dinh
Tư liệu chùa Đại Bi (Nam Định) ẢNH: TRINH NGUYỄN CHỤP TƯ LIỆU

Chân Văn Đỗ Quý Toàn (Đứng vững ngàn năm): Từ Văn Lang đến Đại Cồ Việt

Người mình cũng có thể ngạc nhiên. Sau một ngàn năm lệ thuộc, nhờ đâu người Việt vẫn còn là một dân tộc, không bị biến thành người Hán?

Nhờ đâu nước Việt vẫn còn sau ngàn năm Bắc thuộc?

Người Việt Nam thường tin rằng tổ tiên mình đã lập một quốc gia từ thời Hùng Vương; dân tộc Việt đã có từ hơn ba ngàn, hoặc bốn ngàn năm trước. Với thái độ khoa học thì chúng ta dè dặt hơn, cần phân tích cả quá trình đã gây nên ý thức dân tộc và ý chí sống tự chủ của tổ tiên trong thời gian bị người Hán cai trị.

Dân tộc không phải là một khái niệm có nội dung bất biến. Các dân tộc tự định nghĩa theo cách khác nhau, mà mỗi dân tộc theo thời gian cũng thay đổi ý thức về chính mình. Nếu đã có một dân tộc Việt từ hơn hai, ba ngàn năm trước, thì cả dân tộc cũng thay đổi liên tục suốt trong lịch sử cho tới ngày nay. Chúng ta nhìn lại những cuộc vận động, chuyển hóa của dân tộc Việt trong thời gian Bắc thuộc, cuối cùng đưa tới việc thành lập quốc gia trong thế kỷ thứ 10. Nhưng trước thời Bắc thuộc thì dân tộc mình đã lập một quốc gia thật sự hay chưa? Trong một ngàn năm đô hộ ý thức độc lập đã thay đổi, lên xuống thế nào?  Những yếu tố khách quan nào giúp cho ý chí lập quốc vững bền hơn?

Không cần phải nghĩ dân tộc Việt Nam đã thành hình từ ba bốn ngàn năm trước, từ đời Hùng Vương, mới đủ tự tin và tự hào về tổ tiên mình. Nếu ý thức về dân tộc chỉ phát sinh trong thời gian bị người ngoài thống trị; sau đó ngày càng được nung nấu mạnh hơn, thì cũng đã vẻ vang rồi. Bị đè nén suốt một ngàn năm, được người ta mang một nền văn minh rực rỡ từ xa tới “dậy dỗ” với mục đích đồng hóa; vậy mà dân Việt vẫn bảo vệ được lối sống, ngôn ngữ, phát triển văn hóa và xây dựng thành một quốc gia; thành tựu đó còn đáng hãnh diện hơn nữa. Quá trình tự vệ và trưởng thành của dân tộc trong ngàn năm Bắc thuộc là một phép lạ đáng cho người Việt tự hào.

150252573 3510392259185431 8175698640366409456 n
Mái đình cong, hoạ tiết long chầu nguyệt

Đình cổ Hùng Lô – thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ

Văn Lang

Việt Nam Sử Lược dựa theo tài liệu sử Trung Hoa nhắc đến truyền thuyết Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ từ năm 2879 trước Công Nguyên, sau sinh ra Lạc Long Quân, rồi tới các vua Hùng. Trần Trọng Kim cũng thấy trong 27 thế kỷ có 18 đời vua, mỗi triều đại vua Hùng dài hơn 150 năm là điều khó tin.

Cuốn lịch sử cổ nhất của nước ta là Đại Việt Sử Lược viết: “Đời Trang Vương nhà Chu… có một dị nhân dùng ảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương,… hiệu là nước Văn Lang… truyền được 18 đời.”

Đời Trang Vương nói trên, theo sử Trung Quốc là vào những năm 698 tới 682 Trước Công Nguyên. Nếu triều đại Hùng Vương bắt đầu lúc đó thì cũng trùng hợp với thời gian được coi là khởi đầu của nền văn hóa Đông Sơn. Qua các chứng tích Đông Sơn, dân Việt đã phát triển nghề canh nông, sống định cư, đã vào thời kỳ dùng kim loại, chắc phải là một xã hội có tổ chức. Gần 2000 năm trước đó, trong thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, dân cư vùng châu thổ sông Hồng chắc còn sống với nghề săn bắn, hái lượm, chưa có nhu cầu quy tụ và suy tôn một thủ lãnh. Chi tiết Hùng Vương “dùng ảo thuật” có thể hiểu là những vua Hùng đầu tiên cũng dùng “quyền năng tôn giáo” để khuất phục các thủ lãnh bộ lạc chung quanh, như từng thấy tại rất nhiều giống dân khác vào thời xa xưa.

