phat giao va nguoi phu nu

Thích Nữ Trí Hải: Phật giáo với phụ nữ

Thông thường nói đến phụ nữ người ta nghĩ ngay đến những phong trào đòi bình quyền, đòi quyền sống, đến những quan niệm kỳ thị nam nữ, những ý kiến ủng hộ hay chống đối trước những quan niệm ấy, chia ra hai phe rõ rệt mà người bệnh vực sự kỳ thị dĩ nhiên đa số là phái nam, và người chống đối sự bất bình đẳng luôn luôn là phái nữ. Tựu trung vấn đề kỳ thị nam nữ có thể so sánh với vấn đề kỳ thị màu da, chủng tộc, nó bao hàm một sự tranh chấp về quyền lợi và thế lực. Ở đâu còn sự tranh chấp, ở đấy sẽ còn tình trạng kỳ thị nam nữ; tranh chấp vật chất thì đưa đến chiến tranh giành thị trường, tranh chấp tinh thần thì sinh ra những kỳ thị nam nữ, chủng tộc, tín ngưỡng, màu da. Sự kỳ thị chỉ chấm dứt khi nào con người vươn lên một bình diện cao hơn tạm gọi là bình diện tâm linh, ở đó mới không còn tranh chấp. Trong địa hạt vật chất cũng như tinh thần, khi một người no tất phải có những kẻ khác đói, một người dư dật thì kẻ khác phải thiếu thốn, một người được gọi hay ho tất phải có kẻ chịu tiếng vụng về khờ khạo. Niềm hân hoan, sự chiến thắng của một cá nhân ham một đoàn thể này bao hàm nỗi tủi nhục, sự thất bại của một cá nhân, một tập đoàn khác. Chỉ có trong địa hạt tâm linh, niềm vui của ta mới không phải trả giá bằng nỗi khổ của người, mà còn tỏa rộng bóng mát của nó cho mọi kẻ chung quanh. Chỉ có trong địa hạt tâm linh, mỗi con người mới có thể đạt đến tự do tuyệt đối mà không phương hại đến kẻ khác, và chỉ trong địa hạt tâm linh, tình yêu mới không thể biến thành nỗi ganh ghét hận thù. Cho nên chỉ có những bậc Thầy tâm linh vĩ đại mới không có thành kiến về phụ nữ, vì họ đã vượt ra ngoài sự tranh chấp, ra ngoài sự yêu ghét thường tình. Đức Phật chính là bậc Thầy tâm linh vĩ đại ấy. Con Người đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóng không những ra khỏi một thân phận đen tối thấp hèn, lệ thuộc vào nam giới, mà còn ra khỏi ngục tù bản ngã nhỏ hẹp để vươn lên Chân lý, Niết bàn.

