vuon lam ty ni

Thích Phước Mỹ: Từng bước đi hạnh phúc

TỪNG BƯỚC ĐI HẠNH PHÚC

(Hoa sen trong bảy bước)

Bảy bước hoa sen là hình ảnh sống động nhất khi Đức Phật ra đời. Điều này, sự thật là như vậy hay nói lên một ý nghĩa gì? Từng bước nở hoa sen, tại sao chỉ có bảy bước thôi? Đây là hình ảnh để nói lên từng bước thành tựu trong tiến trình cuộc đời của Ngài. Và cũng là bài học cho nhân loại muốn hướng về con đường tối thượng, giải thoát khổ đau cho chính bản thân và thân quyến.

Ai sinh ra đời cũng cùng một mục tiêu chính là lo cho bản thân và thân quyến. Nhưng mỗi cái lo có khác nhau, có người lo cái ăn cái ở; có người lo về quyền thế địa vị trong xã hội; có người lo về đạo đức cung cách… chỉ mong sao thoát ra khỏi những nỗi khó khăn trong cuộc sống của một kiếp làm con người với những người thân. Đức Phật cũng như mọi người, mong sao ta và người thân tránh được kiếp nạn sanh lão bệnh tử ngay trong cuộc đời này. Đây là nỗi ưu tư lo lắng khi còn làm thái tử, sau lúc dạo chơi bốn cửa thành. Đây chính là bước ngoặt to lớn nhất trong cuộc đời của Ngài. Để tìm ra đáp số về bước ngoặt ấy, Ngài phải trải qua bảy bước thăng trầm, được gọi là bảy bước nở hoa sen. Vậy chúng ta hãy thử tìm hiểu bảy thứ hoa sen ấy là gì?

Bảy bước hoa sen là gì? Tại sao phải là con số bảy. Con số bảy là con số mà xã hội Ấn Độ thời bấy giờ cho rằng con số may mắn nhất và tốt nhất, là con số của thần linh. Chẳng lẽ, Ngài cũng tin vào sự may mắn sao? Ngài cũng còn có phân biệt tốt xấu mà lựa chọn cho mình hả? Ngài cũng liều nhắm mắt giao phó cuộc đời cho thần linh định đoạt số phận của mình trong từng bước đi hay sao? Chắc hẳn là không, Ngài luôn tin tưởng rằng, mình chính là chỗ dựa tốt nhất. Cho nên, trong Kinh Di Giáo Đức Phật có dạy: “Này Anan, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp, đừng thắp lên với một pháp nào khác. Hãy tự mình nương tựa chính mình, nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa một pháp nào khác.”

Và trong Kinh Pháp Cú cũng nhấn mạnh việc ấy:

“Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Chẳng trở lại sanh già.”

Tuy rằng Ngài không tin vào những thuyết vu vơ ấy, nhưng Ngài cũng tùy thuận chúng sanh để diễn đạt chánh pháp. Có thể Ngài tuyên bố rằng: Ngài chỉ cần đi bảy bước thôi cũng đủ để tìm ra được chánh pháp hay là con đường ra khỏi bến sanh tử luân hồi, chấm dứt mọi khổ đau. Trong mỗi bước đi của Ngài cũng đều mang đến hạnh phúc cho Ngài và những người chung quanh. Hạnh phúc ấy chính là đóa sen tươi thắm nở đón chân Ngài. Ngài đi là sen nở, cho nên có nhiều chỗ cho rằng bước đi của Ngài không dính bụi trần, tâm của Ngài thường hằng thanh tịnh… Đến bước thứ bảy Ngài mới trụ lại tuyên bố “Duy Ngã Độc Tôn” nghĩa “Ta là tối tôn, là tối thắng.” Sau bước thứ bảy lúc ấy Ngài đã thành Phật, là người duy nhất trên cõi đời này ra khỏi bến sanh tử, chứng quả cao nhất là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Còn sáu bước trước chưa phải là Độc Tôn. Huống gì lúc mới chào đời lại càng không phải. Đó chỉ là dấu hiệu của lộ trình Ngài sẽ đi và hướng về. Đến lúc Ngài đã Thành đạo dưới cội Bồ Đề rồi, chúng ta mới nhìn thấy được lộ trình đúng như vậy.

Bây giờ, chúng ta hãy quay ngược lại tìm hiểu những điểm then chốt của lộ trình từng bước nở hoa sen ấy là gì?