Có giả thuyết nói trong tiếng Việt cổ, người đứng đầu bộ lạc gọi là “Khun.” Có lẽ tiếng Khun được các sử gia người Hán ghi âm lại bằng chữ Hùng. Hùng Vương có thể chỉ là một trong các vị thủ lãnh bộ tộc, nhưng chiếm cứ một vùng đất rộng nhất hoặc mầu mỡ, đông dân nhất trong châu thổ sông Hồng. Họ đã liên kết với các thủ lãnh khác và được các “lạc tướng” này suy cử lên đóng vai cầm đầu, để phối hợp công việc bảo vệ hệ thống đê điều chống lụt mỗi năm. Mỗi lạc tướng đứng đầu một bộ lạc hoặc liên minh nhiều bộ lạc trong một vùng, họ không do các vua Hùng cắt đất phong nhậm.

Theo Văn Tân và các tác giả Thời Đại Hùng Vương (1976) thì nước Văn Lang có thật, tuy chưa thể coi là đã có một nhà nước hoàn chỉnh. Các nhà viết sử đoán tên gọi Văn Lang bao gồm một vùng rất rộng hơn châu thổ sông Hồng; chia làm 15 “bộ.” Nước Văn Lang có thể lan rộng lên tới phía Nam các tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông, tiến xuống phía Nam tới vùng đất Trị, Thiên ngày nay. Căn bản chung của dân cư trong vùng này là họ nói thứ tiếng thuộc họ ngôn ngữ Nam Á. Các dân tộc thời cổ thường lấy danh từ chỉ “người” dùng làm tên nước. “Lang” trong tiếng Việt cổ là tiếng gọi người đàn ông (sau chữ lang biến thành chàng, cũng như nương đã biến thành nàng). Tên gọi Lang giống các tiếng cùng gốc Nam Á khác để gọi người đàn ông; như đranglô (tiếng Ba Na), Arăng (Ê đê), Urang (Chàm), Ôrang (Mã Lai, Indonesia); các tiếng đó đều có nghĩa là Người. Từ chữ Lang sau sinh ra những tên nước như Văn Lang, Dạ Lang mà sử Trung Hoa ghi chép. Nếu vùng phía Nam tỉnh Quảng Tây liên hệ mật thiết với nước ta qua ngôn ngữ thì chúng ta hiểu được sự kết hợp khá nhanh chóng, dễ dàng của hai vùng này sau đời Hùng Vương, để tạo thành nước Âu Lạc.

Theo Bùi Dương Lịch, trong Nghệ An Ký được Nguyễn Đổng Chi dẫn lại, thì trong sử sách Trung Hoa, tên Việt Thường đã được ghi trong chuyện sử đời Đường Nghiêu, tên Giao Chỉ được ghi trong sử họ Cao Dương. Tên Văn Lang được ghi trong Thủy Kinh Chú (水经注 được coi là của Lịch Đạo Nguyên thời Tam Quốc), viết: “Miền Chu-Ngô về phía Nam có người Văn Lang, sống giữa đồng nội, không làm nhà cửa, đêm tới thì lên cây mà ngủ, ăn cá thịt sống, kiếm trầm hương đổi chác với người ta.” (Việt Nam Cổ Văn Học Sử, quyển I. Hà Nội: Hàn Thuyên, 1942)

Nếu coi nước Văn Lang đã thành hình từ thời Hùng Vương, sau được tăng cường khi kết hợp cùng dân Âu Việt, thì có thể ghi thời gian khai sinh dân tộc Việt cùng tuổi với nền văn hóa Đông Sơn, bẩy thế kỷ trước Công Nguyên.

Còn cái nôi của dân tộc Việt Nam lúc sinh ra nằm ở chỗ nào?  Sử gia Trần Quốc Vượng, trong tập san Nghiên cứu Lịch sử (1959) đã xác định “trung tâm chính trị của thời Hùng Vương là Mê Linh, cũng là Phong Châu, gồm một miền đất rộng ở bên bờ sông Hồng, từ núi Ba Vì đến vùng Tam Đảo.” Tìm lại nơi chôn nhau, cắt rún của dân Việt, sử gia Đinh Văn Nhật trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, từ 1973 đến 1980, đã trình bầy nhiều công trình nghiên cứu về “Đất Mê Linh” vào thời Hai Bà Trưng, cho thấy ở nơi đây đã có một xã hội có tổ chức từ hai ngàn năm trước. Đây cũng là vùng quê hương của Hai Bà Trưng, và của Phùng Hưng, và Ngô Quyền sau này. Có thể coi là những vị  anh hùng gốc từ vùng đất tổ đó vẫn giữ được truyền thống dân tộc liên tục trong một ngàn năm, nối từ nước Văn Lang cho tới khi Đinh Bộ Lĩnh thành lập nước Đại Cồ Việt. Trong thời văn hóa Đông Sơn dài 8 thế kỷ, chắc mọi người Việt chỉ cần biết mình sống dưới quyền các thủ lãnh (lạc hầu, lạc tướng), ở trên cùng có một “Khun,” hay “Hùng” gọi là “Bố” hay “Bua, Vua.” Tiếng Việt Mường cổ gọi “Pò Khun,” cha lớn, là vị thủ lãnh cao nhất. Tình tự liên đới giữa người dân Lạc Việt với nhau có thể đã dâng lên vào cuối đời Hùng Vương, khi họ sắp chịu chung mối đe dọa của một đoàn quân xâm lăng từ phương Bắc. Khi một nhóm người bị ngoại xâm đe dọa, tự nhiên tình liên đới giữa họ với nhau trở nên chặt chẽ, vững chắc hơn. Một cơ hội thúc đẩy tổ tiên người Việt Nam khơi dậy tình đoàn kết dân tộc là khi họ nghe tin quân nhà Tần đã tiến xuống gần biên giới phía Bắc, đe dọa cuộc sống của người dân nước Văn Lang. Nhân cơ hội đó, hai nhóm dân Âu và Lạc cùng gốc lại có dịp cộng tác.

