Tâm Nhiên: Tuệ Sỹ trên ngõ về im lặng

thay tue sy 1

Giữa thiên đường rong chơi lêu lổng
Cõi vĩnh hằng mờ nhạt rong rêu
Ta đi xuống quậy trần hoàn nổi sóng
Đốt mặt trời vô hạn cô liêu

Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế? Quê quán Quảng Bình, sinh năm 1943, Tuệ Sỹ nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc siêu quần bạt chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hán, Phạn, Pali… Khi mới vừa 25 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sỹ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.

Cùng đứng tên trong nhóm chủ trương tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, trước năm 1975, Tuệ Sỹ cũng là giáo sư giảng dạy Thiền tông, Trung quán luận ở Đại học Vạn Hạnh và Cao đẳng Phật học viện Hải Đức, Nha Trang. Nổi bật lên như một hiện tượng độc đáo, gây bao nguồn cảm hứng cho những tâm hồn ưa thích thiền học, thi ca và phiêu lãng.

Các tác phẩm trứ danh đã được ấn hành như Triết học về Tánh Không (1970) Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (1973) Huyền thoại Duy Ma Cật (2007) Thắng Man giảng luận (2007) Du già Bồ tát giới (2010) Tuệ Sỹ văn tuyển, tập 1, 2, 3 (2014).

Trong Tuệ Sỹ văn tuyển có nhiều bài viết giá trị như: Tổng thuyết Vũ trụ luận, Dẫn vào Duy thức học, Chủng tử, Những giá trị phổ quát của Bồ tát hạnh, Thức ăn để tồn tại, Vấn đề ngữ pháp trong phiên dịch kinh tạng Phạn Hán, Một thời truyền luật, Du già Bồ tát giới, Phật dạy chăn trâu, Ý nghĩa đề kinh Kim Cang, Lễ tháng bảy cho những oan hồn phiêu bạt, Giá trị đối chiếu trong những tương quan văn hóa, Tư tưởng là gì? Nguồn gốc của một thế giới quan vô tận, Tánh Không luận là gì? Sự hủy diệt của một trào lưu tư tưởng, Tâm ý thức, Mười huyền môn, Nhân đọc Triết học Thế Thân, Tư tưởng Phật giáo đối diện với hư vô, Duy tuệ thị nghiệp, Nhân đọc Tìm hiểu Nhận thức và Tánh Không, Ý hướng triết lý của Trung quán, Truy tìm tự ngã, Từ biện chứng hiện sinh đến biện chứng Trung quán, Nền tảng kinh tế học theo cách nhìn Phật giáo, Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo, Thanh sắc Thi ca, Thi ca và Tư tưởng, Lý thuyết phê bình văn học cổ điển Trung Hoa, Giữa thời đại và nhân sinh…

Tuệ Sỹ có viết truyện ngắn và đặc biệt là thơ như Giấc mơ Trường Sơn (2002) Những điệp khúc cho dương cầm (2009) Thiên lý độc hành (2020) đồng thời cũng dịch thuật Thiền luận (tập 2, 3) Thiền và Bát nhã của Daisetz Teitaro Suzuki, Tinh hoa triết học Phật giáo của Junjiro Takakusu và nhiều kinh điển Hán tạng như Luận Thành Duy thức, Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại du sự, Trường a hàm, Tạp a hàm, Tăng nhất a hàm, Trung a hàm (tập 1,2,3) A tỳ đạt ma Câu xá (tập 1,2,3,4,5)…

Từ năm 1973, nhà thơ Bùi Giáng đã nhận định về Tuệ Sỹ, qua bài thơ Khung trời cũ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng? 

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rủ
Suối rừng xa ngược nước xuôi ngàn

“Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng, linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết mọi chân trời mới cũ, từ Đường thi Trung Hoa tới siêu thực Tây phương.”

Trừ Bùi Giáng ra, khi nói về Tuệ Sỹ thì có lẽ không ai đủ tư cách, thẩm quyền bằng Phạm Công Thiện:

“Có sống bên cạnh Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát từ ngày này qua ngày khác, trong những hoàn cảnh khác nhau thì mới may ra, cảm nhận đôi chút tác phong Thiền sư kín đáo, toát ra một cách tự nhiên, một cách vô công dụng hạnh, từ đời sống thường nhật và tinh thần diệu nhập của hai vị. Tôi xin gọi hai vị này là Thiền sư với tất cả đắn đo, thận trọng, với tất cả ý nghĩa cao đẹp và như thực của một danh xưng xung thiên chí.”

Như vậy, chúng ta có thể gọi Tuệ Sỹ là một Thiền sư thi sỹ với ý nghĩa trọn vẹn, tốt đẹp nhất của danh từ. Điều đó chứng tỏ qua những tác phẩm thâm viễn, uyên áo, nhất là thể hiện qua phong cách sống đạm bạc, đơn sơ, giản dị mà rất nghệ sỹ phóng khoáng, an nhiên, tự tại. Khai mở thông lộ tự do cho con người, biết mỉm cười vô úy, trên tinh thần hạo nhiên chi khí, đại bi tâm.

Còn bậc kỳ tài Lê Mạnh Thát, du học ở Mỹ, đỗ ba bằng tiến sỹ lúc 30 tuổi, bạn thân thiết, cận kề Tuệ Sỹ, là nhà Phật học, Sử học thông tuệ, lão luyện, uyên thâm. Một con người thượng đạt, quán tuyệt cổ kim, cũng bằng tuổi Tuệ Sỹ. Toàn bộ tác phẩm Lê Mạnh Thát dày mấy chục ngàn trang đã đóng góp vào kho tàng văn học Phật giáo Việt Nam thêm phong phú, đồ sộ vô cùng giá trị.

Quả thật dị thường, lúc mới 27 tuổi, Tuệ Sỹ viết Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng, một tác phẩm thâm thúy trữ tình lai láng, tràn đầy chất nhạc và thơ. Mở ra con đường phong quang sáng tạo, ngạt ngào hương vị thi ca, hòa chan cả trời thơ bát ngát:

“Đạt đến cõi thượng thừa của Thơ như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo, cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền ba mươi năm, đày đọa thân tâm mà không thành. Phẫn chí bỏ đi, bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông. Cho nên không thể nào lấy tay chỉ thẳng vào cõi thơ, rồi bảo đây là chân diện mục của nó…

Thơ phát ra từ những khổ lụy và những nguyện ước khơi vơi của cuộc tồn sinh. Từ độ đó, Thơ đi vào những thảm họa hoành sinh của lịch sử. Từ buổi bình minh, Thơ vang vọng những lời tình tự thiết tha, từ tiếng chim thư cưu nơi cồn cát đến những đêm dài trằn trọc… Thơ dấn bước đi vào cuộc lữ…

Thơ phát ra từ cuộc lữ đọa đày rồi trở lại đọa đày cuộc lữ. Cuộc lữ là trường thể nghiệm lịch sử tồn sinh thảm họa của Thơ và Thơ mở rộng những phương trời lữ thứ. Quê hương nguyên thủy chỉ là những âm vang của lịch sử, vang dội ngân dài trong những phương trời viễn mộng.