Nói chung, những đức tính và tính xấu của phụ nữ thuộc loại khác hẳn với những đức tính và tính xấu của nam giới. Nếu nam giới, trí tuệ được đề cao, thì đức tính được đề cao ở nữ giới chính là từ bi, bởi thế mà những hình tượng bồ tát tượng trưng đức từ bi đều mang hình thù phụ nữ. Nếu ở nam giới, lòng can đảm gan dạ, chí khí được tán dương thì ở nữ giới chính là sự nhẫn nhục ôn hòa, đức bao dung tha thứ. Thánh Gandhi đã xem phụ nữ là hiện thân của đức tánh khoan hồng. Nếu ở nam giới, sự ăn to nói lớn, hoạt bát hùng hồn là một đức tính thì trái lại, đức tính của phái nữ nằm trong sự yên lặng tự xóa mình. Nếu ở nam giới, quyền lực uy phong được ca tụng thì ở nữ giới, đức tính cần thiết là nhũn nhặn khiêm tốn, không xem mình quan trọng. Nhưng những đức tính vừa kể đối với nữ giới cũng có những mặt trái của nó. Chẳng hạn mặt trái của lòng từ bi có thể là sự si ái, lòng kiêu căng. Vì người đàn bà đóng một vai trò quan trọng trong việc đem lại sự sống, nên họ dễ xem mình là tất cả, dễ nghĩ rằng không có ta đây thì không xong. Lại nữa, “từ bi” đôi khi bị đánh lừa bởi một lòng ngụy tín để đi đến chỗ si ái, sướt mướt , ủy mị. Đức tính im lặng nhẫn nhục nơi phụ nữ có thể có bộ mặt trái của nó là chấp trước, phiền não, ôm khư khư một mối hận đến nỗi mang theo nó xuống tuyền đài và khiến cho đàn bà khó giải thoát, khó “siêu thăng” để nói theo từ ngữ tịnh độ. Đức tính nhũn nhặn khiêm tốn cần thiết nơi phụ nữ cũng thế, có thể có mặt trái là sự nhút nhát ỹ lại, tánh làm đỏm, tự xem mình cần phải lệ thuộc vào một cái gì mới sống nổi. Chính vì muốn phát huy những đức tính và sửa trị những mặt trái túc những tính xấu nơi phụ nữ, mà Đức Phật đã chế ra Bát kỉnh pháp và những giới luật riêng cho hàng nữ xuất gia. Nhiều người đã căn cứ vào Bát kỉnh pháp (tức 8 điều cung kỉnh mà Tỳ kheo ni phải tuân giữ đối với hàng Tỳ kheo tăng) và căn cứ vào sự kiện rằng theo luật Phật chế, giới điều của Tỳ kheo ni nhiều hơn giới điều dành cho Tỳ kheo Tăng, mà cho rằng Đạo Phật có sự kỳ thị nam nữ. Thật ra như đã nói một phần trên đây, vì phái nữ có những điều kiện vật chất và tinh thần, tâm lý khác hẳn nam giới cho nên giới luật cũng khác. Ta có thể lấy ví dụ từ luật đi đường cho dễ hiểu: chẳng hạn chỉ có những người đi xe hơi mới phải tuân thêm cái luật đậu xe những ngày chẵn ngày lẻ, ..v..v.. trong khi những người không đi xe hơi thì không phải theo những luật ấy. Riêng về Bát kỉnh pháp, chúng ta có thể đi ngược dòng lịch sử, để xét lý do vì sao Đức Phật đã chế ra tám điều cung kỉnh. Chúng ta biết rằng trong đoàn thể xuất gia đầu tiên của Đức Phật không có hàng nữ lưu. Mãi đến năm năm sau khi thành lập Tăng đoàn, bà dì và cũng là mẹ nuôi Đức Phật là hoàng hậu Mahaprajapati (Đại Ái Đạo) cùng với 500 nữ nhân dòng Thích ca mới đến ngỏ lời cầu xin Phật cho phép