149268941 3510392305852093 2173691650643244223 nMái đình cong, hoạ tiết long chầu nguyệt
Đình cổ Hùng Lô – thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ

Âu Lạc

Năm 221 Trước Công Nguyên, vua nhà Tần sai Đồ Thư chỉ huy nửa triệu quân tiến xuống phía Nam. Đây là lần đầu tiên quân lính từ miền sông Hoàng Hà tiến xuống miền Nam Trung Quốc, tới một vùng xa hơn nước Sở quanh vùng Trường Giang. Quân Tần tàn sát dân vùng Lưỡng Quảng ra sao chắc dân Lạc Việt phải được nghe tin và báo động với nhau, trong một thời gian kéo dài mười năm liên tiếp. Đồ Thư đã đưa quân khai mở một sông đào nối từ Trường Giang xuống Tây Giang. Theo Phạm Cao Dương, trong Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam (Quyển I), Tướng Sử Lộc chỉ huy việc đào sông, và chú thích mỗi khúc sông đào ngắn gọi là “Cừ,” có cửa ra, cửa vào ở hai đầu để ngăn, giữ mực nước hai đoạn liên tiếp cao, thấp khác nhau. Ông dẫn các sách đời Tống và đời Minh cho biết các khúc sông được đào có 36 cửa, gọi tên chung là Linh Cừ. Công tác lớn lao này cho thấy cuộc viễn chinh nhắm một kế hoạch lâu dài, để đem vùng đất này nhập vào lãnh thổ của nhà Tần. Năm 219, Đồ Thư đưa hai trong năm đạo quân tấn công Tây Âu, thuộc tỉnh Quảng Tây bây giờ, nhưng bị ngăn lại. Cuộc chiến rất gay go, không phải vì dân Tây Âu chống cự trên mặt trận; vì quân đội họ quá yếu so với đạo quân Tần. Người địa phương đã dùng đến chiến thuật bây giờ gọi là “du kích chiến,” hai chữ du kích nghĩa là vừa đánh vừa di chuyển.

Sách Hoài Nam Tử thuật, sau khi vua Tây Âu bị bắt và bị giết thì sắc dân mà sách gọi tên là “Việt” đã rút vào rừng. Họ đợi quân Tần mệt mỏi thì lại tiến ra đánh, đánh xong lại kéo nhau lên núi. Trong 10 năm, quân Tần không dẹp yên được dân Tây Âu. Chiến tranh cực khổ, tình thế tuyệt vọng đến nỗi nhiều lính Tần treo cổ tự tử. Sau cùng Đồ Thư chết, nhưng các thủ lãnh Tây Âu vẫn không khôi phục được vương quốc. Sau Đồ Thư đến Nhâm Ngao, hai người chết rồi thì Triệu Đà mở cuộc chinh phạt lần chót. Ông ta dẹp tan các ổ kháng cự trong vùng Lưỡng Quảng, đặt thành quận huyện ở các nơi, coi như nhà Tần bắt đầu trực tiếp cai trị. Chuyện Triệu Đà xin vua Tần cung cấp 30,000 phụ nữ chưa chồng, để “may vá quần áo” cho quân lính, cũng cho thấy họ đã tính kế định cư vĩnh viễn trong miền đất mới chiếm. Chắc chắn ở những nơi bị chiếm đóng nhiều phụ nữ cũng bị đạo quân xâm lăng cưỡng đoạt; các tin đồn loan đi trong nhiều năm liên tiếp, dân các nước chung quanh cũng phải xôn xao lo lắng. Dân Lạc Việt không chạm trán với quân Tần nhưng chắc họ phải được nghe chuyện của đám dân chạy loạn từ các sắc dân Âu Việt, phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây, chạy sang tới nước ta tránh nạn. Về chủng tộc và ngôn ngữ, họ rất gần với người mình. Các lạc tướng đời Hùng Vương chắc nghe, biết những tin tức đó và phải bàn bạc với nhau. Dân thì ngóng chờ coi các thủ lãnh của họ sẽ làm gì trước mối đe dọa chung này.

