỉ, Cửu chân Thái thú; chư Lạc tướng chủ dân như cố... Hậu Chu diên Lạc tướng tử danh Thi Sách, Mê linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tướng Thi khởi tặc, công phá châu quận, phục chư Lạc tướng, giai thuộc Trưng Trắc vi vương trị Mê linh huyện, phục Giao chỉ Cửu chân nhị quận…)

Xin dịch nghĩa như sau:

«Vua Việt ra lệnh cho hai sứ giả chủ trì phép tắc dân hai quận Giao chỉ, Cửu chân. Sau Hán sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức đánh dẹp Việt vương. Lộ Bác Đức đến Hợp phố. Việt vương ra lệnh cho hai sứ giả đem một trăm con trâu, một nghìn vò rượu cùng sổ sách hộ khẩu dân hai quận tới dâng Lộ Tướng quân,. (Tướng quân) bèn cho hai sứ giả làm Thái thú Giao chỉ, Cửu chân; các Lạc tướng vẫn làm chủ dân như cũ.., Sau con trai Lạc tướng (huyện) Chu diên tên là Thi Sách lấy con gái Lạc tướng (huyện) Mê linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người có đảm lược, dũng mãnh, theo Thi Sách khởi loạn công phá châu quận, các Lạc tướng phục tòng đều chịu thuộc quyền Trưng Trắc. (Trưng Trắc) làm vua trị huyện Mê linh, khôi phục lại hai quận Giao chỉ, Cửu chân».

Hai đoạn văn trên cho ta thấy rõ mấy điểm sau:

* Khi Thục An Dương Vương qua đánh dân Lạc (không hề nói đến nước Văn lang), thì diệt hết Lạc vương, Lạc hầu (tức là tù trưởng các bộ lạc lớn), còn Lạc tướng thì vẫn để cho làm chủ các miền đất của họ như cũ (tức là ở các bộ lạc nhỏ).

* Lúc nhà Triệu dẹp xong nhà Thục, lập thành nước Nam việt, thì vua Nam việt chỉ sai hai sứ giả qua chủ trì phép tắc (điển chủ) đối với dân hai quận Giao chỉ, Cửu chân, còn vẫn giữ nguyên thể chế cũ, nghĩa là vẫn để nguyên các bộ lạc cho các Lạc tướng làm chủ như dưới thời nhà Thục và trước thời nhà Thục nữa.

* Lộ Bác Đức tuân lệnh vua Hán qua đánh Nam việt. Hai sứ giả của vua Nam việt tại Giao chỉ, Cửu chân xin hàng, đều được phong làm Thái thú ở lại trông coi hai quận đó như cũ. Và các Lạc tướng vẫn được làm chủ dân trên đất họ như cũ. Chỉ khác là các bộ lạc nay đổi thành huyện và bấy giờ Lạc tướng được coi như đứng đầu một huyện. Bấy giờ nhà Tây Hán chia quận Giao chỉ làm 10 huyện[46], quận Cửu chân làm 7 huyện[47], và quận Nhật nam làm 5 huyện[48].

Nếu chỉ kể hai quận Giao chỉ và Cửu chân như Giao châu ngoại vực ký chép, thì nước ta bây giờ có cả thẩy 17 huyện. Và có lẽ có 17 lạc tướng làm chủ 17 huyện đó.

* Mãi đến khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa (năm 39 sau Tây lịch), chế độ Lạc tướng này vẫn còn: Hai bà chính là con gái Lạc tướng huyện Mê linh (ở quận Giao chỉ) và Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc, chính là con trai Lạc tướng huyện Chu diên (cũng ở quận Giao chỉ).

Chế độ Lạc tướng này chỉ bị bãi bỏ sau khi Mã Viện dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, tổ chức lại guồng máy cai trị tại nước ta : các huyện đổi là thành và sau đó các viên huyện lệnh người Trung hoa thay thế dần người bản xứ ở thành (sau đổi lại làm huyện). Từ đó trở đi, dân Việt chỉ được tự trị trong các đơn vị hành chánh rất nhỏ, là làng xã.