Cho nên đất của Thơ là đất trích, là những vùng đày ải, đường của Thơ là quán trọ, là những bước đường ngược gió. Mặn nồng nơi đất trích, lân la nơi quán trọ, cuộc thể nghiệm dây dưa với hằng triệu vấn vương và cũng là cuộc thể nghiệm cho khước từ tuyệt đối… Bởi cách điệu trầm trọng như thế, nên Thơ là phong vận tài hoa, đẹp như những cụm mây trời trong nắng sớm.”*

Tuệ Sỹ nói về cõi thơ Tô Đông Pha mà vô hình chung cũng dường như nói về cõi thơ của chính mình. Thật vậy, thế giới thi ca Tuệ Sỹ đơn sơ mà kỳ vĩ, bi ai mà hùng tráng, im lặng mà sấm sét, tĩnh tọa mà phiêu bồng. Đó là cõi thơ thống thiết, bi tráng, vọng vang lên từ một tâm hồn cô liêu cùng tuyệt với hồn thơ hoằng viễn, uyên mặc, u ẩn, ngân dài trên giai điệu trầm tư, lãng đãng:

Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về

Cung đàn nào nhớ nửa? Quán trọ nào ai đem? Thi nhân không nói rõ, để cho trời thơ phiêu phưởng, bước đi lồng lộng, độc hành ca giữa đỉnh cao và hố thẳm. Thi nhân làm kẻ rong chơi từ thuở hồng hoang hỗn độn, phiêu bồng, lêu lổng Mười năm trong cuộc lữ trần sa:

Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Rủ mi dài trên bến cỏ sương khô 

Vì lêu lổng mười năm trời nói mộng
Ôm tình già quên bẵng tuổi hoàng hôn
Một sớm nọ nghe chim buồn đổi giọng
Người thấy ta xô dạt bóng thiên thần

Đất đỏ thắm nên lòng người hớn hở
Đá chưa mòn sao lòng dạ trơ vơ
Thành phố nọ bởi sương mù nắng quái
Nên mười năm quên bẵng mộng giang hồ

Cuộc rong rêu phiêu bạt, lãng tử giang hồ vô cùng tận đến nỗi quên bẵng hết những chuyện mộng mị, chiêm bao. Hồn thi nhân phóng khoáng, xuất thần lâng lâng rồi chợt bỗng hóa thân thành cánh chim én mùa xuân, bay qua dòng sông chiều tàn hoang vắng hay làm cánh bướm chao nghiêng, tung lượn xôn xao giữa Mưa cao nguyên lồng gió nắng phong trần:

Một con én một đoạn đường lay lất
Một đêm dài nghe thác đổ trên cao
Ta bước vội qua dòng sông biền biệt
Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao 

Bóng ma gọi tên người mỗi sáng
Từng ngày qua từng tiếng vu vơ
Mưa xanh lên tóc huyền sương nặng
Trong giấc mơ lá dạt xa bờ 

Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng
Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa
Con bướm nhỏ đi về trên cánh mỏng
Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa? 

Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng
Người vẫn đi như nước chảy xa nguồn
Bờ bến lạ chút tự tình với bóng
Mây lạc loài ôi tóc cũ ngàn năm

Ngàn năm rồi mà sao vẫn còn mãi lạc loài, hỡi mây trắng miên du? Nhà thơ chợt lặng thầm, trầm tư thắc mắc, chẳng biết chiếc lá vàng úa rụng xa mùa kia sẽ về đâu giữa phong ba, bão loạn? Nhưng rồi bỗng thấy “năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” nên cứ mặc nhiên cho dòng thơ trôi chảy qua nghìn bến bờ xa lạ, nhòa nhạt hoang vu tận cuối bãi mịt mù, để rồi chợt nghe Hận thu cao trên những bước đường long đong, rong ruổi:

Quỳ xuống đó nghe hương trời cát bụi
Đôi chân trần xuôi ảo ảnh về đâu
Tay níu lại những lần khân chìm nổi
Hận thu cao mây trắng bỗng thay màu 

Ta sẽ rủ gió lùa trên tóc rối
Giọng ân tình năn nỉ bước đi mau
Còi rộn rã bởi hoang đường đã đổi
Bởi phiêu lưu ngày tháng vẫn con tàu 

Vẫn lăn lóc với đá mòn dứt nối
Đá mòn ơi cười một thuở chiêm bao
Quỳ xuống nữa ngủ vùi trong cát bụi
Nửa chừng say quán trọ khóc lao xao 

Tay níu nữa gốc thông già trơ trọi
Đứng bên đường nghe mối hận lên cao

Bài thơ viết từ năm 1973 lúc thi nhân mới 30 tuổi, đang lang thang trên đồi Trại Thủy ở phố biển Nha Trang. Vì sao “đứng bên đường nghe mối hận lên cao”? Chỉ có tác giả mới có thể hiểu được mà thôi, cũng như Tự Tình bộc lộ “một nỗi hờn thiên thu”:

Còn nghe được tiếng ve sầu
Còn yêu đốm lửa đêm sâu bập bùng
Quê người trên đỉnh Trường Sơn
Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu

Trước cuộc dâu bể vô thường đầy hãi hùng, kinh dị, thi nhân chạnh lòng trắc ẩn trong ngậm ngùi, khắc khoải, xót xa cho bao thân phận kiếp người phải bỏ xứ sở ra đi. Đi thảng thốt, đi kinh hoàng, một cuộc đi thập tử nhất sinh, vội vã lao nhanh xuống biển đời trôi dạt lênh đênh để tìm kế sinh tồn…

Cưu mang, nung nấu một nỗi niềm tâm sự mênh mông, không biết bày tỏ cùng ai, nên thi nhân chẳng biết nói gì hơn là để cho tiếng lòng ngân lên khúc Tống biệt hành rưng rức những sầu thương vô hạn, trước bao lượn sóng cuồng phong, chìm nổi giữa sinh tử ba đào:

Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi! Mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình nước lạnh sao? 

Một bước đường xa xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi 

Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa

Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phìm dương cầm hay máu xanh

Hình ảnh máu màu xanh bầm tím rơi xuống như mưa mù thảm đạm thật khiếp đảm làm sao, gợi ra bao cảnh xiêu hồn lạc vía ở địa ngục âm u, mù tăm tối. Ơi chao! Địa ngục đó, chẳng phải ở dưới lòng đất sâu kín kia mà lại ở ngay trên mặt đất, trần gian này mới đau đớn, rợn người khủng khiếp chứ!

Từ khi chứng kiến biết bao oan khiên, nghiệt ngã, biết bao khổ lụy, đọa đày diễn ra một cách tàn bạo, vô nhân đạo, vô lương tâm trên khắp mọi chốn miền xứ sở và trên thế giới, nhà thơ nhạy cảm của chúng ta đã thấm thía một nỗi buồn vạn cổ sầu trong vô lượng xót thương:

Ôi nỗi buồn từ ngày ta lạc bước
Cố quên mình là thân phận thần tiên

Cốt cách, phong vận của thi nhân vốn là ở cõi tự do tiêu sái, tiêu dao, bay bổng chất ngất một trời thần tiên, huy hoàng, tráng lệ. Thế mà cũng đành phải cố quên đi tất cả, vì ma quỷ A tu la, tham sân si đã hiện hình như người, dùng bạo lực thâm độc, dốc hết tốc độ tham tàn, sân hận, si mê giáng xuống những tai ương, thảm họa, trong cơn điên đảo, loạn cuồng, biến trần gian tốt đẹp này thành một nghĩa địa âm u. Buồn quá phải không, buồn chết lặng, quặn lòng đau tê tái, khi ngồi đây mà như Ngồi giữa tha ma rờn rợn, chập chùng bóng tối u mê:

Lửa đã tắt từ buổi đầu sáng thế
Một kiếp người ray rứt bụi tro bay
Tôi ngồi mãi giữa tha ma mộ địa
Lạnh trăng tà lụa trắng trải rừng cây 