Trong bối cảnh đó, nhân vật Thục Phán (An Dương Vương) xuất hiện, nối lại mối liên hệ giữa những người “Việt” ở vùng sông Hồng với những người “Việt” khác ở Quảng Tây. Sử nước ta không nói rõ gốc tích của An Dương Vương từ đâu tới, khiến sau này mọi người phải phỏng đoán rồi bàn tán với nhau; chỉ biết ông không phải gốc người ở Phong Châu hay Mê Linh, cái nôi của dân Lạc. Sự tích nói ông người nước Thục đã bị Trần Trọng Kim bác bỏ, vì nước Thục ở quá xa và lúc đó không còn nữa. Sử gia Lê Mạnh Hùng tin rằng Thục Phán vốn không phải là ông vua một nước Thục nào cả. Ông có thể chỉ là một vị tướng, cầm đầu một đạo quân đã bị quân Tần đánh bại, cùng nhau chạy từ Âu Việt qua nước Văn Lang. Địa giới Âu Việt có thể bao trùm cả hai bên biên giới Việt – Trung ngày nay; còn Văn Lang ở vùng thấp hơn gồm châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình.

Trong tiếng người Thái ở vùng thượng du Bắc Việt gọi Túc Phắn hay Pú Túc Phắn có nghĩa là “ông đánh chém, vị thủ lĩnh chiến đấu.” Trong tiếng Tày, Túc Pắn cũng có nghĩa là vị thủ lãnh, và gọi Mẻ Châu là một bà chúa lớn, nghe gần với tên Mỵ Châu, con gái Thục Phán. Có thể tin là đạo quân của Thục Phán thuộc các sắc tộc Tày, Thái hiện nay còn rất đông ở vùng biên giới nước ta, quanh tỉnh Cao Bằng. Trong lễ tế An Dương Vương ở Cổ Loa vẫn có tục cúng bằng Bánh Tày, là bánh chưng gói hình trụ tròn, giống như “bánh tét” ở miền Nam.

Đạo quân Thục Phán chắc kéo theo nhiều di dân cùng sắc tộc. Họ có thể đã được vua Hùng chia đất cho khai thác để sống; nhưng sau cùng hai bên xung đột. Chúng ta không biết gì về lực lượng quân sự của các vua Hùng; nhưng nếu có một đạo quân chuyên nghiệp thì cũng rất yếu, vì nước Văn Lang chưa phải đối đầu với đám giặc nào từ bên ngoài tấn công. Cho nên trong cuộc tranh chấp với vua Hùng, Thục Phán thắng thế, lên làm thủ lãnh cả hai giống dân. Biến cố này có thể được giải thích như hai đám con cùng cha mẹ, trước đã chia hai đường lên núi hay xuống biển, tới lúc phải đoàn kết lại trước nạn xâm lăng. Xung đột giữa hai nhóm dân được diễn tả qua những biểu tượng trong thần thoại thời An Dương Vương.

Theo truyền thuyết, dân Lạc thờ con gà làm biểu tượng, dân Âu Việt gốc Tày Thái thờ con rùa. Huyền thoại về việc xây thành Cổ Loa kể lại cuộc tranh chấp giữa hai vị thần, tượng trưng cho hai sắc tộc. Thục Phán đặt tên nước Âu Lạc ghép dân Tây Âu với dân Lạc, mang ý nghĩa kết hợp hai sắc dân. Khi xưng làm An Dương Vương ông có thể được nhiều vị lạc tướng chấp nhận ngay. Vì họ biết sắp phải đương đầu với đạo quân Tần và cần một thủ lãnh kinh nghiệm và một đạo binh đã quen chiến trận. Ý thức về mối đe dọa từ phương Bắc biểu hiện trong việc xây thành Cổ Loa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nói đến việc dân ta xây thành trì, mà dấu vết còn để lại là vòng trong cùng ở giữa khu di tích Thành Cổ Loa ngày nay. Có thể các lạc tướng ở nước Văn Lang đã chịu hợp tác với Thục Phán sau khi được thuyết phục rằng sớm muộn quân Tần thế nào cũng sẽ tấn công nước Văn Lang, sau khi bình định được Tây Âu. Khi nhiều cừ soái địa phương không chống đối, Thục Phán khuất phục được đa số dân chúng cùng theo. Hai sắc dân Lạc và Âu Việt đã đoàn kết với một lãnh tụ chung. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư sau này còn giải thích tên Bà Âu Cơ có nghĩa là “người con gái thuộc giống Âu;” tức là Âu Việt. Hai sắc dân cùng một gốc, đã tản ra sống ở miền biển phía Nam hay miền núi phía Bắc, họ chia sẻ nhiều sắc thái chung, về phong tục và ngôn ngữ. Truyện Lạc Long Quân, một người từ vùng biển lên lấy Âu Cơ ở miền núi có thể được sáng tác đem kể trong thời này, để giải thích việc kết hợp giữa dân Lạc vẽ mình với đạo quân Tây Âu từ miền núi xuống.

