27624608 2057599954485773 5082795130161689637 o

Viên Linh (18.12.12): Bằng hữu cuối trời: Nhà thơ, Thiền gia Tuệ Sỹ

Trong hơn một tuần nữa, năm cũ qua đi, người cũ còn những ai? Mấy ngày nay, trời đất thủ đô Sài Gòn hải ngoại ở miền Nam California âm u, mưa gió nhè nhẹ, nắng rất vội vàng, khi có khi không, sự đổi thay nhắc nhở kẻ xa nhà những nỗi niềm quạnh quẽ tự muôn phương, mà trong lòng hắn, sự quạnh quẽ xem ra hiu hắt vô cùng, ở đó bóng dáng mảnh mai của người hành giả có chân dung cao khiết của “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” nổi lên rõ ràng hơn hết thảy.

159293 vhnt 121219 tuesy 1 400Tuệ Sỹ ở Vạn Hạnh năm xưa và qua nét vẽ của Viên Linh.
(Hình: Tài liệu Viên Linh)

Chân dung ấy càng nổi lên từ 5 năm nay, 5 năm Tuệ Sỹ im lặng, 5 năm từ tháng 7, 2007, năm Tuệ Sỹ cho phát hành cuốn “Huyền Thoại Duy Ma Cật” ở Quận Cam và ở Houston.

Tại sao Duy Ma Cật? Duy Ma Cật là phiên âm của chữ Phạn Vimalakirti, tên một vị trưởng giả tại thành Vaisali, thời Phật Thích Ca còn tại thế. Ông tu tại gia, mà theo Hòa Thượng Thích Minh Châu, thì “trình độ tinh thông Phật pháp, giác ngộ chứng đạo” của ông sánh kịp các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền[1]Thích Minh Châu, Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, tr.172.. Một dịch giả đời nhà Tùy tên là Trí Khải dịch nghĩa là Tịnh Danh, còn Trạm Nhiên đời Ðường dịch Kinh Duy Ma Cật là Tịnh Danh Huyền Sớ. Có kẻ muốn gọi Tuệ Sỹ là Tịnh Danh Tuệ Sỹ. Nhưng không đủ kiến thức Phật học để nói về vị hòa thượng đã 5 năm qua im lặng, bài này chỉ xin nói về thơ của ông mà thôi.

Nói về Thiền sư Tuệ Sỹ, nguyên khoa trưởng Phật học Viện Ðại Học Vạn Hạnh, đã có nhiều bậc tiền bối nói đầy đủ rồi. Học giả Ðào Duy Anh nhận xét: “Thầy là viên ngọc quí của Phật giáo và của Việt Nam.”[2]Theo Nguyễn Duy Cần trong Công Lý Ðòi Hỏi, Văn Nghệ, 1997. Hòa Thượng Mãn Giác thì nói: “Tuệ Sỹ đã tu từ ngàn kiếp trước,…”[3]Theo một bài của Quảng Ðức thuật lại in trên Khởi Hành số 31. Hòa Thượng Ðức Nhuận viết về Tuệ Sỹ: “…học vấn uyên thâm, phẩm tiết sắc son…”[4]Hòa Thượng Ðức Nhuận nguyên là Giám viện Hưng Quốc Tự ở Sài Gòn, viết trong Lời giới thiệu một cuốn sách của Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu. Còn về thơ của Tuệ Sỹ, thì nói đến vô chừng cũng không hết, đó là một nguồn thơ mênh mông, rót xuống tự Trời, chữ thì bàng bạc thanh khí mà nghĩa thì đằm thắm lưu luyến nhân sinh.

Một trong những bài thơ đầu tiên của Tuệ Sỹ:

Một con én một đoạn đường lây lất
Một đêm dài nghe thác đổ trên cao
Ta bước vội qua dòng sông biền biệt
Ðợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao.
Bóng ma gọi tên người mỗi sáng
Từng ngày qua từng tiếng vu vơ
Mưa xanh lên tóc huyền sương nặng
Trong giấc mơ lá dạt xa bờ.
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng
Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa
Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng
Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa?

Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng
Người mãi đi như nước chảy xa nguồn
Bờ bến lạ chút tự tình với bóng
Mây lạc loài ơi tóc cũ ngàn năm.
(Tu S, Mùa Mưa Cao Nguyên, Khi Hành 108, 6.1971)

Thơ tám chữ thời Tiền Chiến thường là thơ hùng, thể loại đối thoại với ngôn ngữ nói (kịch thơ chẳng hạn), như Thế Lữ với Nhớ Rừng (Lời con hổ ở vườn Bách Thú: Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt, Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua…) – như Ðinh Hùng với Kỳ Nữ (Ta thượng có từng buổi sầu ghê gớm, Ở bên Em – ôi biển sắc, rừng hương…), nhưng tới Tuệ Sỹ, tám chữ trở thành êm đềm, hơn thế nữa, ngay cả với những câu 9 chữ xen vào 8 chữ, Tuệ Sỹ không nói, không dùng văn đối thoại của ngôn ngữ nói, mà là mô tả, với hình tượng và màu sắc nhẹ nhàng, tạo cho bài thơ một tiết điệu riêng như bài thơ ở trên, đăng ngay trên bìa báo, trang nhất, của tuần báo Khởi Hành cách đây gần nửa thế kỷ.

Tới bài thơ sau đây thì Bùi Giáng ca ngợi không tiếc lời là “nhưng có ai ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia… mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía, mất ăn mất ngủ:

Ðôi mướt tui vàng khung tri hi cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đi hoang
Phút vi vã bng thy mình du th
Thp đèn khuya ngi k chuyn trăng tàn.
Tri núi lnh đến bin im muôn thu
Ðnh đá này và ht mui đó chưa tan
Cười vi nng mt ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa h bun chăng.
Ðếm tóc bc tui đi chưa đ
Bi đường dài gót mi đi quanh
Gi ngó li bn vách tường  rũ
Sui ngun xa ngược nước xuôi ngàn.
(Tu S, Khung Tri Hi Cũ hay Không Ð)

Bùi Giáng viết riêng một bài ca ngợi bài thơ này, kết luận như sau: “Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Ðường thi Trung Hoa với Siêu thực Tây phương.” (Bùi Giáng, Ði Vào Cõi Thơ).

Trong không khí năm cùng tháng tận như hôm nay, nhớ tới Tuệ Sỹ, chỉ nên nhắc đến thơ của ông. Ði tu từ năm 7 tuổi, bị chế độ mới sau 1975 lên án tử hình, Thiền sư Tuệ Sỹ dù im lặng trong Tịnh Danh, song thơ ông vẫn bàng bạc trong lòng người như hồn tính của một nhà thơ lớn, dù ở năm châu bốn biển, hay trong một góc nhà u cư với ngọn đèn, ánh nến, và hương trầm. 


(VL. 18.12.12)

References
1 Thích Minh Châu, Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, tr.172.
2 Theo Nguyễn Duy Cần trong Công Lý Ðòi Hỏi, Văn Nghệ, 1997.
3 Theo một bài của Quảng Ðức thuật lại in trên Khởi Hành số 31.
4 Hòa Thượng Ðức Nhuận nguyên là Giám viện Hưng Quốc Tự ở Sài Gòn, viết trong Lời giới thiệu một cuốn sách của Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu.

Xem thêm

thay tue sy

Thích Tuệ Sỹ: Quan niệm về sự kết cấu trong một tác phẩm Đại thừa

Chân lý cứu cánh mà tư tưởng của Đại thừa Phật giáo nhắm đến là …

sach tieng pali

Thích Tuệ Sỹ: Một số vấn đề ngữ pháp trong các bản dịch Phạn Hán

I. LÝ LUẬN PHIÊN DỊCH Nói một cách chung chung, do một sự tình cờ …

tuong duy ma cat1

Thích Tuệ Sỹ: Giới thiệu kinh Duy-Ma-Cật

I. NHÂN CÁCH HUYỀN THOẠI Vaiśālī (Tỳ-da-li),[1] thủ phủ của Vraji (Bạt-kỳ), một cường quốc …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.