Khuya rờn rợn gió vèo run bóng quỷ
Quỷ run run hôn mãi lóng xương gầy
Khóc năn nỉ sao hình hài chưa rã
Để hồn tan theo đốm lửa ma trơi

Khi tâm tư chưa là gỗ mục
Lòng đất đen còn giọt máu xanh ngời

Lời thơ đồng vọng âm khí quỷ mị Lý Hạ, thấp thoáng ma quái Bồ Tùng Linh. Một khi đối diện với quỷ ma giữa ban ngày thì hầu hết chúng ta đều hãi hùng, khiếp sợ, nhưng ở đây, kỳ lạ thay giữa phủ trùm bóng đêm đen tối, tử thần rình rập bốn bề, nhà thơ vẫn ngồi dạo cung đàn sinh tử một cách hào hùng, vô uý, khi biết mình đang giáp mặt với đủ loại ma quân đang khủng bố, vây khổn:

Bóng có rơi giật mình sửng sốt
Mặt đất rung Ma Quỷ rộn phương trời
Chút hơi thở mong manh trên dấu lặng
Đêm huyền vi giai điệu không lời

Ơi chao! Một mình, một bóng lặng thầm lẫm liệt, hiên ngang bất khuất, dấn bước lên đường dưới gầm trời bão loạn, cuồng si. Đi về đâu hỡi Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân, hỡi Tăng Triệu, Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, hỡi Lý Hạ, Tô Đông Pha, Vương Duy, hỡi Thiện Tài, Duy Ma Cật, Thắng Man… giữa điêu tàn, tan hoang trên mặt đất?

Thân gầy như hạc, như trúc nhưng hồn thơ vẫn vút bay lồng lộng chín tầng trời cao xanh bát ngát, rồi lặng hồn lắng nghe đồng vọng vang lên những lời kinh Hoa Nghiêm hùng tráng:

Trang phục bằng khôi giáp Nhẫn kiên cố
Thanh gươm Trí trong cánh tay Đại bi
Nguyện đấng Đại hùng dũng mãnh hướng dẫn con
Trực diện chiến đấu với ma quân

Với cánh tay Đại bi cầm thanh gươm Đại trí, thi nhân còn mặc thêm áo giáp Vô sanh pháp nhẫn nữa thì cũng thừa sức dấn mình vào địa ngục trần gian, đương đầu với đảo điên, chuyển hóa ma vương, quỷ sứ đang quờ quạng, loạn cuồng trong bóng tối vô minh.

Cuộc lữ trực diện sinh tử kinh hồn, một lần tận tường giáp mặt là một lần thấu triệt lẽ vô thường, huyễn ảo quá đỗi mong manh trong cõi người ta và cũng chính từ đó, thi nhân mới phát Bồ đề tâm, phát đại nguyện thượng thừa, gánh vác lên vai vô số khổ lụy đoạn trường của nhân gian, như chính lời Tuệ Sỹ tự nhắc nhở thì thầm:

“Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng, không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà còn là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ.

Bồ đề tâm, đó là ý chí kiên cường, bất khuất của một con người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc bởi tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. “Vui sướng gì, thích thú gì giữa ngọn lửa tam độc không ngừng thiêu đốt? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi tìm bó đuốc?”

Không có tâm nguyện đó, không có ý chí đó, Bồ tát đạo chỉ là một con đường xa xôi, không tưởng, thần thoại hoang đường và Phật thừa không hơn một tiếng nói suông của một người mê sảng trong giấc ngủ ngày.”**

Thi nhân thấy như vậy bằng tuệ nhãn, bằng đôi mắt sâu thẳm, rực lửa của chính mình nên vẫn thường thích nghi, tùy duyên nhẹ bước vào ra nơi ồn ào đô thị, chốn phường xanh phố đỏ, nghe Tiếng nhạc vọng giữa ta bà đây đó bụi phù hoa:

Ta nhớ mãi ngày Đông tràn rượu ngọt
Ngày hội mùa ma quỷ khóc chơi vơi
Trưa phố thị nhạc buồn loang nắng nhạt
Chìm hư vô đáy mát đọng ngàn khơi

Đây khúc nhạc đưa hồn lên máu đỏ
Bước luân hồi chen chúc cọng lau xanh
Xô đẩy mãi sóng vàng không bến đỗ
Trời lênh đênh ma quỷ rắc tro tàn

Vẫn khúc điệu tự ngàn xưa ám khói
Ép thời gian thành rượu máu trong xanh
Rượu không nhạt mà thiên tài thêm cát bụi
Thì ân tình ngây ngất cõi mong manh 

Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Đổi hình hài con mắt vẫn đầy sao

Từ vô thủy đến vô chung, cuộc luân hồi khởi sự từ đâu chẳng biết, chỉ hay rằng, từ lúc nghe đồng vọng những trận gió phù trần, tận chốn miền thiên thu, vi vu thổi tới giữa Mộng trường sinh vạn đại, miên trường:

Đá mòn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Nghìn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương

Đan sa rã mộng phi thường
Đào tiên trụi lá bên đường tử sinh
Đồng hoang mục tử chung tình
Đăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô

Sinh tử là một việc trọng đại như thi nhân đã có lần nói tới trong lời tựa Vô môn quan của Thiền sư Vô Môn, do Trần Tuấn Mẫn dịch: “Nơi đây, sa mạc vẫn cứ thiên thu cô tịch trong cơn gió bức bách của hư vô. Lẽ sống và lẽ chết vẫn mãi bồng bềnh trong hư ảo. Tâm hồn miệt mài nóng cháy, nhưng không cháy tan nổi những giấc mộng hãi hùng của hư vô và hủy diệt.”

Hư vô đã trở thành một thứ chủ nghĩa đang hủy diệt mặt đất một cách trầm trọng đau thương, gây bao tang tóc não phiền, khiến thi sỹ nghe ra nghèn nghẹn tận đáy hồn, muốn làm một Cánh chim trời vút tung bay phiêu hốt:

Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc
Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu
Nghe một nỗi hao mòn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào

Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc
Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao
Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu

Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng
Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu

“Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu”. Hai câu thơ gây ấn tượng đẹp lạ lùng. Giọt máu nào phiêu lưu, giọt lệ nào phiêu lạc, trôi tan tác, lao đao trong nỗi hao mòn, tàn tạ, trong cơn gió lốc dập dồn, rờn lạnh buốt xương da?

Đi là đi mất, đi biền biệt, biến tan như sợi khói mỏng manh giữa bầu trời cao rộng, không bao giờ trở lại nữa, nhưng vừa đi vừa ngắm nhìn, lắng nghe những tiếng gào kêu trầm thống của nhân gian, của thập loại chúng sinh đang quằn quại, rên siết trong bao đổ nát đoạn trường, dâu bể tan hoang, đầy thảm họa tồn sinh, bức bách rợn ngần đẫm lệ nhòa Dạ khúc rung ngân:

Tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận
Lời ai ru trào máu lệ bi thương?
Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương 

Ai tóc trắng sững sờ trên tuyết lãnh
Bước chập chờn heo hút giữa chiều sương
Viên đá nhỏ mấy nghìn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu vết hoang đường?