Tóm lại, dựa vào các đoạn văn trong Giao Châu ngoại vực ký vừa dẫn chứng trên, ta có thể thấy rõ: thời Hùng Vương, tại miền Bắc Việt nam hiện thời đã có một giống dân, là dân Lạc sinh sống trong nhiều bộ lạc rải rác dọc theo ven sông. Làm chủ các bộ lạc này có Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng. Lạc vương có lẽ là tù trưởng một bộ lạc lớn nhất, mạnh nhất, Lạc hầu là tù trưởng bộ lạc lớn vừa, còn Lạc tướng là tù trưởng bộ lạc nhỏ. Các Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng này do Lạc dân lập lên theo một tục lệ nào đó nay ta không biết.

Các bộ lạc ở đây đã có nhiều liên lạc mật thiết vì, sự thống nhất của nền văn hóa Phùng nguyên bao trùm trên một miền đất rộng lớn tại miền châu thổ sông Hồng đã chứng tỏ rằng các bộ lạc này phải có mối liên lạc chặt chẽ với nhau[49].

  • Ngoài ra, dựa vào dân số học, ta cũng có thể soi rọi nhiều ánh sáng vào xã hội thời Hùng Vương:

Ta có thể biết dân số nước ta vào thời Bắc thuộc lần thứ nhất (thế kỷ thứ nhất) như sau[50]:

Quận Giao chỉ:      746.217 người,      92.440 nhà,

Quận Cửu chân:    166.013 người,      35.753 nhà,

Quận Nhật nam:    69.485người,         15.460nhà,

Tổng cộng:            981.715 người.     143,653 nhà.

Con số thống kê trên do người Trung hoa thực hiện vào thời này, tuy không được chính xác lắm, nhưng cũng không đến nỗi quá sai sự thật. Dựa vào con số này, ta có thể ước đoán là dân ta vào thế kỷ thứ nhất có chừng trên dưới 1.000.000 (một triệu người), sống trong 150,000 nhà.

Theo sự ước đoán của các nhà địa lý thì dân Việt những năm gần đây tăng suất vào khoảng 14, 8%o (sinh suất: 34,1 0/00 tử suất: 19, 3 0/00 (phần nghìn).

Cứ cho rằng vào thời Thượng cổ, tử suất cao, sinh suất kém thì tăng suất của dân Việt ít nhất cũng phải 10%o (10 phần nghìn) một năm.

Nếu tính từ thời Bắc thuộc ngược lên vào giữa thời Hùng Vương (thiên niên thứ nhất trước Tây lịch), thì ta có một thời gian là 10 thế kỷ cách biệt. Trong khoảng 10 thế kỷ này, không có một tài liệu sử học nào hiện tại chứng tỏ là có sự thay đổi dân số đột ngột do sự di dân bất ngờ trên miền đất Bắc Việt nam. Vậy ta có thể suy đoán được dân số thời Hùng Vương do cách tính dựa vào tăng suất:

1 năm tăng suất trung bình: 10 0/00 (10 phần nghìn)

1.000 năm tăng suất trung bình: 10.000 0/00 tức gấp 10 lần.

Vậy dân ta ở thế kỷ thứ nhất là 1.000.000 thì ở thế kỷ thứ 10 trước Tây lịch chỉ bằng một phần 10 tức chỉ vào khoảng 100.000 người.

(Thực ra, nếu tính cho chính xác thì nếu cứ 100 năm đầu tăng thành gấp 2, thì 100 năm sau sẽ tăng thành gấp 4 so với con số khởi đầu, và cứ thế 100 năm thứ ba sẽ tăng thành gấp 8… nghĩa là, nếu nói theo toán học: dân số Việt tăng theo cấp số nhân, mà số tăng bội là 2, và khoảng cách giữa hai con số là 100 năm.

Theo lý thuyết về dân số gia tăng của Malthus (được dẫn lại trong Manuel d’Economie Politique, Paris, 1953, trang 195, của Louis Baudin, thì: dân số tăng theo cấp số nhân, số công bội là 2, nghĩa là tăng theo như sau: 1, 2, 4, 8, 16, 32…, hai con số trên cách nhau 25 năm.

Nếu so với lý thuyết trên thì ước đoán về sự tăng gia dân Việt của chúng tôi còn quá thấp (một đằng 25 năm, một đằng 100 năm).

Tuy nhiên, nếu tính theo sự gia tăng dân số theo cấp số nhân này thì qua 1000 năm, từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Tây lịch tới thế kỷ thứ nhất của Tây. lịch, dân Việt phải tăng lên gấp 512 lần. Và như vậy thì dân Việt giữa thời Hùng Vương chỉ có chừng 2000 người!