TỪNG BƯỚC NỞ HOA SEN chính là bảy bước được trọn vẹn hạnh phúc, cũng là bảy thứ hạnh phúc sung mãn mà Ngài đã được thụ hưởng một cách trọn vẹn. Trong cuộc đời này không một chúng sanh nào mà không muốn tìm cho mình có được hạnh phúc. Mỗi khi mở mắt thức dậy là chạy đi tìm cái gọi là hạnh phúc. Thái tử Sĩ Đạt Ta cũng không ngoại lệ, Ngài đã có được bảy thứ đỉnh điểm của hạnh phúc được gọi là “bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc”. Rồi Ngài từng bước trải nghiệm, không chịu dừng lại bất cứ hạnh phúc nào mà chưa tìm ra đáp số hay lối ra khỏi bến sanh tử, để đi đến Niết Bàn. Niết Bàn là hạnh phúc cuối cùng, Ngài mới dừng lại. Đây được gọi là cuộc đi tìm hạnh phúc.

ĐÓA HOA SEN THỨ NHẤT, là hạnh phúc đầu tiên khi mới chào đời, gọi là hạnh phúc tình phụ mẫu. Ngài đã có cha là phụ hoàng, gọi là Đức Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) thuộc quý tộc Sakya (Thích Ca), vua của một nước. Có mẹ là mẫu hậu, gọi là Hoàng Hậu Maha Maya (Ma Da). Và có thêm di mẫu Maha Pajapati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề) dưỡng nuôi Ngài. Cả ba vị đều có đầy đủ đức độ nhân từ, thương yêu và lo lắng cho Ngài, là mái ấm, là tàng cây che chở cho Ngài. Nhất là Đức vua rất lo lắng và mong sau này Ngài sẽ thừa kế vương vị, nên tình thương và sự chăm sóc rất đặc biệt dành cho Ngài. Mời những bậc thầy ưu tú trong nước về hoàng cung dạy cho thái tử , mong sao con mình sau này thành bậc tài đức giúp cho vương triều và đất nước cường thịnh. Còn mời tiên nhơn về xem tướng thái tử, muốn biết hậu vận của con mình ra sao… Còn di mẫu, thương yêu thái tử như con đẻ, ngày ngày thường chăm non và nhắc nhở chư hầu từng việc nhỏ. Ngài được lớn lên trong vòng tay ấm áp của phụ vương và dì mẫu. Đây là nguồn hạnh phúc mà Ngài có được là do phước báo tiền kiếp. Kinh Bản Sinh (Jataka) ghi về nhân duyên làm dưỡng mẫu Phật của bà như sau: “Cách đây 100.000 đại kiếp Trái Đất, đã có Phật Padumuttara truyền đạo trên thế gian. Có một công chúa đã cúng dường Phật với lòng chí thành, một hôm khi đang nghe Phật Liên Hoa thuyết pháp, công chúa nhận thấy có một Tỳ kheo ni thật đáng tôn quý, đứng đầu hội chúng Tỳ kheo ni, và là người nữ đệ tử đạt giác ngộ sớm nhất. Bà liền lập nguyện rằng, trong tương lai, do công đức tu tập, bà sẽ được như vị Tỳ kheo ni ấy. Lời nguyện của bà đã được Đức Phật Padumuttara ấn chứng là sẽ thành tựu trong thời kỳ của Đức Phật Sakya (Thích-ca). Công chúa đó chính là tiền kiếp của bà Gotamī”. (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Đây được gọi là hạnh phúc phụ mẫu hay còn gọi là HOA SEN SANH DƯỠNG nâng bước chân đầu tiên của Ngài. Ngài không chịu dừng lại nơi đây mà đi tiếp bước thứ hai.