Hoang đường nào còn in trên dấu vết lênh đênh? Tên tuổi nào cô liêu đến bạc trắng cả mái đầu? Sầu thế kỷ điêu linh nào cứ ngân dài mãi trong những đêm trần gian, chập chùng bao cơn Ác mộng phủ bóng rờn rợn xuống quanh đây?:

Lại ác mộng bởi rừng khuya tàn bạo ấy
Thịt da người vung vãi lối anh đi
Nhưng đáy mắt không căm thù đỏ cháy
Vì yêu em trên lá đọng sương mai

Anh chiến đấu nhọc nhằn như cỏ dại
Thoảng trông em tà áo mỏng vai gầy
Ôi hạnh phúc anh thấy mình nhỏ bé
Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây

Đời khách lữ biết bao giờ yên nghỉ
Giữa rừng khuya nằm đợi bóng sao Mai
Để một thoáng giấc mơ tàn kinh dị
Dáng em buồn bên suối nhỏ mây bay

Đây là bài thơ mà thi nhân mần lúc 32 tuổi, thời gian sống lưu linh lạc địa, ẩn cư trên núi rừng Vạn Giã xa mù. Em ở đây chính là hình ảnh cuộc đời. Cuộc đời nếu nhìn từ Tục đế thì đầy xung đột, mâu thuẫn, đầy những điêu linh, khổ luỵ, bất như ý, vì cuộc tồn sinh đang bị vây khổn trong hỗn mang tàn bạo với biết bao sắc màu vô minh kinh dị.

Bị lạc loài giữa sầu bi, thi sỹ chạnh lòng trắc ẩn thương em “Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây”. Nghĩa là viết những vần thơ tình cảm yêu thương, chia sẻ cùng nỗi đời tan tác, ngậm ngùi gởi về phố thị để Nhớ dương cầm:

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca
Tay em rung trên những phím lụa ngà
Thôi huyễn tượng xô người theo cát bụi
Vùng đất đỏ bàn chân ai bối rối
Đạp cung đàn sương ứa đọng vành môi
Đường xanh xanh phơn phớt nụ ai cười
Như tơ liễu ngại ngùng lay nắng nhạt
Lời tiễn biệt nói gì sau tiếng hát
Hỏi phương nào cho nguyện ước Trường Sơn
Lời em ca phong kín nhuỵ hoa hờn
Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt
Mờ phố thị những chiều hôn suối tóc
Bóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa

“Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt” nên nhìn đâu cũng thấp thoáng vờn bay mái Tóc huyền giữa trời đất thiên nhiên rối bời thê thiết:

Tang thương một dải tóc huyền
Bãi dâu ngàn suối mấy miền hoang vu
Gởi thân gió cuốn xa mù
Áo xanh cát trắng trời thu muộn màng 

Chênh vênh hoa đỏ nắng vàng
Gót xiêu dốc núi vai mang mây chiều
Tóc huyền loạn cả nguyên tiêu
Lãng du ai ngỡ cô liêu bạc đầu

Cô liêu, cô đơn, cô độc, cô lữ là bước đi kỳ cùng của người thi sỹ bi tráng, dị thường. Bước đi chênh vênh, bên này cát bụi phù du, bên này bờ Thị Ngạn, xao xác cọng lau gầy sậy yếu lặng phất phơ. Thở cùng hương trái đắng và hương nắng buồn, một hôm nghe Tiếng gà gáy trưa trong mắt biếc nào xanh nhiều diệu vợi, uyên tư:

Gà xao xác gọi hồn ta từ quá khứ
Về nơi đây cùng khốn với điêu linh
Hương trái đắng mùa thu buồn bụi đỏ
Ôi ngọt ngào đâu mái tóc em xinh 

Từng tiếng lẻ loi buồn thống thiết
Nghe rộn ràng từ vết lở con tim
Từ nơi đó ta ghi lời vĩnh biệt
Nắng buồn ơi là đôi mắt ân tình 

Còi xa vắng giữa trưa nào lạc lõng
Môi em hồng ta ước một vì sao
Trưa dài lắm nhưng lòng tay bé bỏng
Để vươn dài trên vầng trán em cao

Em ở đây chính là hình ảnh cuộc sống. Cuộc sống nếu nhìn từ Chân đế, vốn là tuyệt trần chân mỹ, vốn là bất sinh bất diệt, vốn là Niết bàn, Tịnh độ vô lượng vô biên. Biết được điều đó, cho nên lòng thi nhân, tự bao giờ vẫn khoan dung, rộng lượng, thương yêu nhân loại trong vô ngôn lặng lẽ, trong tận cùng dung nhiếp âm thầm, chia sẻ với muôn loài vạn vật, trần ai:

Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói
Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao

Vô biên, vô lượng thương yêu con người tha thiết mà không bao giờ nói mình yêu thương gì hết cả, đó mới chính là thương yêu đích thực nhất. Phải chăng, chỉ có những tấm lòng Bồ tát mới có thứ tình yêu vô điều kiện, vô phân biệt như vậy? Một tình yêu rộng rãi, đại bi tâm nhập diệu, kết tinh thành bản tình ca mà thi sỹ thường lắng nghe từ hun hút biển ngàn, sông núi Những năm anh đi giữa trời phất phiêu, xiêu lạc gót hoang tàn:

Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng
Nhìn quê hương qua chứng tích điêu tàn
Triều Đông hải vẫn thì thầm cát trắng
Chuyện tình người và nhịp thở Trường Sơn 

Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị
Yêu rừng sâu nên khoé mắt rưng rưng
Tay anh với trời cao chim trời rủ rỉ
Đời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường 

Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn 

Mười năm đó anh quên mình sậy yếu
Đôi vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Đông phương 

Và ngày ấy anh trở về phố cũ
Giữa con đường còn rợp khói tang thương
Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương

“Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu. Bản tình ca vô tận của Đông phương”. Bản tình ca vô tận ấy, thi nhân vẫn nghe hoài rung ngân bất tuyệt trên những dặm dài long đong lữ thứ, ở dọc đường quán trọ bơ vơ, bên làng mạc, thôn ấp đìu hiu, cạnh ven rừng, sơn dã hay quanh triền sông, thị trấn tiêu điều hoặc trên ghềnh suối truông ngàn, hoang vắng tịch liêu giữa những chiều sương khói chơi vơi, bềnh bồng trống trải:

Em trải áo trên hoa rừng man dại
Để hoa rừng nước cuộn biết yêu nhau
Nhưng nước cuộn xóa đời ta trên bãi
Để hoa rừng phong nhụy với ngàn lau 

Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng
Để cây khô mạch suối khóc thương nhau
Ta cúi xuống trên nụ cười chín mọng
Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu 

Ta chiến đấu nhọc nhằn như cỏ dại
Thoảng trông em tà áo mỏng vai gầy
Ôi hạnh phúc chợt thấy mình nhỏ bé
Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây 

Ta cúi xuống trên chân người bụi đỏ
Để nhìn sâu trong vết tích hoang đường
Ta sống lại trên môi cười rạng rỡ
Để nhìn sâu trong ngọn nến tàn canh

Bằng ánh mắt rực lửa từ tâm thâm cảm, nhà thơ nhìn sâu vào lòng đời với nụ cười bao dung rộng mở. Đó là nụ cười tâm đạo như Krishnamurti: “Người có tình thương mới thật là tâm đạo, vì đạo chân chính không dựng trên tín ngưỡng, giáo điều. Người có tình thương mới thật có đạo tâm, dẫu thương một người hay thương nhiều người. Tình thương là cái hiện tiền, cái tột cùng, cái tất cả, cái không thể đo lường được.”