Con số 100.000 như giả định là quá nhiều và bao gồm cả những biến cố như chết vì thiên tai, chiến tranh, bệnh hoạn…

Một trăm ngàn người sống rải ra ít nhất trong 15 bộ (theo truyền thuyết và sử cũ ghi), thì mỗi bộ trung bình chỉ có chưa đến 7.000 người! Một dân số ít ỏi như vậy, sống trong một miền châu thổ bao la, rộng tới hơn 16.000 km2 (mới chỉ kể châu thổ sông Hồng và Thái bình, nếu thêm miền châu thổ sông Mã và sông Chu, thì tới hơn 22.000 km2), một miền châu thổ ngày nay nuôi sống tới hơn 20 triệu mạng sống, thì ta cũng đủ thấy ngay dân Lạc này sống một đời sống vật chất khá đầy đủ. Đất rộng, người thưa, tài nguyên thiên nhiên phong phú, họ đâu phải tranh giành đất đai, thực phẩm mà cần có một guồng máy nhà nước chặt chẽ để duy trì trật tự công Cộng;họ lại càng không thể chấp nhận được một ông Vua độc tôn có quyền phân phong đất đai cho các em cai trị các địa phương như Lĩnh nam Trích quái đã viết.

Từng nhóm một, họ tụ tập thành các bộ lạc và tuần phục một tù trưởng, do họ tôn lên, hướng dẫn họ trong các sinh hoạt tập thể của bộ lạc. Quyền hạn của các tù trưởng này như thế nào, ta không được biết rõ. Nhưng dựa vào số dân (vài nghìn người) trong các bộ lạc, thì ta cũng có thể đại khái suy đoán rằng các tù trưởng không có quyền uy sinh sát lớn, mà chỉ đóng vai như một người tôn trưởng, dùng tình cảm mà xứ trị các mối tranh chấp trong bộ lạc.

KẾT LUẬN

  • Do những luận cứ trên, ta thấy rõ không thể nào có một «nước Văn lang» bao trùm toàn thể miền Bắc Việt nam được. Nước Văn lang giả tưởng này là khu vực trong đó có một giống dân, gọi là dân Lạc việt sinh sống.
  • Địa bàn sinh sống của dân Lạc việt này trải rộng khắp miền châu thổ sông Hồng, sông Mã và sông Chu. Trung tâm sinh hoạt của dân này là miền Phú thọ ngày nay, phía trên Việt trì (nơi ngã ba sông Đà và sông Hồng gặp nhau) một chút. Tại Phú thọ (xưa gọi là Phong châu) có một bộ lạc lớn, có lẽ do một tù trưởng, sử sách gọi là Lạc vương hay Hùng vương, đứng đầu. Còn ở rải rác khắp miền châu thổ này có các bộ lạc nhỏ hơn, do các tù trưởng mà sử sách gọi là Lạc hầu, Lạc tướng đứng đầu.
  • Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng có lẽ chưa được cha truyền con nối, mà do Lạc dân tôn lên theo thể thức do tập tục của từng bộ lạc ấn định (giống như cách bầu cử các xã trưởng sau này ở tại các xã thôn Việt nam).

Chế độ xã thôn tự trị của dân ta sau này có lẽ phản ảnh khá trung thực đời sống chính trị của các bộ lạc dân Lạc việt thời Hùng Vương.

Các bộ lạc này đã có nhiều liên hệ mật thiết với nhau. Liên hệ về phương diện gì và mật thiết tới đâu, thì ta chưa thể xác định rõ được.

LÊ KIM NGÂN

[trích Tạp chí Tư Tưởng, số 2, năm 1973]

__________________

[1] Nhượng Tống, bản dịch Đại việt sử ký Toàn thư, trang 53.

[2] Đào Tử Khai, Họ Hồng Bàng và vua Hùng là có thật, trong Hùng Vương dựng nước, Hànội, 1970, trang 33.

[3] Theo Hoàng Xuân Chinh, Về thời gian tồn tại của thời đại Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, trang 68.

[4] Phùng nguyên là một địa điểm gần đền Hùng, thuộc huyện Lâm thao, tỉnh Vĩnh phú, Bắc việt.