được thế phát xuất gia. Phật từ chối và bỏ đi nơi khác. Lần thứ hai khi nghe Đức Phật đang ở Kỳ hoàn Tinh xá, Hoàng hậu cùng 500 nữ nhân ấy từ xa xôi lặn lội, đi bộ rách cả gót chân, y phục lấm lem đất bụi, đến nơi đứng ngoài cửa khóc lóc thảm thương. Ngài Anan thấy thế động lòng can thiệp giúp cho Hoàng hậu và sau ba lần ngài năn nỉ Phật mới bằng lòng cho bà và 500 vị nữ nhân xuất gia với điều kiện phải tuân Bát kỉnh pháp. Điều ấy có nghĩa gì? Trước hết Phật biết tâm lý kiêu căng cố hữu của người phụ nữ, mặt trái của bản năng làm mẹ, ưa bảo bọc và tự cho mình quan trọng. Bà Mahaprajapati là một đương kim hoàng hậu, lại là mẹ nuôi của Thái tử Tất Đạt Đa (Đức Phật trước khi xuất gia). Bà đã nuôi nấng Thái tử từ khi mới ra khỏi lòng mẹ được bảy ngày. Như thế bà có đủ tất cả lý do để kiêu căng ngã mạn khi bước vào hàng ngũ xuất gia vậy. Nếu Đức Phật không chế ra Bát kỉnh pháp thì rất có thể bà sẽ trổ trời mà lên, không coi ai vào đâu nữa. Nếu ở đời bà đã sai bảo được lính tráng và quan hầu, thì không lý do gì khi vào đạo và lại là mẹ của Phật, bà lại không sai bảo những vị tu sĩ choai choai đáng đầu con cháu bà? Do đó, mà ta thấy rằng một trong tám điều cung kỉnh rất có ý nghĩa và chỉ có thể nhắm vào Kiều Đàm di mẫu; cái điều ấy như vầy: “Một vị Tỳ kheo ni dù 100 tuổi cũng phải cung kính vái chào mời ngồi khi thấy một vị Tỳ kheo tăng dù mới 1 tuổi (thật ra là 21 tuổi, vì tuổi tối thiểu để thọ tỳ kheo giới là 20, cộng thêm 1 năm tuổi hạ). Một lý do sâu xa khác của Bát kỉnh pháp là Đức Phật muốn có sự cách biệt trong hòa khí giữa Tăng bộ và Ni bộ. Nữ giới hay thiên về sự quá đà; hoặc quá thân thì mất sự cung kỉnh và dễ lờn hoặc quá sơ thì dễ đến chỗ kiêu căng tự phụ cho rằng ta đây có thể tự lập không cần ai dắt dẫn. Do đó một điều cung kỉnh khác trong tám kỉnh khác bắt buộc Ni chúng phải thỉnh thoảng đi đến tỳ kheo tăng để xin chỉ giáo, để luôn luôn nhớ đến địa vị khất sĩ của mình, nghĩa là phải tìm cầu Chánh pháp. Ngày nay trên cương vị của một người đi tìm Tuyệt đối, “phàm xuất gia giả, phát túc siêu phương” chúng tôi cũng nhận thấy bát kỉnh pháp không có gì là quá đáng và còn phải được lĩnh hội một cách sâu xa hơn, ấy là: chúng ta phải kính trọng tất cả, vì điều trở ngại lớn nhất cho người tìm Đạo chính là thói kiêu mạn. Thánh Gandhi có nói: “Người tìm chân lý phải xem mình hèn mọn hơn cát bụi. Vũ trụ nghiền nát cát bụi dưới chân mình, song kẻ đi tìm chân lý phải nghĩ mình nhỏ nhoi đến độ bụi cát cũng có thể nghiền nát mình. Chỉ khi đó và cho đến khi đó, con người mới mong có được một tia sáng nào của chân lý”. Như vậy những vị tu sĩ phái nữ nào thực tình muốn xóa bỏ ngã chấp, thì không có lý do gì để mặc cảm về bát kỉnh pháp và vị nam tu sĩ nào thực tình là một con người đi tìm tuyệt đối cũng không có lý do gì để tự hào.