Thở cùng điệu hát bản tình ca, nhã nhạc vang lừng trên núi rừng cô tịch hay giữa ngày hội lễ rộn ràng dưới phố thị xôn xao, nhà thơ đều lắng nghe trong từng khoảnh khắc lặng trầm, cảm nhận sâu xa vì biết chỉ là Một thoáng chiêm bao, huyễn mộng, trong khói bụi chập chờn:

Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao

Em là nàng thơ, là hình ảnh của cuộc tồn sinh, đầy những thăng trầm, khổ lụy từ nghìn xưa đến ngày nay. Khổ đế là sự thật thứ nhất mà Đức Phật đã chỉ bày cách đây gần ba nghìn năm rồi, giống như đại văn hào Hermann Hesse phát biểu: “Dù có bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết, yêu thương trần gian điên dại này.” Nhà thơ Tuệ Sỹ cũng vậy, cũng hết lòng thương yêu con người, dù kiếp người có tàn xiêu, hiu hắt, khi một mình ngồi Bên bếp lạnh:

Ai biết mình tóc trắng
Vì yêu ngọn nến tàn
Rừng khuya bên bếp lạnh
Ngồi đợi gió sang canh

Bài thơ này được viết từ năm 1977 tại núi rừng Vạn Giã, Khánh Hòa, nơi nhà thơ về cuốc đất trồng rau, ở ẩn dật nơi đó gần cả năm trời. Một hình một bóng cô đơn, ngồi cạnh dòng suối Đê lạnh buốt xanh rờn, sẵn sàng chờ đợi một điều gì có thể xảy đến. Trên đôi mắt thi nhân cúi nhìn xuống cuộc đời đang chìm trong bóng tối mù sa mà cảm thương một nỗi u buồn, xót xa khôn tả và Tôi vẫn đợi trong nỗi sầu miên man vạn đại:

Tôi vẫn đợi những đêm dài khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khoé miệng rưng rưng 

Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen tuyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha 

Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều

Ráng chiều xa bảng lảng, bóng hoàng hôn nhân loại đang phủ trùm vàng vọt xuống khắp vùng sông núi Đông phương. Cho dẫu đường đời giăng bẫy đầy nghịch cảnh, nhiều hầm hố cách ngăn, khó khăn, trắc trở gì gì đi nữa, thi nhân vẫn nhận diện, tỉnh thức trước những sự kiện đang diễn biến, vì đã bừng ngộ thấy:

“Ngay trong phiền não tức là Bồ đề, ngay trong những nguy hiểm đáng sợ hãi của sinh tử cũng chính là Niết bàn an ổn. Sợi dây bị tưởng lầm là con rắn, nhưng không phải hủy diệt sợi dây để diệt trừ ảo giác gây nên sợ hãi. Ngoài những gì vô thường được thấy, được kinh nghiệm bằng chính mắt, tai, mũi, lưỡi này, không tồn tại một thế giới chân thường, đại lạc hay đại ngã nào khác. Đó chính là thực tại Nhất nguyên tuyệt đối.”***

Phải chăng, đó là cái thấy bằng tuệ giác siêu việt? Thể hiện một tâm hồn thượng đẳng, hoằng đại, thấu thị lẽ đời, lý đạo vô vi. Một khi nhà thơ có cái nhìn tuệ giác đó rồi thì những sầu khúc thê lương kéo dài suốt mười lăm năm trường đọa đày kia cũng chẳng hề dao động:

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều

Chút thân bé bỏng dù có bị tù ngục, lưu đày vì sự ngộ nhận của thế lực vô minh, nhưng ngay trong dầu sôi lửa bỏng, trong đêm dài sinh tử đó, thi nhân đã nhập thần đại thiền định, thấu thị tất cả vạn pháp “như sương mai như ánh chớp mây chiều” làm vỡ bùng, rơi rụng bóng tối để rực ngời lên ánh phong quang tuệ giác. Một câu thơ lấy từ ý kinh Kim Cang:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ưng tác như thị quán

(Hữu vi pháp hiện trùng trùng
Như huyễn như bọt nước tung vỡ rồi
Như ánh chớp như sương rơi
Thường quán như vậy nhẹ vời phiêu nhiên)

Trùng trùng vạn pháp, muôn loài vạn vật, núi sông rừng biển, thiên nhiên vũ trụ và con người đều như mộng, như huyễn, như bọt nước, như sương rơi… Phải tận tường thường xuyên quán chiếu, thấy rõ ràng như thế. 

Khi thi nhân lãnh hội, quán chiếu sâu xa, đã thấy tất cả vạn pháp như ảo ảnh, mộng huyễn như vậy rồi thì hoát nhiên hiển lộ, bừng sáng lên một phương trời Tánh Không lồng lộng, không ngằn mé.

Cho nên, hết thảy mọi khổ nạn, mọi điêu linh, trầm thống đều chuyển hóa thành lửa tịch mịch, tự nhiên đốt cháy hết những kinh hoàng, khủng khiếp của địa ngục trần gian và sầu khúc thê lương trở thành “bản tình ca vô tận của Đông phương” thâm thúy dưới ngàn trăng sao, xao xuyến lặng bồi hồi.

Từ xưa đến nay vẫn điệp khúc cung đàn trường ca Đại bi tâm, trầm lặng ngân rung trên cung bậc Bất nhị giữa cõi người ta vô thủy vô chung. Chúng ta hãy lắng nghe, thưởng thức từng giai điệu vi tế của người nhạc sỹ tài hoa cảm giao hòa qua Những điệp khúc cho dương cầm vi vút dưới ngàn trăng:

Ta nhận chìm thời gian trong khóe mắt
Rồi thời gian ửng đỏ đêm thiêng
Đêm chợt thành mùa đông huyễn hoặc
Cánh chim bạt ngàn từ quãng Vô biên 

Từ đó ta trở về Thiên giới
Một màu xanh mù tỏa Vô biên
Bóng sao đêm dài vời vợi
Thật hay hư chiều nhỏ ưu phiền 

Chiều như thế cung trầm khắc khoải
Rát đầu tay nốt nhạc triền miên
Ôm dấu lặng nhịp đàn đứt vội
Anh ở đâu khói lụa ngoài hiên?

Ngoài hiên chiều phất phới bay qua những vệt nắng nhạt nhòa, phôi pha trong bóng tà huy thấp thoáng, lan dần nhẹ tỏa xuống mềm mại những sợi khói mênh mang. Thời gian và không gian trộn lẫn hòa quyện, tan vào trong cùng một tấu khúc rung cảm tự nhiên.

Tiếng đàn bất tuyệt, miên man réo rắt, lắng hồn rộn rã trên bàn tay nghệ thuật, vọng vang qua thấm thiết mãi ngân nga từ cõi mộng không lời. Tiếng đàn vô ngôn, rười rượi làm rung động vầng Trăng gầy, tịch nhiên soi chiếu trong vườn khuya mờ ảo, lung linh ngời long lanh, lấp lánh:

Nhà đạo nguyên không khách
Quanh năm bạn ánh đèn
Thẹn tình Trăng liếc trộm
Bẽn lẽn núp sau rèm 

Yêu nhau từ vạn kiếp
Nhìn nhau một thoáng qua
Nhà đạo nguyên không nói
Trăng buồn Trăng đi xa

Chao ơi! Yêu thương nhau đã từ muôn triệu kiếp rồi, hỡi vầng trăng thanh thoát, vàng hoa ảo diệu như nàng thơ gầy yểu điệu, lặng lẽ chia phôi. Thôi buồn làm chi nữa phải không? Thôi cứ thản nhiên để cho hồn thơ dệt phím nhạc ngàn đời những tơ đàn diệu âm, trầm bổng, mênh mang tỏa ngát mộng xanh huyền:

Tóc em bay trong sương chiều khói biếc
Dệt tơ trời thành khúc hát bâng khuâng
Tình hay mộng khi Trường Sơn xa hút
Đến bây giờ mây trắng gởi tin sang 

Hồn tôi đi trong rừng lang thang
Cọng lời ru từ ánh trăng tàn
Mắt em nhỏ ngại ngùng song cửa
Nghe tình ca trên giọt sương tan 

Gót chân em nắng vàng xưa viễn phố
Những ngón hồng ngơ ngác giữa đường chim
Ôi ta nhớ như đêm dài thượng cổ
Sợi tóc mềm lơi nhịp hát trong tim

Trong tim hồn rộn ràng bao nhịp hát hoang sơ từ thượng cổ vọng về. Thế là bát ngát, bồng tênh trên ngõ về im lặng, tiếng thơ trầm hùng Tuệ Sỹ như ánh trăng huyền nguyên thủy chiếu diệu, xuyên qua ngút ngàn bóng tối vô minh làm bừng hiện, rực ngời lên trên cung bậc ngôn ngữ thi ca đầy sáng tạo.