ĐÓA HOA SEN THỨ HAI là hạnh phúc trên cương vị Thái Tử. Cương vị này Ngài không phải khổ công đấu tranh như bao Thái tử khác của các nước khác. Khi sanh ra vua cha đã đặt tên là Siddhattha (Sĩ Đạt Đa) nghĩa là người được toại nguyện. Toại nguyện ở đây là toại nguyện theo ý của cha, mong con lớn lên tiếp nhận vương vị hầu đem lại cho thần dân trong nước được an cư lạc nghiệp. Ngài có người em trai cùng cha khác mẹ tên là Nanda, người em cũng không có ý tranh quyền đoạt lợi và ngược lại rất quý kính thái tử (về sau, Nanda cũng xuất gia, làm đệ tử của Phật). Tuy Ngài được đặt lên ngôi vị thái tử, nhưng chưa hề tha thiết hay nghĩ ngợi về ngôi vị này. Bởi lẽ, lúc lên 6 tuổi Ngài được vua cha dẫn đi dự lễ hạ điền, đương lúc mọi người vui vẻ sẽ có vụ mùa mới, từ việc tăng gia sản xuất và người cày có ruộng của ngày hôm nay; còn thái tử tuy nhỏ tuổi đã có cái nhìn khác thường là thương cảm cho chúng sanh: con người phải vất vả lao lực mới có cái ăn để mà vui vẻ, trong khi những con trùng bị phơi mình tìm chỗ trốn núp để thoát thân, loài chim tranh giành nhau từng miếng mồi… thật là bao cảnh tượng hãi hùng diễn bày ra trước mắt thái tử. Nên Ngài lánh đi nơi khác tìm chỗ thanh vắng và có bóng râm tọa thiền dưới gốc cây mà khởi từ bi tâm cùng an trú trong cảnh sơ thiền ngay lúc ấy. Với cái nhìn thấu vào cuộc đời như vậy và cọng thêm sự chứng đắc quả sơ thiền, thì ngôi vị thái tử có nghĩa là gì. Nhưng đối với người đời ngôi vị thái tử chính là sự nghiệp cao nhất trong cuộc đời của họ nếu như có được. Đây là nguồn hạnh phúc mà Ngài có được là do tình thương cha mẹ đặt để và phước báo hành bồ tát đạo của bồ tát Hộ Minh. Cho nên thái tử tuổi còn trẻ đã có được sự hạnh phúc về sự nghiệp (ngôi vị Thái tử) còn gọi là HOA SEN QUYỀN VỊ nâng bước chân thứ hai của Ngài. Ngài không chịu dừng lại nơi đây mà đi tiếp bước thứ ba.

ĐÓA HOA SEN THỨ BA là hạnh phuc hưởng thụ về phước báo vật chất rất sung mãn. Khi Ngài chào đời đã có xiêm y do chư thiên cúng dường. Kinh Phật Bản Hạnh: “Bồ-tát khi từ thai Thánh mẫu xuất sinh, khi ấy trời Đế Thích là người đầu tiên dùng chiếc Thiên y Kiều-thi-ca mềm mại, bao phủ hai bàn tay để nâng đỡ thân Bồ-tát sơ sinh.” Trong vườn lâm Tỳ Ni muôn hoa đua nở khoe sắc tỏa hương đón mừng, thế giới của muôn vật cũng đều muốn đến với Ngài. Rồi Ngài được lớn lên trong hoàng cung, nhung gấm lụa là, phi tần mỹ nữ, kẻ hầu người hạ. Thức ăn phong phú hương vị hảo hạng của hoàng cung, chén ngọc đũa ngà. Chỗ ở, phụ vương cho xây ba tòa nhà dành cho thái tử ở: tòa nhà cho mùa nóng, tòa nhà cho mùa lạnh, tòa nhà cho mùa mưa. Không muốn cho thái tử đi ra bên ngoài thành, nên phụ hoàng cho xây hồ sen để thái tử có chỗ dạo chơi giải trí. Trong kinh Tăng Nhất A Hàm (Anguttara Nikàya, phần 1, trg 145) có ghi lời Ngài kể cho đệ tử nghe như sau: “Đời sống của ta thật là tế nhị, vô cùng tinh vi. Trong hoàng cung, chỗ ta ở, phụ hoàng có đào ao, xây những đầm sen. Khi sen xanh đua nhau khoe màu ở đây thì sen đỏ vươn mình phô sắc phía bên kia, và trong đầm bên cạnh, sen trắng đua nhau tranh đẹp dưới ánh nắng ban mai. Trầm hương của ta dùng đều là loại thượng hảo hạng từ xứ Kasi đưa về. Khăn và áo của ta cũng may toàn bằng hàng lụa bậc nhất từ xứ Kasi chở đến. Ngày cũng như đêm, mỗi khi ta bước chân ra khỏi cung điện là có tàng lọng che sương đỡ nắng.” Phước báo vật chất mà Ngài được hưởng thụ là do tình thương của phụ hoàng và dì mẫu muốn giữ chân thái tử không muốn Ngài xuất gia. Đồng thời, phước báo này cũng nhờ Ngài trong tiền kiếp tu tập mà có được. Hưởng thụ vật chất đầy đủ cũng được xem là hạnh phúc hưởng thụ (tài sản) hay gọi là HOA SEN TÀI LỘC. Ngài không chịu dừng lại nơi đây mà đi tiếp bước thứ tư.