Việc xây thành Cổ Loa cần động viên một số nhân công lớn, hàng chục ngàn người làm việc trong hơn năm trời, công tác không thể hoàn thành nếu dân địa phương cứ tiếp tục chống đối. Hơn nữa, Thục An Dương Vương phải thành lập một đạo quân thường trực, quân sĩ được tập luyện bắn nỏ, và sản xuất cả kho hàng vạn mũi tên bằng đồng, hãy còn dấu tích ở Cổ Loa. Đó là đạo quân thường trực và chuyên nghiệp sớm nhất ở nước ta. Đây là lần đầu tiên dân Lạc Việt đoàn kết lại trong việc chống ngoại xâm bảo vệ mảnh đất mình sống. Hai sắc dân nhập làm một nước dễ dàng khi dân chúng công nhận hai nhóm người cùng chung các vị tổ Lạc Long Quân và Âu Cơ. Sử gia người Việt sau này vẫn coi Thục An Dương Vương là thừa kế các vua Hùng. Thần thoại đời sau còn mô tả Thục Phán như một vị thần miền biển; Lê Mạnh Thát thấy một câu chuyện tương tự mang nguồn gốc Ấn Độ. Khi kể cho nhau nghe câu chuyện này, dân Việt đã coi ông là thủ lãnh cả dân tộc, thời gian cầm quyền ngắn của ông đáng ghi là một triều đại của nước ta.

Trong dân gian, ai cũng coi cô con gái An Dương Vương là một người Việt. Nàng Mỵ Châu được người Việt yêu mến suốt hai ngàn năm sau, như một vai phụ nữ tiêu biểu, một nạn nhân bị lợi dụng trong một tấn bi kịch. Tấn kịch là một chuyện tình, một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm; mà trong đó “vai ác” là cha con Triệu Đà, những người từ phương Bắc đến xâm lăng nước Việt. Với các tình tiết bi kịch đó, Mỵ châu đương nhiên được thừa nhận là một người Việt nạn nhân tiêu biểu. Điều này phù hợp với các truyền thuyết khác đã xuất hiện cùng thời hay có từ trước.

147655784 3510392245852099 2869386655621398854 nMái đình cong, hoạ tiết long chầu nguyệt
Đình cổ Hùng Lô – thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ

Dân Lạc Việt đề kháng

Dân Âu Lạc không chạm trán với quân Tần, vì nước Tần bị diệt sớm, nhưng sau đó phải đương đầu với một viên tướng giỏi của quân Tần. Trong lúc Trung Quốc rối loạn, Triệu Đà tự lập nước Nam Việt, xưng hoàng đế; năm 179 TCN xâm chiếm Âu Lạc. Không thấy cuốn sử nào nói đến một cuộc kháng chiến lâu dài của người dân Văn Lang cũ chống lại đạo quân của Triệu Đà. Có thể vì Triệu Đà chỉ tấn công lật đổ An Dương Vương; rồi đặt người đại diện thu thuế nhưng không dám xóa bỏ hệ thống các lạc tướng; chế độ các bộ tộc tự trị thời Hùng Vương vẫn được tiếp tục. Khi nhà Hán cướp nước Nam Việt của họ Triệu, tướng nhà Hán cũng dừng quân ở Hợp Phố (ở phía Đông Bắc nước ta bây giờ) và dụ hàng; trong sử chỉ ghi có hai viên quan của nhà Triệu tới xin thần phục, chứng tỏ nhà Triệu cai trị nước ta rất lỏng lẻo. Cũng vậy, khi họ Triệu bị quân nhà Hán tiêu diệt và chia đất thành quận huyện, không thấy sách sử nói đến những cuộc kháng chiến ở đất Văn Lang cũ. Có thể vì từ đầu chính quyền đô hộ nhà Hán vẫn cho các thủ lãnh, hào trưởng, các lạc tướng cũ ở từng địa phương được giữ quyền theo truyền thống. Những thủ lãnh truyền thống này tiếp tục sống trong trật tự chính trị cũ, cho nên không thấy một phản ứng tập thể nào. Trong thời gian hơn trăm năm từ lúc nhà Thục thay thế Hùng Vương cho tới khi quân Hán xóa bỏ nhà Triệu, thì 15 “bộ” trong nước Văn Lang cũ chắc vẫn còn giữ mối liên hệ tổ truyền. Trước đó mỗi lạc tướng đều có quyền tự trị và họ suy tôn một thủ lãnh để điều hợp công việc đắp đê, ngừa lụt, ngoài ra không chắc đã dựng lên một thể thống quốc gia. Nay quân nhà Hán tới, họ tiếp tục giữ các quan hệ cũ, chỉ lo thêm việc đóng thuế cho quan thái thú. Triều đình (Tiền) Hán tiếp tục chế độ cai trị lỏng lẻo trong một trăm năm nữa.