Con đường mây trắng thênh thang sáng tạo đã vượt qua những mộng tàn năm tháng cũ, dù vẫn còn chút dư hương của một thời đọa đày viễn mộng u sầu:

Màu nắng xế ôi màu hương tóc cũ
Chiều chơ vơ chiều dạt mấy hồn trôi
Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở
Mộng kiêu hùng hay muối mặn giữa mù khơi? 

Vén thanh sắc đổ mù khơi về đối diện
Cuộc ân tình lơi lả vội chia phôi
Trăng nằm xuống duỗi dài hai bến hẹn
Một dòng sông vồn vã động chân trời

Ơi chao! Đã chia phôi, từ biệt cuộc ân tình nhân thế từ dạo đó, kể từ ngày như đại thi hào Nguyễn Du xa xưa từng chứng kiến giữa trần ai: “Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…” Nhà thơ Tuệ Sỹ cũng đi về theo thể điệu phiêu nhiên, quy hồi vĩnh cửu với nụ cười sâu lắng, tự tri:

Khói ơi! Bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa

Vĩnh hằng chẳng ở đâu xa mà ngay trong mỗi sát na hiện tại, ở đây và bây giờ, ngay trong tiếng ve sầu hay từng nhịp thở nhẹ nhàng, từng phím đàn lặng lẽ giữa lòng phố bụi lao xao:

Ve mùa hạ chợt về thành phố
Khóm cây già che nắng hoang lương
Đám bụi trắng cuốn lên đầu ngõ
Trên phím đàn lặng lẽ tàn hương
Tiếng ve dội lăn tăn nốt nhỏ
Khóc mùa hè mà khô cả đại dương

Hương gì tan trên phím đàn phiêu hốt? Vì sao “khóc mùa hè mà khô cả đại dương”? Ngôn ngữ thi ca thường chứa nhiều ẩn dụ, tượng trưng, hàm súc như vậy, chúng ta tha hồ suy diễn, lãnh hội, cảm nhận theo đủ cách điệu riêng tư của mình thôi. Đọc thơ Tuệ Sỹ là ngao du phiêu lãng, bước dạo chơi vào một thế giới diêu mang, kỳ ảo vô vàn:

Một ngày chơi vơi đỉnh thác
Nghe bồn chồn tiếng gọi hư không
Giai điệu nhỏ dồn lên đôi mắt
Mặt hồ im ánh nước chập chờn 

Mặt hồ im tảng màu man mác
Ảnh tượng mờ một chút sương trong
Quãng im lặng thời gian nặng hạt
Tôi nghe đời trong tấu khúc Thiên hoang

Tấu khúc Thiên hoang vang rền như Phóng cuồng ca của Tuệ Trung Thượng Sỹ hay như Hòa tấu khúc thứ 9 của Beethoven đồng vọng trong tận đáy lòng Không Tánh vô biên, khiến cho thi nhân tự mình thưởng thức hương vị cô liêu của cuộc sống diệu thường:

Tự tâm tự cảnh tự thành chương
Tự đối bi hoan diệc tự thưởng
(Cô độc cảnh tâm thơ tự xuất
Tự ngắm buồn vui tự thưởng thức)

Nỗi cô đơn của Tuệ Sỹ cùng tương ứng với triết gia Nietzsche: “Hỡi cô đơn! Quê hương của ta! Ôi giọng nói của mi nói với ta nghe sao mà dịu dàng hân hoan đến vậy! Chúng ta không thắc mắc nhau điều gì, không than thở nhau điều gì, thong dong chúng ta cùng vượt qua những cánh cửa mở rộng.” Đồng điệu với thi hào Rainer Maria Rilke: “Cô đơn, nỗi cô đơn nội tâm mênh mang, đó là điều duy nhất cần thiết đối với kẻ sáng tạo.” Đồng cảm với Thiền sư Không Lộ:

Cắm cột am cao đất rắn rồng
Vi vu thân thế tuyệt đời ông
Đỉnh non có buổi leo lên thẳng
Gầm dài một tiếng lạnh hư không

Tiếng hú, tiếng gầm sấm động của Không Lộ từ thế kỷ XI vẫn còn vang dội mãi đến hôm nay. Chẳng hay có còn ai lắng nghe được không như lắng nghe tiếng vượn hú u trầm, thâm thiết trong rừng sâu rú thẳm của Tuệ Trung Thượng Sỹ:

Dù chốn lầu son hay sơn lâm
Nơi nào cũng vậy vẫn an tâm
Nhân gian đều thấy ngàn non sáng
Ai lắng nghe ra tiếng vượn trầm

Ở bất cứ nơi nào dù giữa heo hút rừng sâu hay ngay chốn phồn hoa đô hội đi chăng nữa thì người tự tri tự ngộ, kẻ sáng tạo đích thực vẫn tiêu dao vô ngại. Cái quan trọng không phải ở hình thức cư xử bên ngoài mà là bản tánh thanh tịnh sâu kín, là nguồn tâm thâm diệu bên trong lòng mình đó thôi. Nỗi cô đơn trầm hậu, nhập thần, cất lên tiếng thơ ngân dài sâu thẳm lâm ly, thi nhân đã thưởng thức được hương vị cô liêu của đời sống nội tâm vi tế…

Thế thì, tuyệt cùng ẩn ngữ thi ca Tuệ Sỹ là gì? Làm sao chỉ ra được, khi ngôn ngữ cứ lấp lánh, ẩn hiện trong ánh sáng phát ra từ tâm cảm thông tuệ siêu phàm? Có ai nắm giữ được những tiếng dương cầm, âm thanh thánh thót, nhẹ nhàng vang ngân bất tận từ giữa lòng bàn tay của bậc thiên tài, nghệ sỹ tài hoa kia?

Chia lìa, chia ly, chia tay hay buông bỏ, buông xả hết thảy mọi sự thị phi, hỷ nộ ái ố dưới thành phố Sài Gòn hỗn độn, ồn động đủ thứ phù hoa, nhà thơ đã rời khỏi Thị Ngạn Am ở Gò Vấp hơn 10 năm nay rồi.

Bây giờ, Tuệ Sỹ sống lang thang đúng nghĩa lang thang, hoàn toàn rỗng rang vô sự. Bước đi vô sở trú, vô sở cầu, vô sở đắc, lặng lẽ mở ra cuộc lữ tự do, tự tại giữa đang là. Đang là theo thể điệu Krishnamurti: “Cái mà Đức Phật gọi là Niết bàn, Đức Chúa gọi là Thiên đàng, chính cái ấy, tôi gọi là Cuộc sống.”