ĐÓA HOA SEN THỨ TƯ. Vợ, con là hạnh phúc mái ấm gia đình. Cha mẹ giữ chân con không bằng vợ giữ chồng, sợi dây cột chặt nhất là sợi dây tình ái, tuy lỏng mà chặt, tuy mềm nhưng khó đứt. Do ý này, phụ hoàng cho triệu tập các cung phi mỹ nữ từ các nơi quy tụ về hoàng cung để thái tử tự chọn. Theo ý cha, Ngài đã tự chọn nàng công chúa Da Du Đà La và nàng cũng rất thích thái tử khi còn nhỏ lần đầu gặp nhau, bây giờ được thái tử chọn lại càng vui sướng vô cùng. Nhưng cha của nàng là vua Thiện Giác lại yêu cầu phải qua cuộc tuyển chọn tài năng. Thái tử bằng lòng cùng nhiều chàng trai thi thố: đấu võ, bắn cung và phi ngựa… Cuối cùng Ngài đã chiến thắng và cưới Da Du làm vợ. Cặp vợ chồng thái tử, đúng như câu ”trai tài gái sắc”. Da Du Đà La là nàng công chúa dịu dàng thục nữ, thương yêu và luôn ủng hộ chồng trên mọi phương diện. Khi Ngài có vợ, phụ hoàng bớt cột chân Ngài, nên mới có chiến đi du ngoạn bốn cửa thành và nhìn thấy cảnh tượng khổ đau của cuộc đời là: người già, kẽ bệnh, tử thi và vị tu hành. Ngài hỏi ra mới biết được không một ai thoát khỏi bốn tướng: “sanh lão bệnh tử”. Như vậy bốn thứ hạnh phúc ta có được cũng chỉ là không thực, để rồi sẽ bị bốn tướng sanh lão bệnh tử nuốt chửng. Nỗi ưu tư ấy, Ngài quyết định xin phép phụ hoàng được đi xuất gia, nhằm đi tìm hạnh phúc cao hơn. Phụ hoàng không đồng ý vì vương vị không có người thừa kế. Ngài quyết định có con. Con Ngài vừa ra đời, niềm hạnh phúc của một gia đình trẻ đang nồng ấm tràn đầy sức sống. Với người thường, sự hạnh phúc trào dâng khi được làm cha và sự hạnh phúc nồng thắm với người vợ hiền đầy thương yêu đã sanh cho mình một đứa con dễ thương dễ mến. Hai thứ hạnh phúc ấy quyện chặt vào con tim của người làm cha, làm chồng tạo nên một sức ấm áp mãnh liệt vô song. Thế nhưng, với Ngài lại khác, sự hạnh phúc đứa con vừa chào Ngài xin trao lại cho phụ hoàng để có người thừa kế vương vị, còn Ngài âm thầm nhẹ nhàng ra đi trong đêm khuya với Sa Nặc và con ngựa Kiền Trắc, tiếp tục đi tìm thứ hạnh phúc nào giải đáp được đáp số của bài toán cho cuộc sống nhân loại và chúng sanh. Như vậy hạnh phúc vợ con này là do Ngài thi thố tài năng và nhân duyên tiền kiếp. Theo trong Kinh Bản Sinh, “cách đây 4 A tăng kỳ và 100.000 kiếp Trái Đất, tiền thân của Tất-đạt-đa là tu sĩ Sumedha (Thiện Huệ). Khi đó có đức Phật tại thế là Dīpankara (Phật Nhiên Đăng). Sumedha nhìn thấy Phật Dīpankara tận mắt, liền phát nguyện sẽ cố gắng tu học cho đến khi được hoàn toàn giác ngộ như Phật. Sau đó, Sumedha còn nằm sát đất, lấy thân mình để giúp Phật bước qua vũng lầy. Sumedha xin được 5 bông hoa sen của 1 cô gái tên là Sumita, chàng chí thành tung năm hoa sen của mình lên không trung để cúng dường Phật. Sumita cũng trao cho chàng 2 bông hoa sen nhờ dâng cúng dùm, với tâm nguyện rằng đời đời kiếp kiếp luân hồi về sau sẽ luôn là vợ của Sumedha, trợ giúp chàng trong muôn kiếp luân hồi cho tới khi chàng thành Phật. Đức Phật Dīpankara quán xét tương lai rồi hoan hỉ thọ ký rằng 2 người sẽ đạt tâm nguyện: sau 4 A tăng kỳ và 100.000 đại kiếp Trái Đất nữa, Sumedha sẽ thành Phật hiệu là Sākyamuni (Thích-ca Mâu-ni) trong đời Hiền kiếp (Bhadra kalpa), còn cô gái Sumita sẽ thường xuyên là vợ của chàng trong các kiếp luân hồi, cho tới khi chàng thành Phật. Tu sĩ Sumedha thời xa xưa đó chính là tiền kiếp của thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha), còn cô gái Sumita chính là tiền kiếp của công chúa Da Du Đà La (Yaśodharā)” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Chính nhân duyên tiền kiếp này, công chúa luôn ủng hộ thái tử ra đi và bước đi bước thứ năm. Tình vợ con và Thái tử Tất Đạt Đa là một gia đình tràn đầy sức sống và hạnh phúc, được gọi là HOA SEN GIA ĐÌNH. Ngài cũng không chịu dừng lại nơi đây mà đi tiếp bước thứ năm.