Trên đây chúng ta đã nói rằng những đức tính và tính xấu của phái nữ khác hẳn những đức tính cũng như tính xấu của phái nam, do đó giới luật của mỗi bên một khác vì giới luật không khác gì những phương thuốc chữa bệnh, có bệnh mới có ra liệu dược. Một điều đáng nói nữa là cũng vì sự khác biệt ấy phái nữ có những lãnh vực hoạt động khác hẳn lãnh vực nam phái, không thể so sánh được. Nếu trong xã hội, đàn ông nắm giữ những địa vị then chốt thì trong gia đình, giềng mối lại do đàn bà nắm giữ. Bởi thế Đức Phật thường dùng danh từ màtugàma có nghĩa là những bà mẹ, để tỏ ý kính trọng khi nói về những phụ nữ lớn tuổi và danh từ Pàramàsakhà (những người bạn tốt của chồng họ) để chỉ những người phụ nữ đã kết hôn.

Đông phương cũng có danh từ “nội tướng” chỉ những bà mẹ đảm đang trong gia đình những bà mẹ có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng trong sự giáo dục con cái. về điểm này chúng ta có thể tìm ví dụ trong tiểu sử những bậc Thánh như ngài La Thập, mà thân mẫu đã đóng góp một phần không nhỏ tên đường tiến tu đạo nghiệp; Ngài Dhammapala một vị hộ pháp có công chấn hưng Phật giáo tại Tích Lan và sáng lập hội Mahabodhi cũng đã nhờ công lao rất nhiều của thân mẫu. Tiểu sử ghi rằng thân mẫu Ngài đau buồn trước tình cảnh nền tín ngưỡng Phật giáo cổ truyền của xứ sở bị cuốn trôi trước những làn sóng xâm lăng của dị giáo, đã thường tha thiết cầu nguyện sinh được một người con trai đầy đủ tài đức để phục hưng tôn giáo nước nhà. Bà đã được tọa nguyện và Dhammapala đã ra đời giữa tiếng kinh vang rền của chư tăng và giữa cảnh hương trầm nghi ngút khắp nhà, một cảnh tượng tiếp diễn hàng mấy tháng trước đấy. song song với một đời sống thánh thiện của bà mẹ suốt thời kỳ hoài thai bậc Thánh, vì bà xem đấy là điều tiên khởi cho việc giáo dục con người hãy còn trong bào thai, mà sau này phải trở thành cứu tinh của dân tộc. Bà Mạnh mẫu cũng đã chọn chỗ ở thích hợp để nuôi dạy người con về sau đã trở thành một vị á Thánh của Trung quốc. Thân mẫu của Mahatma Gandhi cũng đã gây một ảnh hưởng lớn trong đời bậc vĩ nhân này và triết gia Anh lỗi lạc mới tạ thế vài năm trước là Bertrand Russell cũng đã được giáo huấn từ tấm bé bởi một bà nội đầy nghị lực quả cảm không thua gì nam giới. Những tỉ dụ ấy đầy rẫy trong các tiểu sử những vĩ nhân của nhân loại. Những bà mẹ ấy đã dễ dàng bị lãng quên trước sự thành công sáng chói của những người con, nhưng chính sự lãng quên ấy lại là một phần làm nên sự vinh quang của những bà mẹ, với đức hy sinh vô bờ không chờ đợi được đền đáp hay được nhắc nhở. Đức hy sinh xả kỷ của những bà mẹ vĩ nhân nói chung ấy đáng lẽ chúng ta phải xây đài kỷ niệm như chúng ta đã xây đài kỷ niệm những chiến sĩ vô danh.