[5] Gò mun (còn gọi Việt tiến) là một địa điểm thuộc huyện Lâm thao, tỉnh Vĩnh phú, gần đền Hùng Vương.

[6] Đông sơn là một địa điểm khảo cổ trên bờ sông Mã, thuộc tỉnh Thanh hóa.

[7] Phạm Văn Kỉnh, Những di tích hậu kỳ thời đại đá mới, thời đại đồng thau trên miền Bắc Việt nam và vấn đề thời đại Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, trang 50-56.

[8] Phạm Văn Kỉnh, sách đã dẫn, trang 50-56.

[9] Phạm Văn Kỉnh, sách đã dẫn, trang 52.

[10] Phạm Văn Kỉnh, sách đã dẫn, trang 55.

[11] Phạm Văn Kỉnh, sách đã dẫn, trang 55.

[12] Biên giới này cũng được chép trong Lĩnh nam Trích quái của Trần Thế Pháp (cuốn này xuất hiện vào đầu thế kỷ XV, viết bằng chữ Hán) (bản dịch Việt văn của Lê Hữu Mục, trang 44-45).

[13] H. Maspéro, Eludes d‘histoire d‘Annam, đăng trong BEFEO, XVI (1916), trang 1-10.

[14] Đào Duy Anh, Đất nước Việt nam qua các đời, Hà nội, 1964, trang 13-17.

[15] Đào Duy Anh, sách đã dẫn ở trên, dẫn sách Lộ sử đời Tống của La Tất ghi rằng Bách việt gồm có: «Việt thường, Lạc việt, Âu việt, Âu khải, Âu nhân, Thả âu, Cung nhân, Hải dương, Mục thâm, Phú xác, Cầm nhân, Thương ngô, Nam dương, Dương việt, Quế quốc, Tây âu, Quyên tử, Sản lý, Hải quý, Tây khuẩn, Kê từ, Bộc cầu, Tỷ đái (sửa là Bắc đái), Khu ngô, gọi là Bách việt ».

[16] Đào Duy Anh, sách đã dẫn, trang 15

[17] Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh, Thời đồng thau tại Việt nam, Hànội, 1963, trang 105.

[18] Đào Duy Anh, Đất nước Việt nam qua các đời, trang 16-17, Lịch sử cổ Đại Việt nam. «Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc việt», Hà nội, 1957.

[19] H. Maspéro, sách đã dẫn, trang 3.

[20] Ba danh sách Đào Duy Anh nêu ra đây là ba danh sách 15 bộ, được chép trong Việt sử lược, Lĩnh nam Trích quáiĐịa dư chí (của Nguyễn Trãi).

[21] Đại việt Sử ký Toàn thư, bản dịch của Nhượng Tống, trang 53.

[22] Nguyễn Phương, Lịch sử Lạc việt, Bách khoa số 197.

[23] Bách khoa, số 197.

[24] Bách khoa, số 197.

[25] Bách khoa, số 197.

[26] Đền thờ vua Hùng chắc chắn đã có từ đầu thế kỷ XV trở về trước vì người Minh sau khi đánh nhà Hồ, chiếm nước ta, đã có nói tới đền thờ này trong cuốn Đại Minh Nhất thống chí, quyển 90, tờ 5b của họ.

[27] BEFEO, XVI (1916).

[28] Đào Tử Khai, Họ Hồng Bàng và vua Hùng là có thật, trong Hùng Vương dựng nước, Hànội, 1970.

[29] Đào Tử Khai, sách đã dẫn, trang 33. Điều thư tịch mà Đào Tử Khai nói ở đây chính là cuốn Việt sử lược, một cuốn sử viết vào khoảng năm 1377 của một tác giả Việt nam khuyết danh.

[30] Trong cuốn Hùng Vương dựng nước ta thấy có các đề tài rõ rệt bao hàm ý này, chẳng hạn như: — Khảo cổ học và vấn đề Hùng Vương của Diệp Đình Hòа.Những di tích hậu kỳ thời đại đá mới, thời đại đồng thau trên miền Bắc Việt nam và vấn đề thời đại Hùng Vương của Phạm Văn Kỉnh.

[31] Hùng Vương dựng nước, trang 243 – 238.

[32] Hùng Vương dựng nước, trang 64-71.

[33] Hoàng Xuân Chinh; Hùng Vương dựng nước, trang 66-67.