Đây là một bước ngoặc lớn trong cuộc đời của Ngài: được gọi là “xuất gia” hay nói chính xác hơn là “XUẤT THẾ TỤC GIA.” Là cách buông bỏ vĩ đại của một người đã thành tựu hạnh phúc gia đình hoàn mỹ, bao gồm bốn bước đầu tiên là: cha mẹ, tài sản, sự nghiệp và vợ con. Hầu hết chúng sanh nói chung, con người nói riêng đều bị bốn sợi dây này cột chặt và làm mê mờ. Tuy rằng sự hạnh phúc của họ rất mong manh và chao đảo, họ vẫn cứ bám chặt không dám buông tay. Hạnh phúc như vậy họ đã cảm thấy mãn nguyện lắm rồi. Nhưng họ không thấy được cái hạnh phúc tối thượng bất sanh bất diệt. Và họ cũng không tỉnh thức khi nhìn thấy bốn tướng sanh lão bệnh tử mà không biết được sự khổ đau này đều bắt nguồn từ sự hạnh phúc mà họ đang có và đang hưởng thụ. Thái tử cũng đang trên đường đi tìm hạnh phúc và tỉnh thức nhận thấy rằng bốn bước hạnh phúc đầu tiên, dẫn đến kết quả của nó chính là bốn tướng sanh lão bệnh tử. Cho nên Ngài đã buông bỏ một cách dễ dàng mà không bị bốn bức tường của mê cung ràng buộc. Lúc ấy, Ngài còn đặt vấn đề với phụ vương rằng:

“Làm sao cho con trẻ mãi không già.
Làm sao cho con khỏe mãi không bệnh
Làm sao cho con sống hoài không chết
Làm sao cho mọi người hết khổ đau”.

Phụ vương của Ngài, được xem là người ban tặng cho Ngài bốn bước hạnh phúc đầu tiên, thế nhưng phụ vương khi nghe Ngài hỏi cũng đành im lặng không giải đáp được. Do vậy, Ngài mới biết được hạnh phúc gia đình dù có đạt đến đỉnh cao bao nhiêu cũng không giải quyết vấn đề ấy cho chính mình, cho người thân và cho chúng sanh. Nên Ngài quyết định buông bỏ hạnh phúc tầm thường ấy (xuất gia) để tìm hạnh phúc cao thượng hơn. Buông bỏ hạnh phúc người đời và đi tìm hạnh phúc người tu.