Vai trò then chốt của những bà mẹ trong gia đình được tỏ rõ qua kinh nghiệm: ta thường thấy rằng khi một gia đình có người cha vô trách nhiệm nhưng được bà mẹ đảm đang đức hạnh thì gia đình vẫn còn vững, con cái vẫn có thể làm nên nấu chín. Trái lại khi một gia đình có bà mẹ bê tha thì gia đình ấy kể như tan rã, con cái cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa. Một văn hào Pháp đã nói chí lý như sau: “Chính phụ nữ là những người tạo dựng và phá hoại gia đình”. Trong khi công việc của nam giới là khai sáng, xây dựng thì công việc của nữ giới chính là duy trì, bảo vệ và hỗ trợ cho những công trình công ích. Trong những phong trào những tổ chức văn hóa và tôn giáo, phụ nữ thường là những người bảo trợ và hưởng ứng, như bà bá tước Chatelet với lâu đài Cirey đã giúp văn hào Voltaire trú ẩn chánh quyền Pháp, chính ở đây ông đã sáng tác những tác phẩm bất hủ cho nhân loại.

Trong lãnh vực tôn giáo, vai trò hỗ trợ của phụ nữ lại càng quan trọng hơn. Vào thời Đức Phật còn tại thế, đã có rất nhiều phụ nữ trong số những đệ tử của Phật, điều ấy được chứng tỏ qua Kinh tạng và Luật tạng bằng tiếng Pali. Luật Pali (Vinaya Pitaka) có hai chương dành cho nữ giới là Bhikkhunivibhanga và Bhikkhunikhandhaka nó đến những giới luật mà Tỳ kheo ni và những nữ nhân tập sự xuất gia phải tuân giữ. Họ là những phụ nữ đã thoát ly gia đình để đi tìm sự an tĩnh nội tâm, sự tự chủ, ánh sáng tri thức, và trên tất cả tìm đến cái trọng tâm căn để của Giáo lý Đức Phật là sự Giải thoát như Đức Thế tôn đã dạy: “Cũng như nước trong bốn bể chỉ có một vị mặn, Đạo của ta cũng chỉ thấm nhuần một vị, ấy là vị Giải thoát”. Trong số đông đảo phụ nữ xuất gia thời Đức Phật còn tại thế, có nhiều người đã chứng đến quả A la hán, quả vị cao tột mà một đệ tử đương thời của Phật có thể chứng đắc, mà chứng tích còn tồn tại đến chúng ta qua những bài thơ (kệ) họ thốt ra sau khi đắc quả những bài kệ này được ghi lại trong Kinh tạng Pali gồm ba phần: phần thứ nhất quan trọng hơn cả gọi là Therigâthâ (Trưởng lão ni kệ) gồm những bài thơ của 73 vị nữ tu sĩ đã lớn tuổi gọi là Trưởng lão ni. Phần thứ hai là Bhikkhuni samyutta, một phần trong Kinh Samyutta Nikâya (Tạp a hàm) sưu tập những bài kệ của 10 vị Trưởng lão ni trong số kể trên; và phần cuối cùng là Apadàna là tập tiểu sử viết bằng thơ kể lại đời của 40 vị ni sống đồng thời với Đức Phật, trong khi Tăng bộ có hai vị là Sariputta (Xá Lợi Phất) và Moggallàna (Mục Kiền Liên) cai quản thì Ni bộ cũng do hai vị ni đã đắc quả A la hán hướng dẫn là bà Khemà và Uppalavannà. Nhiều vị nữ đệ tử khác cũng được Đức Phật liệt vào hàng lỗi lạc nhiệt thành. Sự thành lập Ni bộ của Đức Phật đã được các nhà dân tộc học cho là một việc làm vô cùng cách mạng, nếu ta xét đến yếu tố thời gian cách đây 2500 năm và không gian là xứ Ấn Độ đầy thành kiến đối với phái nữ. Không những ngày xưa mà ngay hiện tại nhiều nơi ở Ấn Độ vẫn còn giữ tục lệ Pardah tức là tục che mặt của phụ nữ khi ra đường và họ phải sống trong phòng the khóa kín. Họ không được giáo dục, không được làm những công việc ngoài đường dù nhỏ mọn như bán trầu thuốc, rau cải, tất cả đều do đàn ông đảm trách vì đó là tục lệ của Ấn giáo. Sinh con gái là một điều bất hạnh cho mọi gia đình, vì phải lo việc gả chồng và sắm của hồi môn. Hơn nửa trong xã hội Ấn độ thời bấy giờ, cũng như Trung hoa, Nhật bản hay Việt Nam, mọi gia đình đều xem con trai là rường cột trong việc nắm giữ giềng mối tổ tông và lo việc tế tự thờ cúng. Việc tế lễ trong đó nhiều sinh vật thường bị giết làm vật hi sinh, được thực hành sâu rộng, và người ta tin rằng người cha trong gia đình chết đi mà không có con trai nối dõi tông đường thì linh hồn ông sẽ thành ma trở về quấy phá. Do đó nếu một người đàn bà không sinh được con trai, thì người chồng có thể cưới vợ khác và ngay cả có thể trục xuất bà ra khỏi gia đình, Nhưng kể từ khi Đạo Phật ra đời những truyền thống của xã hội Ấn đã trải qua một cuộc đổi thay. Phật giáo dạy rằng sự hi sinh phải bắt nguồn từ nội tâm, bằng cách gột rửa những tư tưởng ngã chấp, thiêu đốt tham sân si. Sự hi sinh ấy tránh xa mọi hành vi tàn bạo độc hại đối với mọi sinh vật khác. Hoàng hậu Mallikà nhờ thấm nhuần những tư tưởng ấy của đạo Phật, đã trở nên một Phật tử tại gia chân chánh và thuyết phục được chồng bà là vua Pasenadi khỏi làm một cuộc tế lễ vĩ đại trong đó nhiều muông sinh đáng lẽ sẽ bị giết để chuộc mạng sống cho vua, theo lời khuy6en của một người Bà la môn giáo. Lại nữa, lý thuyết Phật giáo theo đó mỗi một con người tự trách nhiệm lấy sự luân hồi sinh tử của mình, đã bậc tung gốc rễ của niềm tin truyền thống có ít nhiều tai hại cho phụ nữ như tin rằng nhờ tế tự thần linh mới sinh được con trai, hay tin rằng linh hồn người cha sẽ trở về quấy nhiễu nếu việc cúng tế không được chăm sóc chu đáo. Với lý thuyết nghiệp báo, đạo Phật không tin vào những vụ cúng tế kia, dù là để xin con trai hay để chuộc tội lỗi. Vị Trưởng lão ni tên Punna trong một bài kệ có nhận xét rằng nếu lễ tắm rửa trong nước sông có thể tẩy sạch tội lỗi và thanh hóa con người thì những loài tôm cua rùa cá và rắn nước đáng lẽ phải được lên thiên đàng tất cả. Như vậy, với sự xuất hiện của Phật giáo, người phụ nữ Ấn không còn phải quá lo ngại và bị ngược đãi khi không sinh được con trai, vì người ta đã nhận thức được rằng, cuộc sống đời sau của người cha hoàn toàn tùy thuộc vào những hành vị hiện tại của ông, chứ không phải do sự cúng tế của người con trai hay con gái nào cả. Và sự kế nghiệp gia đình cũng không còn quá lệ thuộc vào những người trưởng nam như trước. Ngày nay ở bờ biển Tây Ấn còn có một giai cấp Bà la môn rất xưa cũ gọi là Nairs có truyền thống chỉ trao quyền thừa kế cho con gái. Điều này có thể là do một ảnh hưởng của Đức Phật. Chúng ta được kể rằng khi vua Pasenadi tỏ vẻ buồn bã thất vọng vì Hoàng hậu Mallikà sinh con gái, Đức Phật đã an ủi vua bằng những lời lẽ như sau:

“Tâu đại vương, một cháu gái có thể
còn tốt hơn cả một hài nhi nam tử
Cô bé có thể trở thành một thiếu nữ hiền đức
Biết kính trọng mẹ chồng và làm một người vợ tốt
Nàng có thể sinh một người con làm nên những chuyện lớn lao
Và cai trị những vương quốc lớn rộng
Một người con trai như thế của một bà mẹ cao quý sẽ
trở thành một người lãnh đạo quốc gia”.

Một truyền thống khác cũng đã được Đức Phật xóa bỏ với cuộc cách mạng của Ngài là thành kiến khinh bỉ đối với những phụ nữ sống độc thân cho đến già. Với sự xuất hiện của Phật giáo và đoàn thể Ni chúng, tức đoàn thể phụ nữ độc thân có tổ chức đầu tiên, người phụ nữ không lập gia đình dù chưa phải là Phật tử cũng bắt đầu thấy tự do thoải mái, nàng có thể ra đường mà không bị phỉ báng, hài lòng với công việc thích hợp cho nàng phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc đàn em, chăm lo nhà cửa. Nàng có thể trở thành chủ nhân của những gia sản lớn, có nhiều nô bộc đất đai ruộng vườn như trường hợp nàng Subhà con gái của người thợ kim hoàng. Nhưng khi nàng được bà Kiều Đàm Di mẫu giảng dạy chánh pháp nàng bỗng thấy rằng mọi thú vui thế tục làm cho nàng chán ngấy và bạc vàng không đem lại niềm bình an cũng như ánh sáng trí tuệ, bởi thế nàng đã gia nhập đoàn thể ni chúng. Như vậy ta thấy giáo pháp của Phật đã mở rộng cho tất cả các hàng phụ nữ không phân giai cấp: bà Mahapajapati mẫu hậu cao sang quyền quý, nàng Subhà giàu có, nàng Isidàsi đau khổ, nàng Ambapali ăn chơi. Theo các bài kệ và tiểu sử của những vị này, về sau đều trở thành những bậc Trưởng lão ni và đều đắc quả, chúng ta được biết Isidàsi là một người đàn bà đau khổ có bốn đời chồng, khi xuất gia sống đời giải thoát bà đã diễn tả trong một bài thơ nỗi niềm sung sướng vì đã thoát khỏi một cách vinh quang ba điều khó chịu là “cối, chày và người chồng bất chính” và cuối cùng bà hân hoan tán thán pháp lạc tuyệt vời của người đắc quả Vô sanh: “Tôi đã giải thoát khỏi sống và chết, tôi đã cắt đứt sợi dây luân hồi” (Trưởng lão ni kệ bài thứ 11). Bà Pàtàcàra một phụ nữ khác bị mất một lược hai con, chồng, cha, mẹ và anh trong một trường hợp thê thảm, nhờ thần lực Phật, bà đã gặp được Ngài. Sau khi nghe những lời giảng từ chính Kim khẩu Đức Thế Tôn, bà đã đắc sơ quả và xin xuất gia. Một hôm xuống rửa chân trong dòng suối và nhìn những giọt nước từ bàn chân nhỏ xuống tan trong dòng nước trôi đi, bất giác mà nghĩ đến sự mong manh của đời người chẳng khác nào những giọt nước kia, sớm hay muộn gì rồi cũng tan rã, chấm dứt. Đức Phật đọc được những ý nghĩ ấy và biết tâm bà đã sẵn sàng cho một sự ngộ nhập cao hơn, liền đến thuyết pháp cho bà. Nghe xong thời pháp bà đã đắc A la hán quả và từ đấy trở thành nguồn an ủi cho nhiều phụ nữ bất hạnh khác.

Đến trường hợp nàng Ambapali là một kỹ nữ kiều diễm ăn chơi của kinh thành Vesali mà nhan sắc đã làm cho vua Bimbisara suýt mất mạng, Đức Phật cũng đã cảm hóa được và khiến nàng trở thành một người xuất gia thanh tịnh trong hàng ngũ ni chúng. Sự kiện Phật độ cho nàng Ambapani xuất gia đã chứng tỏ đức bình đẳng và lòng từ bi bao la của Phật, hơn nữa đấy còn là một bằng chứng hùng hồn cụ thể của lời Phật dạy theo đó mọi người đều có Phật tính và đều có thể đắc đạo miễn là họ chịu nỗ lực rèn luyện bản thân Nhưng không phải đoàn thể Ni chúng bây giờ chỉ gồm những phụ nữ muốn thoát ly gánh nặng gia đình và đời sống phục vụ cam go; không phải chỉ gồm những người đau khổ tìm đến niềm an ủi của một đoàn thể, mà còn gồm cả những phụ nữ có khả năng tâm linh cao vượt, muốn thẳng tiến lên con đường của các bậc thánh. Đó là những người như bà Bhaddhà Kundalakesin trước kia là một đồ đệ của Kỳ na giáo, chuyên môn đi khắp xứ để tranh biện với những người uyên bác. Một ngày kia bà gặp Ngài Xá Lợi Phất. Kết quả là Ngài đã trả lời được hết tất cả những vấn nạn của bà và đưa bà đến Đức Phật. Vừa nghe Đức Phật thuyết pháp bà đã đắc quả A la hán và gia nhập đoàn thể Ni chúng. Đây là một trường hợp hiếm thấy nơi phụ nữ, trường hợp đắc quả trước khi xuất gia. Bà lại còn có cái vinh dự được chính Đức Phật thọ ký làm phép nhập đạo với mấy lời đơn giản thường lệ: “Thiện lai, Tỳ kheo ni”. Một vị Trưởng lão ni khác nữa thuộc hạng tâm linh cao cấp là bà Bhaddhà Kàpilàni (TLNK 63) bà này đã xuất gia cùng một lược với chồng là Kassapa, trường hợp rất thường xãy ra vào thời Phật tại thế, khi nhân cách sáng chói của Ngài chiếu thẳng vào mọi tâm hồn và cảm hóa được tất cả, khiến cho người có thể lìa bỏ bất cứ gì thân yêu nhất và xa lìa si mê ái trược. Hai người này đã thỏa thuận cùng nhau xuất gia sống đời lang thang như chính Đức Phật và các đệ tử của Ngài. Họ khởi hành cùng lúc nhưng liền giả biệt nhau để đi đến nơi Đức Phật theo những con đường khác nhau, sợ rằng có người nghĩ họ vẫn còn bị ràng buộc và với ý nghĩ sai quấy đó người kia có thể chịu quả báo. Trong Trưởng lão kệ có ghi rằng mãnh lực của quyết định này nơi hai người bạn ấy đã khiến cho quả đất rung động.