[34] Lịch Đạo Nguyên, Thủy kinh chú, quyển 37, trang 458.

[35] Dẫn theo Hoàng Hưng, Hùng Vương dựng nước, trang 87.

[36] Lĩnh nam Trích quái, bản dịch của Lê Hữu Mục, trang 45. Đoạn này được Toàn thưCương mục chép lại.

[37] Lê Quí Đôn, Vân đài loại ngữ, bản dịch, trang 149.

[38] Bản dịch, trang 154.

[39] Hùng Vương dựng nước, trang 75 – 76,

[40] Hùng Vương dựng nước, trang 54.

[41] Hùng Vương dựng nước, trang 78.

[42] Phạm Văn Kinh, sách đã dẫn, trang 54: «Nhưng dù sao đi nữa chúng ta có thể nhận xét rằng đây là một thời kỳ có những biến chuyển quan trọng, tạo nên những cơ sở cần thiết cho sự ra đời, hoặc đã manh nha với một hình thức nào đó, một cơ quan mà, theo En ghen: «Không những bảo vệ những của cải mà các tư nhân vừa mới có được, khỏi bị những truyền thống Cộng sản chủ nghĩa của chế độ thị tộc xâm phạm, không những thần thánh hóa các quyền tư hữu tài sản trước kia bị khinh rẻ, tuyên bố rằng sự thần thánh hóa đó là mục đích tối cao của mọi xã hội loài người, mà nó lại còn làm cho những hình thức mới và phát triển kế tiếp nhau của việc thu được tài sản, hay nói một cách khác, của cải luôn luôn tăng lên nhanh chóng hơn, được xã hội nói chung thừa nhận, một cơ quan không những chỉ kéo dài mãi sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự phân chia này hiện mới chớm nở — mà còn kéo dài mãi quyền của giai cấp hữu sản bóc lột giai cấp không có của, và quyền thống trị của giai cấp hữu sản đổi với giai cấp không có của». Đó là nhà nước.»

[43] Phạm văn Kỉnh, sách đã dẫn, trang 54.

[44] Bản dịch đoạn văn này đã dẫn ở như trên.

[45] Nguyễn Phương; Việt nam thời khai sinh, trang 142.

[46] Tiền Hán thư, Địa lý chí, quyển 28 hạ, tờ 10 a: Giao chỉ có 10 huyện là: 1. Liên lâu; 2. An định; 3. Câu lâu; 4. Mê linh; 5. Khúc dương; 6. Bắc đái; 7. Kê từ; 8. Tây vu; 9. Long biên; 10 Chu diên.
Quận Giao chỉ ở vào khoảng giữa lưu vực Nhị hà và sông Thái bình.

[47] Tiền Hán thư, Địa lý chí, quyển 28 hạ, tờ 10 b: Quận Cửu chân có 7 huyện là: 1. Tư phố; 2. Cư phong; 3. Đô lung; 4. Hàm hoan; 5. Vô thiết; 6. Dư pháp; 7. Vô biên.
Quận Cửu chân ở vào khoảng địa phận lưu vực sông Mã và sông Chu (tỉnh Thanh hóa, Nghệ an ngày nay).

[48] Tiền Hán thư, Địa lý chí, quyển 28 hạ tờ 11: Quận Nhật nam có 5 huyện là: 1. Chu ngô; 2. Tỷ cảnh; 3. Lộ dung; 4. Tây quyển, 5. Tượng lâm.
Quận Nhật nam ở phía nam quận Cửu chân, vào khoảng từ đèo Ngang đến đèo Hải vân.

[49] Nguyễn Minh Chương, Hùng vương dựng nước, trang 75-76.

[50] Tiền Hán thư, quyển 28 hạ, tờ 10-11.

Xem thêm

thay tue sy

Thích Tuệ Sỹ: Quan niệm về sự kết cấu trong một tác phẩm Đại thừa

Chân lý cứu cánh mà tư tưởng của Đại thừa Phật giáo nhắm đến là …

thich quang do

Sinha | Thích Quảng Độ trích dịch: Tôn giáo và chính trị

Người ta thường bảo Phật giáo không phải là tôn giáo mà chỉ là một …

duc phat

Tư Tưởng (1972): Thời tượng

Phật giáo và Khoa học! Đề tài này được thảo luận khá rầm rộ trong …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.