ĐÓA HOA SEN THỨ NĂM, là tầm sư học đạo. Đây là hạnh phúc bước đầu tiên của người mới xuất gia vào đạo. Bỏ tình đời đi tìm tình đạo, cầu thầy học đạo, kết cùng các huynh đệ dìu dắt và nương tựa lẫn nhau, làm chỗ dựa vững chắc trong bước đầu, về tinh thần có thầy, lẫn thể xác có bạn đồng tu. Do ý nghĩa này thái tử đầu tiên cũng cầu A La La (Alarama Kalama) làm thầy và có nhiều bạn đồng tu. Thật là tràn đầy hạnh phúc trong tình đạo vị của thầy trò cùng nhau tu tập. Cũng giống như được xem mới vừa sanh ra đời cần phải có cha mẹ và anh chị em dìu dắt trong bước chập chững ban đầu. Trong bước chập chững này Tất Đạt Đa không bao lâu đã thuần thục từ sự dẫn dắt của sư phụ và Ngài đạt được sự chứng đắc cảnh giới Vô Sở Hữu Xứ Thiên ngang bằng cùng với sư phụ. Cuối cùng, sư phụ cũng xác nhận rằng: “Hỡi này Đạo Hữu, tôi rất lấy làm hoan hỷ. Thật vậy, tôi thật vô cùng hoan hỷ được gặp một người đồng tu đáng kính như Đạo Hữu. Giáo lý mà tôi đã chứng ngộ bằng tuệ giác và đã tuyên bố thành đạt. Đạo Hữu cũng chứng ngộ bằng tuệ giác và ẩn náu trong sự thành đạt ấy. Giáo lý mà Đạo Hữu chứng ngộ bằng tuệ giác và ẩn náu trong sự thành đạt ấy, chính tôi cũng đã chứng ngộ bằng tuệ giác và đã tuyên bố thành đạt. Như vậy, giáo lý mà tôi đã biết, Đạo Hữu cũng biết. Và giáo lý mà Đạo Hữu biết, tôi cũng đã biết. Tôi như thế nào thì Đạo Hữu cũng như thế ấy. Vậy, hãy đến đây, Đạo Hữu, chúng ta hãy cùng nhau hợp sức dẫn dắt nhóm đạo sĩ này.” (Đức Phật và Phật Pháp). Lúc này Ngài đã có thêm sự hạnh phúc chứng đắc cảnh giới Vô Sở Hữu Xứ Thiên, đồng thời được vị thầy mời ở lại để cùng dẫn dắt đồ chúng. Thành quả của sự hạnh phúc này không giải quyết được vấn đề sanh tử, nên Ngài xin phép thầy để tìm cầu vị cao hơn và được vị thầy của mình giới thiệu đến vị thầy thứ hai.

Khi đến nương tựa vị thầy thứ hai, là Uất Đầu Lam Phất (Uddaka Ramaputta). Không bao lâu, vị đệ tử thông minh xuất chúng Tất Đạt Đa đã thấu triệt giáo lý của thầy và chứng đắc cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, là cảnh giới hoàn toàn không còn tưởng và phi tưởng, đạt được sự siêu tuyệt của Vô Sắc. Chứng đắc ngang bằng với vị thầy và cũng được thầy tuyên bố rằng: “Hỡi này Đạo Hữu, tôi lấy làm hoan hỷ. Thật vậy, tôi vô cùng hoan hỷ được gặp một người bạn đồng tu tài đức đáng tôn kính như Đạo Hữu. Giáo lý mà Rama đã hiểu biết, Đạo Hữu cũng hiểu. Giáo lý mà Đạo Hữu hiểu, Rama cũng đã hiểu biết. Rama đã như thế nào thì hôm nay Đạo Hữu cũng như thế ấy. Ngày nay Đạo Hữu như thế nào thì Rama đã như thế ấy. Vậy, hỡi này Đạo Hữu, hãy ở lại đây, Đạo Hữu sẽ dẫn dắt nhóm đạo sĩ này”. (Đức Phật và Phật Pháp). Sự hạnh phúc thành đạt kết quả này cao hơn lần trước, ở nơi vị thầy thứ hai. Nhưng Ngài xét thấy cũng không giải quyết được vấn đề sanh tử. Ngài hỏi ra không còn vị thầy nào cao hơn nữa. Đây là đỉnh cao trong cuộc tầm sư học đạo. Như vậy tình đời, tình đạo đã trải qua cũng chưa tìm ra đáp số. Bây giờ Ngài thử tìm nơi tình thiên nhiên, nương tựa vào núi rừng cỏ cây. Nên Ngài xin phép thầy ra đi, để tìm hạnh phúc kế tiếp. Như vậy, sự hạnh phúc thứ năm Ngài đã thành đạt được sung mãn là do tinh tấn cần cầu tu học theo lời chỉ dạy của hai bậc thầy. Như vậy sự hạnh phúc của tình thầy trò, được gọi là HOA SEN ĐẠO VỊ.

ĐÓA HOA SEN THỨ SÁU, đây là phương pháp lấy độc trị độc. Khổ hạnh cũng là thứ hạnh phúc mà Ngài muốn chọn để trải nghiệm qua, tận cùng của khổ hạnh là gì! Cũng như trái khổ qua, da sần sì, vị lại đắng nhưng có tác dụng trị bệnh và giải nhiệt rất tốt hay sao. Lần này, không có thầy hướng dẫn, chỉ có 5 người bạn đồng tu cùng đi theo lối sống khổ hạnh như Ngài, nhưng lối sống khổ hạnh của họ không đi sâu vào ép xác như Ngài; còn Ngài lại quá quyết tâm mong tìm ra chân trời hạnh phúc càng sớm càng tốt. Thân của Ngài sống nương tựa với núi rừng, không ăn, không uống và dần dần không thở mà vẫn duy trì được cuộc sống trong thời gian khá dài, cho đến lúc thể xác của Ngài không còn khả năng chịu đựng được nữa. Tuy quyết tâm còn đó, nhưng thể xác đã cạn kiệt, nên Ngài không còn ngồi được và ngã quỵ xuống đất. Sau đó, cô bé chăn cừu Tu Xà Đa (Sujata) cầm bát sữa rót vào miệng Ngài, giọt sữa thấm vào cơ thể Ngài làm chuyển động khắp cơ thể khô gầy, như cây khô héo được tưới nước vào dần dần tươi tỉnh lại. Ngài mở mắt ra, như tỉnh ngộ điều gì. Ngay lúc đó cô bé vô tư nói rằng:

“Khi Ngài mới đến đây rất tươi tốt, sao bây giờ lại như thế này?

Ngài đáp: — Vì ta muốn tìm đường giải thoát.

– Ôi Thần Linh ơi! Muốn giải thoát mà không ăn uống nữa sao! Thân thể như thế này, còn nói gì đến giải thoát, Ngài đói sắp chết rồi đây mà.”

Ngay lúc này, Ngài hồi tưởng lại khi còn thơ ấu, vào một buổi lễ Hạ Điền kia, Ngài đã tham thiền, nhập định và đắc Sơ Thiền.

Quả đúng, câu nói vô tư của cô bé ấy, như lời vị thầy truyền đạt và khai ngộ cho Ngài; như lời thức tỉnh trong lúc giao thoa giữa sáng và tối, giữa đói và ăn. Làm cho Ngài nhận ra được rằng, những thứ hạnh phúc mà Ngài đã trải qua chỉ là hạnh phúc đối với khổ đau, như sáng đối với tối không thể tách rời ra được, làm gì có giải thoát được ư! Như vậy, cần phải tìm ra thứ hạnh phúc ngoài sáng và tối, hay nằm ở giữa hạnh phúc với khổ đau. Đó mới là hạnh phúc thật sự và giải thoát sanh tử luân hồi vậy.

Hạnh phúc thứ sáu là vị đắng, Ngài đã đạt đến đỉnh cao của con đường hạnh phúc này là do sự quyết tâm mong cầu giải thoát và hạ thủ công phu của Ngài mà có, nhưng kết qủa cũng không thành tựu , và được gọi là HOA SEN CHẾ NGỰ.

Cô bé đánh thức Ngài là cô bé bình thường thật sự hay là bậc thánh nhân nào thị hiện khai ngộ cho Ngài. Lần này, Ngài phải xuất gia một lần nữa, là “XUẤT PHIỀN NÃO GIA”. Một lần nữa Ngài phải buông bỏ lối sống khổ hạnh, để bước đến bước thứ bảy, như lời cô bé đã đánh thức. Sau này Ngài có nói với cô bé rằng: “Con chính là vị thầy cuối cùng của ta.”

ĐÓA HOA SEN THỨ BẢY, Ngài thọ thực trở lại, lần này có đủ sức khoẻ và minh mẫn nên chọn con đường trung đạo hướng đến mục tiêu giải thoát. Năm người bạn đồng tu, nhìn thấy Ngài thọ thực, nên bỏ đi nơi khác tu. Rồi Ngài xuống dòng sông Ni Liên Thiền tắm gội sạch sẽ như thể buông tất cả những thứ hạnh phúc trước đây mà Ngài đã đi qua. Việc phải trái, đúng sai sẽ không còn đeo bám nữa, dọn cho sạch tất cả giúp tâm hoàn toàn thanh tịnh. Sự thanh tịnh và tĩnh lặng của tâm chính là chất liệu hạnh phúc trên con đường trung đạo và Ngài tin tưởng con đường này sẽ dẫn Ngài đi vào chân trời mới của hạnh phúc vĩ đại. Trong lúc tắm, Ngài có thả bình bát xuống dòng sông và nói rằng: “Nếu ta chọn con đường này đúng và giúp ta sớm thành chánh giác, thì bình bát sẽ trôi ngược dòng sông.” Quả đúng như lời Ngài đã nói bình bát trôi ngược dòng sông. Rồi Ngài rời khỏi dòng sông, đi tìm chỗ ngồi thích hợp về hướng mặt trời mọc, thì Ngài gặp cậu bé tên Sa Ti Ca (Svastika) là chăn bò, đang ôm bó cỏ kusa định cho bò ăn, em gặp Ngài và lại muốn trải chỗ cho Ngài ngồi tu thiền định. Ngài hoan hỷ đón nhận. Thỉnh thoảng em lại cúng dường cỏ mới làm tọa cụ cho Ngài ngồi, còn cô bé mỗi ngày nguyện đem cơm cúng dường Ngài. Như vậy Ngài quyết tâm hạ thủ công phu để khỏi phụ lòng các em quý kính Ngài, nên Ngài thốt ra lời trước tọa cụ và cội Bồ Đề rằng: “Ta không sợ lửa dữ thiêu đốt, ta không sợ sức cùng lực kiệt, ta cũng không sợ thịt nát xương tan. Nếu trong 49 ngày nữa mà ta không thành chánh giác thì dù thân thành tro bụi ta thề không rời khỏi gốc cây và chỗ ngồi này.”