Một phụ nữ khác cũng có năng khiếu tâm linh thực thụ là bà Dhamadinnā, vợ của Visàkha một đệ tử tại gia thuần thành của Phật. Bà xin phép xuất gia theo tiếng gọi của đời sống tâm linh thúc dục. Visakha đã tiễn đưa bà đến một ni viện nhưng không giống trường hợp của Kassapa, ông này không thích chính mình cũng trở thành tu sĩ. Về sau Dhammadinna đắc quả A la hán và trở về thành cũ ở đấy bà đã tranh luận với ông bạn về những vấn đề liên hệ đến Phật pháp. Những cuộc trao đổi ý kiến này được ghi lại trong Kinh Pali tạng nhan đề Cùlavedalla Sutta, Đức Phật đã xem vị sư nữ Dhammadinna là một trong những đệ tử “thuyết Pháp đệ nhất” và ấn chứng cho tất cả những gì bà đã nói. Ngài tuyên bó cho Visakha biết rằng những câu của ông ta nếu đem hỏi Ngài, thì Ngài cũng sẽ đáp y hệt như những điều bà Dhammadinna đã đáp và những lời của bà có thể được xem như những lời của chính Đức Phật và trở thành Phật ngôn mà danh từ Pali gọi là Buddhavacana là những lời đã được Đức Phật xác nhận là đúng với giáo pháp của Ngài. Một trường hợp khác trong đó lời của một vị ni được xem là Buddhavacana khi Phật xác nhận những lời giải thích của vị ni không được kể tên ở Kajangalà, bà này đã giải lời đáp 10 câu hỏi quan trọng.

Riêng về sự ủng hộ Phật pháp bằng cách cung cấp tứ sự cúng dường cho đoàn thể tăng ni và sống một đời tại gia hợp với Chánh pháp, hàng phụ nữ đương thời Đức Phật cũng đóng một vai trò khá quan trọng. Một trong những thí chủ hào phóng thời ấy là Visakhà được Đức Phật chuẩn y cho phép thi hành tám điều công đức: ấy là cúng dường vật thực cho chư tăng khi vào thành Xá Vệ, khi rời thành, cúng dường vật thực cho người bệnh, người nuôi bệnh, thuốc men cơm cháo cho những người cần, y phục cho chư tăng vào mùa mưa và áo tắm cho các vị ni. Một đệ tử tại gia phái nữ khác là Hoàng hậu Mallikà đã có công hướng dẫn chồng bà là vua Pasenadi trở về chánh đạo, hay bà Nakulamàtà đã cứu chồng thoát khỏi tử thần. Những ví dụ tương tự rải rác khắp tạng kinh Pali cho ta thấy phụ nữ đã là những người ủng hộ đắc lực của đoàn thể tăng chúng trong thời Phật tại thế và hộ trì chánh pháp không những bằng sự cúng dường vật thực, bằng lòng kính thành sùng đạo của họ, mà quan trọng nhất là chính họ đã hướng dẫn gia đình họ theo chánh đạo, từ bỏ những thói tục dị đoan và trở thành những đệ tử trung kiên của Phật.

Trong Phật giáo hiện đại cũng thế những công tác xã hội để hàn gắn vết thương của đồng loại trong lúc gặp chiến tranh ách nạn, phần nhiều là do những vị ni và nữ Phật tử nhiều từ tâm xã kỷ. Hàng nữ xuất gia cũng như tại gia hiện tại cũng đóng một vai trò hộ trì không kém phần quan trọng đối với những công trình lớn lao của Giáo hội, thường thường là vai trò xúc tiến những cuộc lạc quyên gây ngân quỹ.