Cuộc sống là cái đang là, vừa trôi chảy vừa như như bất động. Không còn chay theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Phật, là Tổ, như Thiền sư Lâm Tế đã phát biểu hùng hồn:

“Con người vô sự là người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tiền, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Phật.”

Lẫn vào cảnh giới ta bà “hòa kỳ quang đồng kỳ trần” như Lão Tử hòa cùng ánh sáng, nhập cùng cát bụi phiêu du, Tuệ Sỹ thong dong trên ngõ về im lặng, thi nhân thường ẩn mình trên núi rừng Đamri hoang vắng tịch liêu, nằm phiêu dật giữa đất trời thanh lương, hùng vĩ, thở bầu khí hậu tự do. Có khi xuống núi về phố thị Sài Gòn tạm trú vài ba ngày ở Hương Tích thư quán.

Thỉnh thoảng làm cuộc lênh đênh như cánh bèo trên sông nước Cửu Long hay tiêu dao với mây trắng lặng lờ trên thung lũng Madagui huyền ảo… Lúc thì lên đồi Phương Bối ở vùng Đại Lão, Bảo Lộc uống trà với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn… Khi thì rờn lạnh theo sương ngàn xuôi về phố hoa Đà Lạt, ghé lại bên cầu sông nước Đại Ninh cùng dăm ẩn sỹ tâm tình, rồi bồng tênh xuống miền biển khơi Vạn Giã, Nha Trang muôn trùng bát ngát, mênh mông, hát khúc Thiên lý độc hành:

Ta về một cõi tâm không
Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
Còn yêu một thuở đi hoang
Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya

Một cõi tâm không, kẻ cô hành độc lữ đi về trên nhịp bước hoài niệm nhẹ nhàng.“Còn yêu một thuở đi hoang” còn thương vô lượng hải hà, nên nửa khuya ra ngắm ngàn sao trời lấp lánh, long lanh mà cảm hoài cả một thời lãng bạt, lạc loài trong quá khứ với bao nỗi niềm chi? Để rồi sớm tinh sương lên đường, nghe đau hồn cỏ khi dẫm nắng bên đèo truông heo hút gió sương sa:

Ta đi dẫm nắng bên đèo
Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều
Nguyên sơ là dáng yêu kiều
Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ
Còn đây góc núi trơ vơ
Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao

Bên góc núi trơ vơ, cạnh vực thẳm hố sâu hun hút, thi nhân đứng chờ đỉnh cao nào giữa nghìn năm vời vợi? Không biết nữa, chỉ thấy tiếp tục bước đi trong âm thầm, lặng lẽ, bất ngờ gặp một cái miễu cô hồn trơ trọi ven triền đồi hiu quạnh, chạnh lòng ôm bò lau cỏ dại đứng mơ màng, mộng mị đầu non:

Bên đèo khuất miễu cô hồn
Lưng trời ảo ảnh chập chờn hoa đăng
Cây già bóng tối bò lan
Ta ôm cỏ dại mơ màng chiêm bao

Chiêm bao hay thực tại đều hài hòa trong một trạng thái như nhiên giữa một hồn thơ vừa cao chất ngất vừa thăm thẳm trầm sâu:

Khi về ngả nón chào nhau
Bên đèo còn hẹn rừng lau đợi chờ
Trầm luân từ buổi ban sơ
Thân sau ta vẫn bơ vơ bụi đường

Tưởng tượng bước đi trên nhịp điệu phiêu linh ngược về muôn thuở trước, xuôi về vạn kiếp sau, chút thân bèo bọt này có nghĩa chi đâu giữa bụi đường bơ vơ, quá đỗi trôi lăn trong mịt mù sinh tử xót xa:

Đã mấy nghìn năm đợi mỏi mòn
Bóng người cô độc đẫm hoàng hôn
Bởi ta hồn đá phơi màu nắng
Ôm trọn bờ lau kín nỗi buồn

Nỗi buồn chi mòn mỏi đến mấy nghìn năm chờ đợi trong mang mang sầu vạn cổ? Cô độc bước tàn xiêu, hiu hắt, lặng sầu ngơ ngác, không biết ta ở đâu tới, từ thuở đất trời còn sơ thủy hồng hoang?:

Từ thuở hồng hoang ta ở đâu
Quanh ta cây lá đã thay màu
Chợt nghe xao xuyến từng hơi thở
Thấp thoáng hồn ai trong khóm lau

Chợt nghe từng hơi thở xao xuyến, khi thấy hồn ai trong khóm lau sậy trắng mờ bay thấp thoáng? Ngạc nhiên đứng trên đỉnh đèo cao, thi nhân đưa mắt nhìn trông bát ngát, mênh mông:

Trên đỉnh đèo cao bát ngát trông
Rừng mây xanh ngất tạnh vô cùng
Từ ta trải áo đường mưa bụi
Tưởng thấy tiền thân trên bến không

Bến không là bến mộng, bến thơ của người thi sỹ có cái nhìn thấu thị, thấy vô lượng kiếp ùa về trên con đường nắng mưa đầy gió bụi chập chùng, để rồi đứng chênh vênh trên đỉnh núi ngàn cao, nghe mưa rừng tuôn thác đổ ầm vang trút xuống, cuốn tràn theo lăn cát sỏi cùng trôi:

Bóng tối sập mưa rừng tuôn thác đổ
Đường chênh vênh vách đá dọa nghiêng trời
Ta lầm lũi bóng ma tròn thế kỷ
Rủ nhau đi cùng tận cõi luân hồi 

Khắp phố thị ngày xưa ta ruổi ngựa
Ngang qua đây ma quỷ khóc thành bầy
Lên hay xuống mắt mù theo nước lũ
Dẫm bàn chân lăn cát sỏi cùng trôi 

Rồi ngã xuống nghe suối tràn ngập máu
Thân là thân cỏ lá gập ghềnh xuôi
Chờ mưa tạnh ta trải trăng làm chiếu
Nghìn năm sau hoa trắng trổ trên đồi

Thiên lý độc hành là khúc hát vô thanh mà vang dội kỳ lạ dọc khắp ven đường thi sỹ bước đi qua. Không phải đi tàu, đi xe mà hoàn toàn đi bộ và đi bộ mà thôi. Lội qua hàng ngàn cây số, lên rừng xuống biển, độc hành ca suốt cả năm trời bằng nhịp bước ngàn phương, thấm đẫm gió sương, dãi dầu dấu chân mưa nắng:

Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng
Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu

Cuộc lữ phiêu lưu, phiêu bồng không mục đích, không chỗ trụ, không mong cầu chi hết, vì thi nhân biết rằng, chẳng từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu “vô sở tòng lai diệc vô sở khứ” đấy thôi. Phương trời lưu viễn chơi rong, thõng tay vào chợ, thở cùng điệu thở thênh thang giữa thiên địa tuần hoàn. Chỉ còn sáng tạo và sáng tạo trên cung bậc thi ca…

Hòa cùng nhịp bước lãng du của người thi sỹ kỳ tuyệt đó, du tử này chợt bỗng nghe văng vẳng lời nói của Phạm Công Thiện, một người bạn thâm tình, chí cốt của Tuệ Sỹ:

“Một con người vừa là thi sỹ vừa là thiền sư, vừa là nhà hành động nhập thế với tinh thần vô công dụng hạnh của bậc Bồ tát. Hành động tích cực, mãnh liệt toàn triệt mà vẫn giữ cảm thức viễn ly và viễn mộng, vì không tham vọng, ích kỷ mù quáng, cho nên nuôi dưỡng cảm thức viễn ly, vì không bị kẹt dính vào tham sân si của thế tục, cho nên mới hàm dưỡng viễn mộng.