Bây giờ Ngài bắt đầu đi vào cuộc chiến với quyết tâm chiến thắng, lần này thân thể của Ngài có đủ năng lực và minh mẫn đều nhờ vào sự thọ thực. Đối thủ của cuộc chiến là chiến thắng chính mình, tiêu diệt ác ma đã và đang chiếm nơi căn cứ địa trong tâm mình. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:

“103. Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.”

Phương pháp chiến đấu mà Đức Phật đã vẽ trong Kinh Nhứt Dạ Hiền Giả như sau:

“Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.”

Với phương pháp tuệ quán làm cho mọi thứ đều lắng đọng xuống, trở lại trạng thái nguyên thủy của nước trong suốt và thanh khiết. Ngày cuối cùng, vào đêm canh đầu Ngài vận dụng tuệ quán đạt được tuệ tri và chứng đắc Túc Mạng Minh, hồi nhớ về tiền kiếp. Đến canh giữa, Ngài đạt được tuệ nhãn và chứng đắc Thiên Nhãn Minh, thấy chúng sanh chết từ kiếp này tái sanh vào một kiếp sống khác. Rồi vào canh cuối, Ngài đạt được tuệ giác và chứng đắc Lậu Tận Minh, tâm Ngài giải thoát ra khỏi dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), hữu lậu (ô nhiễm của sự luyến ái đời sống) và vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh). Cuối cùng Ngài cũng phải xuất gia lần sau chót là XUẤT TAM GIỚI GIA.

Mặt trời vừa ló dạng, Ngài tuyên bố: ‘Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Như vậy chân trời hạnh phúc thật sự chính là DUY NGÃ ĐỘC TÔN (Phật tánh) đã mở và quả Niết Bàn đã hiển lộ.

Tóm lại, bảy đóa hoa sen chính là bảy thứ hạnh phúc đầy sung mãn mà Ngài có được trong kiếp sống này, đang cột trói và siết chặt lấy Ngài. Ngài có đủ nghị lực phi thường sáu lần “buông bỏ” và ba lần” xuất gia”. Cuối cùng Ngài mới có được hạnh phúc Niết Bàn và giải được bài toán sanh tử luân hồi.

Chúng ta có quá nhiều hạnh phúc đang hiện hữu chung quanh ta vì vô minh tham lam mà không thấy, nên cứ mãi tìm thêm, càng bị cột trói và cột trói thêm nhiều, không chịu buông bỏ. Chúng ta như em bé trong tay cầm chặt cây kẹo, ai xin cũng không chịu cho. Chúng ta hãy học hạnh của Đức Phật, qua sáu lần buông bỏ và ba lần xuất gia mới đạt được chân trời hạnh phúc.

Xin mượn lời sau đây để kết thúc bài này: Thiền sư Ajahn Chah từng chia sẻ hạnh buông bỏ trong một bài giảng rằng: “Người nào buông bỏ ít, bình an ít, buông bỏ nhiều, bình an nhiều, buông bỏ hoàn toàn, bình an hoàn toàn.”

Kính chúc quý vị vô lượng an lành và hạnh phúc trong pháp buông bỏ mầu nhiệm.

Thích Phước Mỹ

[trích Nguyệt san Chánh Pháp số 114, năm 2021]

Xem thêm

tam phat

Tiểu Lục Thần Phong: Lễ trăng tròn tháng tư

Theo lệ thường thì Elite Nguyen thức giấc lúc bảy giờ sáng vào mỗi cuối …

ram thang tu

Đồng Thiện: Rằm tháng tư

RẰM THÁNG TƯ Sáng tháng tư trời xanh muôn vạn lý Mừng ngày sanh của …

phat dan 2 1

Thích Thiện Hạnh: Thư ngỏ mùa Phật đản

Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật Kính bạch chư Tôn đức, Kính …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.