Về phương diện tinh thần, đoàn thể ni chúng là một tấm gương sáng, một niềm khích lệ an ủi cho nhiều phụ nữ bất hạnh trong sinh hoạt gia đình. Những lúc tinh thần căng thẳng rối loạn vì đời sống hôn nhân, họ đến Chùa và được tăng thêm tự tính khi thấy những người con gái đáng đầu con, em họ đang dạn dĩ bước đi một mình trên đường đời, lấy Chân lý làm bạn và lấy chúng sinh đau khổ làm gia đình. Họ bỗng nhận ra rằng một gia đình nhỏ với dăm ba đứa con hóa ra không phải là mục tiêu duy nhất của người phụ nữ, nhiều phụ nữ khác có thể sống trọn vẹn hơn mà không cần đến những thứ phụ tùng phiền toái như họ. Biết bao nhiêu người đàn bà đau khổ đã được cảm hóa khi biết hướng tâm hồn của họ về ánh sáng Phật pháp thay vì quanh quẩn trong bóng tối của một bản ngã nhỏ hẹp với những vấn đề bất tận dàn ra trước mắt mà họ không thể nào tìm ra giải pháp. Nhiều phụ nữ đã thú thật rằng nếu không nhờ Phật giáo thì họ có thể hóa ra điên cuồng hay ít ra cũng thân tàn ma dại. Quả thế, trong thời buổi chiến tranh nhiều tang tóc này, chắc chắn Phật giáo đã cứu vớt biết bao nhiêu phụ nữ, bao nhiêu gia đình nhờ thấm nhuần chánh pháp mà giữ được bình tĩnh trước những tai biến tày tình trút lên đầu họ. Có thể nói trong cuộc chiến này, phụ nữ là thành phần chịu nhiều đau khổ tinh thần hơn cả; họ là những người đã trực tiếp mang lại sự sống, nên cũng chính họ là xót xa nhất trước cái chết của những người con. Nhưng nhờ Phật giáo, có những bà mẹ đáng lẽ héo mòn trong đau khổ, đã tìm thấy con đường của sự phục vụ khi họ tham gia những công tác xã hội Phật giáo để thấy rằng Khổ đế lan khắp mặt mày trái đất chứ không riêng gì trong bản thân họ. Nhận định như thế rồi, cõi lòng sẽ lắng lại và một tình thương lớn bỗng nhiên sinh khởi trong họ, lan dần, tỏa rộng ra đến tất cả mọi người và mọi loài đau khổ, nỗi khổ đau mà họ đã hơn một lần thực chứng.

Để kết luận chúng ta có thể nói rằng Phật giáo đã đem lại một niềm an ủi vô bờ cho những phụ nữ đau khổ, đã mở ra một con đường vinh quang cho những phụ nữ có khả năng giác ngộ. Ngược lại, phụ nữ cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc duy trì bảo vệ chánh Pháp. Dưới ánh sáng tâm linh của Đức Phật, không có vấn đề kỳ thị mà trái lại mọi người, mọi loài đều được biểu lộ đúng chỗ của nó và đều quan trọng, đều cần thiết ngang nhau. Quan niệm bình đẳng giữa nam nữ càng được tỏ rõ trong đại thừa giáo về sau, như trường hợp Long nữ thành Phật trong Kinh Pháp Hoa, hay trường hợp Phật thọ k1y cho các bà Ma ha ba xà ba đề và Da du đà la thành Phật hoặc trường hợp trong Kinh Duy Ma Cật với đoạn ứng đối hào hứng giữa Ngài Xá Lợi Phất và Long nữ. Nhưng quan niệm bình đẳng của Phật giáo phải được đặt căn bản tên tài và đức thì sự bình đẳng ấy mới có ý nghĩa thực thụ chứ không phải là “chính trị”. Nghĩa là chính người phụ nữ phải nỗ lực gột bỏ những thói xấu cố hữu và trao dồi những đức tính, khả năng của họ để tạo nên sự bình đẳng ấy chứ không phải ngồi một chỗ kêu gào người ta đem đến cho họ, vì khi ấy sự bình đẳng nếu có thì cũng chỉ là lý thuyết. Đức Phật dạy rằng chỉ có tự chúng ta làm cho chúng ta thanh cao hay hèn hạ, không ai khác có thể nâng cao hay hạ thấp phẩm giá của ta. Trong vấn đề phụ nữ cũng vậy, khi người đàn bà chấm dứt những tệ đoan của họ, khi họ không tự hạ giá bằng cách biến mình thành một thứ hoa để trang hoàng chỉ để cho vui mắt, khi họ không quá chú trọng bề ngoài mà biết thực sự đề cao, theo đuổi những giá trị tinh thần tâm linh, biết sống vì chân lý, thì họ không có lý do gì để mặc cảm về thân phận mình, lại càng không có lý do gì để kiêu căng, mà chỉ sống như một con người, đơn thuần là một con người và theo Phật giáo, đấy là một địa vị thuận lợi mở ra cho muôn ngàn khả tính để đạt đến Tuyệt đối, Niết bàn.

THÍCH NỮ TRÍ HẢI

[Tạp chí Tư Tưởng, số 3/ 1971]

Xem thêm

thien 2

Thích Nữ Trí Hải (Đường về): Vài khái niệm về Thiền Phật giáo

I. ĐỊNH NGHĨA Có lẽ Thiền Phật giáo dễ định nghĩa bằng lối nhìn phủ …

zen

Thích Nữ Trí Hải (Đường về): Bất ưng trụ sắc sanh tâm

Khi trưởng lão Tu Bồ Đề hỏi Bồ tát làm sao để tâm mình được …

da

Thích Minh Châu: Nói và làm

LỜI BÀN: Đọc xong đoạn kinh này, chúng ta học một bài học thận trọng …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.