Tuệ Sỹ là một trong số ít đạo sỹ, thi nhân với pháp khí phi thường là Trí tuệ Bát nhã cùng với lòng Đại bi thơ mộng.

Tuệ Sỹ là một trong số ít thể hiện được ý nghĩa trọn vẹn của ý thức chính trị toàn diện, ý thức hành động Bi Trí Dũng, dẫn đường soi sáng Thể mệnh của Sử tính quê hương…

Tuệ Sỹ là bậc Long Tượng của Phật giáo Việt Nam…

Đôi mắt Tuệ Sỹ lúc nào cũng sáng rực. Sáng rực được bên ngoài vì đã sáng rực bên trong, đã sáng rực bên trong vì đã sáng rực không ở trong cũng chẳng ở ngoài. Rực sáng như ngàn mặt trời. Tôi gọi Thầy Tuệ Sỹ  là Long Tượng, một bậc Đại sỹ…”

Phạm Công Thiện đã hùng hồn tuyên bố như thế, khi phát biểu trong buổi giới thiệu tác phẩm Huyền thoại Duy Ma Cật của Tuệ Sỹ bên Hoa Kỳ và kẻ viết bài này cũng thấy như vậy, nên mần bài thơ Đôi mắt Tuệ Sỹ khi gặp nhà thơ ở Hương Tích thư quán, Sài Gòn, vào một chiều phiêu lãng cuối mùa xuân:

Như Long Tượng mắt mở trùng sáng rực
Một hôm gầm sấm dậy khắp nhân gian
Làm chấn động khắp sơn hà đại địa
Rền ngân vang tận rú thẳm non ngàn 

Đôi mắt ấy cháy ngời xanh ánh lửa
Thiêu rụi tàn ngàn bóng tối u minh
Vô lượng quang sáng bừng lên trí tuệ
Đại bi tâm hàm dung chứa bao tình 

Đôi mắt đó trầm sâu màu đáy biển
Hòa chan nhau máu lệ nỗi đau đời
Từ nhãn thị chúng sinh đầy thương cảm
Mà đọa đày trong cuộc lữ chao ơi! 

Ôi đôi mắt lặng nhìn xuyên tam thế
Cõi tồn lưu huyễn mộng khói sương lồng
Lòng trăng hiện giữa đêm dài sinh tử
Thõng tay vào phố chợ bước dung thông

Thõng tay vào phố chợ bước dung thông là bước đi kỳ cùng, lý sự viên dung của một kẻ cô hành độc lữ. Chúng ta hãy lắng nghe Phạm Công Thiện nói tiếp về thơ Tuệ Sỹ:

 “Thơ Tuệ Sỹ chính là tiếng thơ đổi giọng của một loài chim bay từ cõi xa xưa của vô biên tế kiếp trong lòng sâu thẳm của Tính mệnh quê hương… Anh không thể cảm thơ người ta thì anh hãy im lặng, còn nếu cảm được thì anh hãy tha thiết ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những kẻ phê bình thơ mà chỉ nên có những người ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người, không có ai làm thầy ai cả.”

Bắt chước Phạm Công Thiện, kẻ lang thang này cũng muốn ca ngợi, tán thán Tuệ Sỹ, một Thiền sư thi sỹ vĩ đại, một trái tim Kim Cang bất hoại, vô úy, nhưng ngợi ca làm chi nữa, khi mà tiếng thơ của thi nhân đã làm chấn động, rung chuyển cả thế giới hoàn cầu và lan tỏa lạ thường ra khắp vũ trụ, mười phương rồi.

Thôi thì, chỉ xin đọc tặng bài thơ Im lặng sấm sét, khi một chiều bữa nọ, bất ngờ tái ngộ thi nhân đang ẩn cư ở vùng biển xanh Vạn Giã, trong một ngôi cổ tự rêu phong trầm tịch mịch:

Những phương trời viễn mộng đi
Thi ca tư tưởng bước kỳ tuyệt qua
Đọa đày một thuở ta bà
Nỗi đau rực cháy thấy ra tột cùng 

Ôi! Giấc mơ Trường Sơn rung
Rúng hồn tim máu chợt bùng vỡ mơ
Kinh thiên động địa sững sờ
Đâu chân diện mục của Thơ với Thiền? 

Mặc như lôi ngồi tịch nhiên
Nghe ban sơ vọng ngân huyền diệu âm
Những điệp khúc cho dương cầm
Từ vô tận ý vang thâm thiết niềm

Niềm hân hoan bát ngát hơn nữa, lại trùng ngộ nhà thơ trên đồi cao Vô Trú Am, vào ngày 25. 5. 2018 tại hải đảo Lại Sơn, Kiên Giang, ngút ngàn ngoài ven trời vạn dặm. Thi nhân vân hành ra đây nghỉ ngơi, an cư ba tháng hạ và du sỹ này làm thị giả, được hân hạnh sống kề cận, gần gũi, vui vẻ bên tách trà, sớm chiều tiêu dao vô sự…

Cùng uống trà, ngắm biển, lội suối, băng rừng, leo núi, dạo chơi với thi nhân là đủ cảm hứng vô ngần trên tinh thần sáng tạo, nên mấy chục bài thơ làm xong trong thời gian tràn đầy thơ mộng đó. Xin chép lại đây một bài Trùng ngộ ở nơi này, gởi tặng biển núi thanh lương giữa nghìn năm trầm biếc xanh ngời thăm thẳm:

Ngoài hải đảo ngút ngàn vạn dặm
Giữa muôn trùng sóng vỗ mênh mông
Sớm mai bát ngát nhìn vũ trụ
Thấy càn khôn trong một giọt sương lồng 

Trên tuyệt đỉnh rừng cao hùng vĩ
Thật không ngờ xuất hiện bóng Thiền sư
Hùng tâm tráng khí vang đầu gậy
Diệu huyền âm rền tâm khúc đại từ 

Đại hỷ xả hòa vô công dụng hạnh
Rúng ngân dài tận góc bể chân mây
Biển núi bừng reo theo sỏi cát
Hát mừng vui trùng ngộ ở nơi này

Tâm Nhiên
Thơ văn Tuệ Sỹ, trích trong các tác phẩm:
Giấc mơ Trường Sơn. An Tiêm, Paris 2002
Những điệp khúc cho dương cầm. Phương Đông, Sài Gòn 2009
Thiên lý độc hành. Văn Học Press, Hoa Kỳ 2020

* Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng. Ca Dao, Sài Gòn 1973
** Tuệ Sỹ. Thắng Man giảng luận. Phương Đông, Sài Gòn 2012
*** Tuệ Sỹ. Huyền thoại Duy Ma Cật. Phương Đông, Sài Gòn 2007

Xem thêm

ttts a

Tâm Nhiên: Tuệ Trung Thượng Sỹ dị thường Phóng Cuồng Ca

Tuệ Trung Thượng Sỹ (1230-1291) tên thật Trần Tung, con trai trưởng của An sinh …

pham thien thu

Tâm Nhiên: Suối nguồn thi cảm Phạm Thiên Thư

Thi sỹ Phạm Thiên Thư quê Thái Bình, sinh năm 1940. Thuở nhỏ, thường lêu …

truc thients

Tâm Nhiên: Trúc Thiên thơ và thiền

Trúc Thiên là một khuôn mặt đặc biệt, nổi bật lên giữa bầu trời văn …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.