Sau một trăm năm đô hộ, vào đầu thế kỷ thứ nhất Nhà Hậu Hán thay đổi chính sách, gửi quan, quân mới sang Giao Chỉ, Cửu Chân. Các thái thú bắt đầu can thiệp nhiều hơn vào đời sống và cơ cấu xã hội bản xứ. Chính sách khai thác, bóc lột bắt đầu một cách có hệ thống hơn. Sử nhà Hán nói “Thái thú Tô Định lấy pháp ràng buộc,” tức là “dùng hình pháp khắt khe ép buộc dân chúng. Có thể đoán rằng Tô Định đã áp đặt một hệ thống hành chánh chặt chẽ hơn để thu thuế và sách nhiễu cống phẩm. Tô Định được tả là “Thấy tiền thì trố mắt lên; thấy giặc thì chạy.”

Đất Giao Chỉ được tiếng là giầu có, trong một trăm năm cai trị triều đình ở Trường An càng thấy rõ điều đó, thêm nổi lòng tham; các ông thái thú phải vơ vét thật nhiều. An Nam Chí Lược dẫn lời một vị thứ sử tâu trình lên vua Hán: “Giao Châu ở nơi xa cách, quan lại tập thói tham ô làm đủ điều gian trá, trưởng sử tha hồ bạo ngược bóc lột muôn dân.” Hậu Hán Thư viết về giới quan lại cai trị Giao Chỉ: “Thứ sử trước sau phần lớn không thanh liêm, trên thì bợ đỡ kẻ quyền quý, dưới thì vơ vét của cải của dân, đến khi tiền đầy túi thì xin đổi về nước.” Vì thế quan lại người Hán ngày càng tham nhũng, tàn ngược đối với dân.

Khi phải đối đầu với chính sách mới của nhà Hán bắt họ đóng thuế quá nặng và đi lao dịch để tìm nộp những cống phẩm quý hiếm, tình liên đới chắc phải nảy sinh và phát triển giữa mọi người dân Việt, trong đó dòng dõi các lạc tướng còn nhiều ảnh hưởng. Khi Hai Bà Trưng nổi dậy thì ý thức đoàn kết mạnh hơn, các thủ lãnh khắp nơi từ Hợp Phố (phía Bắc, hiện nay thuộc nước Tàu) cho đến Cửu Chân (Nam) đều nổi lên theo. Họ suy cử một thủ lãnh chung, công nhận có người lãnh đạo từ miền châu thổ sông Cái đến vùng sông Mã. Nhưng ảnh hưởng của Hai Bà còn lan rộng sang bên kia biên giới Việt Trung bây giờ. Phan Bội Châu cho biết “ở tỉnh Quảng Tây, phủ Thái Bình nước Tàu cũng có một cái miếu thờ có ba chữ biển đề rằng Trưng Vương Miếu” (Tiếng Dân, số 656, ngày 6 tháng Giêng, 1934). Miền đất này chắc hẳn thuộc địa phận nước Văn Lang ngày xưa, cho nên dân vẫn đoàn kết với dân vùng sông Cái.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, bùng nổ giữa cái nôi của nước Văn Lang thời đại Hùng Vương, là cơ hội khơi lại trong trí nhớ quá khứ chung của cả dân tộc. Cuộc chiến đấu của Hai Bà nối lại dây liên hệ giữa các gia đình từng làm thủ lãnh các địa phương trong 15 “bộ,” tên gọi các vùng vào thời vua Hùng. Ý thức dân tộc thường nổi lên, bắt đầu thành hình hoặc được làm sống lại mạnh mẽ vì phải đối đầu với những kẻ thù chung. Hiện tượng này chắc đã diễn ra trong mấy năm ngắn ngủi trước và sau thời Hai Bà Trưng. Ý thức “chung một giống nòi” được nung nấu trong lòng người, gieo rắc trong dân chúng những hạt giống mới cho tinh thần dân tộc. Mã Viện tìm cách phá hủy các mầm mống ý thức đó ngay lập tức; nên giết chết nhiều lãnh tụ khởi nghĩa, bắt 300 cừ soái đem về Trung Quốc; rồi phân chia lại địa giới quận huyện, đặt quan trực tiếp cai trị.

Nhưng sau khi các thủ lãnh bị giết hay bắt cóc đem đi, mối thù hận trong nhiều gia đình được truyền lại nhiều đời, trong bộ tộc của những người bị bắt hay bị giết. Những cuộc nổi dậy năm 136 và 144 của binh sĩ cho thấy tinh thần liên đới của người dân còn mạnh. Một thế kỷ sau khi Bà Triệu dấy quân, khắp nơi lại nổi lên theo, cho thấy tình đoàn kết vẫn được nuôi dưỡng trong một thế kỷ giữa những người vừa cùng máu mủ, cùng ngôn ngữ, lại cùng là nạn nhân trong cảnh bóc lột của những tham quan từ nơi xa tới. Vào lúc Hai Bà khởi nghĩa, chính quyền trung ương bên Trung Quốc đang ổn định và đang bành trướng rất mạnh. Chính sách tàn bạo của Tô Định cho thấy những quan lại như ông ta tin rằng địa vị của chính họ rất an toàn, tha hồ bóc lột. Trong tình hình như thế, các thủ lãnh người Việt khắp “65 thành” vẫn dám đoàn kết giành tự chủ. Điều này chỉ có thể xẩy ra nếu họ đã có sẵn một ý thức “cùng một nước” khá vững vàng từ nhiều đời trước đó, như trong câu ca dao “Người trong một nước phải thương nhau cùng.”

Cuộc khởi nghĩa đầu tiên kháng Hán nổ ra ở vùng đất Phong Châu, cái nôi chính trị cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Sang thế kỷ thứ ba, với Bà Triệu, trung tâm đề kháng chuyển sang Cửu Chân, vùng Thanh Nghệ Tĩnh bây giờ; miền đất này còn tiếp tục nuôi ngọn lửa đấu tranh suốt bẩy thế kỷ sau.

ChanVan

Nuôi dưỡng óc quật cường

Từ trước thời Bà Triệu cho tới đầu đời nhà Tùy bên Trung Quốc, lục địa Trung Hoa trải qua một thời kỳ biến động và phân ly kéo dài gần bốn trăm năm. Tình trạng tao loạn ở Trung Quốc tạo cơ hội cho dân Giao Châu được hưởng một “không gian tự trị” tương đối. Thời kỳ loạn lạc bắt đầu từ lúc nhà Hán suy vong năm 213, qua thời Tam Quốc, kéo tới hai đời Tây và Đông Tấn rồi thời Nam Bắc Triều, tới năm 580 Trung Quốc mới lại thống nhất. Nước Tàu bị chia cắt thành nhiều mảnh, các vua chúa đánh lẫn nhau nên họ không đủ tài nguyên và nhân lực kiểm soát các quan lại ở Giao Châu. Trong thời gian đó, không có thủ lãnh người Việt nổi lên chiếm chính quyền thì dân Việt cũng được sống tách khỏi nước Tàu, với những thứ sử như  Sĩ Nhiếp, Đào Hoàng, Đỗ Tuệ Độ tương đối tự trị.

Bà Triệu khởi nghĩa năm 248 vào lúc Trung Quốc đang tan rã, nhà Hán sụp đổ chia ra ba nước Ngụy, Thục, Ngô (Tam Quốc). Dân Giao Châu được sống dưới quyền gia đình họ Sĩ qua một vài thế hệ, tinh thần tự lập lên cao hơn. Lòng dân Việt lại càng đoàn kết vì họ vẫn nhớ quân Đông Ngô tàn ác và gian trá; tướng Lữ Đại chiêu hàng Sĩ Huy rồi đem giết hết mấy anh em, sau lại đem quân vào tận Cửu Chân giết thêm mười ngàn người. Ngô Sĩ Liên sau này viết, “Triệu Ẩu là người con gái quận Cửu Chân, họp quân trong núi ra đánh phá các thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay.” Hiện tượng “các bộ đều theo” cho thấy mạng lưới liên kết người dân Việt từ thời Hùng Vương để lại còn khá bền chặt. Ý thức dân tộc lúc đó chắc phải rất mạnh.

Những hình ảnh “như bóng theo hình” và “dễ hơn trở bàn tay” có thể là do cảm tưởng của người Việt, được kể cho nhau nghe trong mười hai thế kỷ, tới Ngô Sĩ Liên vẫn còn thấy. Ấn tượng mạnh nhất là toàn dân đã đoàn kết, nhờ thế chiến thắng nhanh chóng. Nhưng theo Lê Mạnh Thát, nghiên cứu Ngụy Chí và dẫn Lĩnh Nam Chích Quái thì bà sự nghiệp Triệu kéo dài hơn thời gian mà sử Trung Hoa ghi lại. Bà đã thắng tướng nhà Ngô là Lục Dận, giữ được đến năm 257 mới thua. Có lẽ ý kiến này sẽ còn gây nhiều tranh luận; nhưng nếu cuộc nổi dậy chỉ kéo dài sáu tháng thì khó gây được ấn tượng sâu xa trong lòng người dân Việt. Người Việt đã thờ cúng Bà Triệu nhiều thế kỷ sau; hình ảnh bà được lưu truyền trong các bài ca dao được phổ biến cho tới bây giờ!

Nhà Đông Ngô cai trị vùng Đông Nam Trung Quốc không kéo dài lắm nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong trí nhớ dân Việt. Cho nên trong những thế kỷ sau người Việt vẫn còn gọi người Tàu là người Ngô; trong khi dân Trung Hoa không bao giờ tự gọi họ là dân Ngô cả. Tướng nhà Ngô đã gian xảo lừa gia đình họ Sĩ bằng chính sách chiêu hàng rồi giết, để lại một hình ảnh tàn ác khó quên. Trong những năm nhà Ngô suy tàn, các quan lại chắc phải bóc lột dân nhiều hơn để cung ứng cho nhu cầu tài chính của một nhà nước suy yếu cần tự vệ. Từ đó mới có lối ví von, “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.” Khi ai phung phí tiền của, người Việt nói: “Gánh vàng đi đổ sông Ngô.” Quyết định của nhà Ngô chia châu Giao cũ thành Quảng Châu và Giao Châu, rồi sau tách Hợp Phố khỏi Giao Châu, có thể giúp dân ta thêm ý thức tách biệt mình ra khỏi người phương Bắc và nhớ lại quá khứ nước Văn Lang. Chính sách tham tàn của quan lại khiến cho dân Giao Châu nhìn thấy sự khác biệt rõ ràng giữa một chế độ “người mình cai trị mình,” so sánh với một chế độ do người nước ngoài nắm quyền. Người dân Việt càng thấy rõ sự khác biệt đó thì ý chí đòi quyền tự chủ càng sâu hơn. Việc các nhà sư ở Việt Nam từ Giao Châu sang truyền bá đạo Phật tận kinh đô nhà Ngô ở Kiến Nghiệp có thể cũng nâng cao uy tín và lòng tự tin của dân Việt. Tới thời Lý Nam Đế thì tình tự dân tộc đã đủ vững chắc để ông tuyên bố thành lập một quốc gia tên là Vạn Xuân; bầy tỏ ý chí độc lập lâu dài.

Thời kỳ thứ hai Trung Quốc bị phân ly, loạn lạc kéo dài hàng trăm năm từ cuộc dấy loạn của Hoàng Sào (875) đến thời Ngũ Đại Thập Quốc (906 – 960) Trong giai đoạn đó, dân Việt lại nổi lên chiếm lấy quyền cai trị, với Phùng Hưng, Dương Thanh, gia đình họ Khúc, rồi tới gia đình Dương Diên Nghệ và Ngô Quyền.

Từ miền đất Ái châu, quê hương của Bà Triệu cũ, Dương Diên Nghệ đã kết hợp với Ngô Quyền, một người xuất phát từ quê hương của Hai Bà Trưng. Sau khi Ngô Quyền dựng nền độc lập, bên Tàu vẫn loạn, đất Giao Châu được bỏ trống; các hào kiệt người Việt đã nổi lên rồi tiếp tục tranh hùng, cho nên sau một thế hệ Đinh Bộ Lĩnh mới thống nhất được đất nước.

Từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 10, các bản đồ của nhà Hán cho đến nhà Đường đều vẽ đất nước ta như một phần trong lãnh thổ dưới quyền vị “thiên tử” ngự trị ở Trường An, tức Tây An, tỉnh Thiểm Tây bây giờ. Một người Trung Hoa coi bộ Trung Quốc Lịch sử Địa đồ có thể nghĩ rằng miền Bắc Việt Nam vốn thuộc vào Trung Quốc, hơn mười thế kỷ. Trong tập bản đồ này, sau đời Đường, trên vùng đất trước mang tên An Nam Đô Hộ Phủ, cái tên đó đã biến mất. Người Trung Hoa học sử bây giờ được thấy từ nửa cuối thế kỷ thứ 10, một quốc gia mới xuất hiện trên bản đồ “nước họ.” Chắc các người vẽ bản đồ cũng lúng túng không biết viết tên nào thay thế, vì Ngô Quyền chưa có thời giờ đặt quốc hiệu. Sau cùng họ đã đề tên nước là Việt, giả thiết rằng đây là miền đất dân Việt sống; và họ ghi thêm: Ngô triều; họ đủ kính trọng để công nhận một triều đại của Ngô vương.

Đinh Bộ Lĩnh chắc đã lớn lên trong giai đoạn không còn bóng dáng người Hán trên quê hương. Đinh Bộ Lĩnh là con nhà nông và chài lưới. Truyền thuyết kể ông đã đánh lừa một thầy phong thủy từ phương Bắc qua tìm huyệt, lặn xuống sông đem chôn hài cốt cha mình thay vào. Đoàn quân giúp ông lập nghiệp chắc đều là những người dân áo vải; ảnh hưởng của những người biết “chữ Hán” không mạnh. Cho nên khi dẹp yên các sứ quân, ông đặt tên nước là Đại Cồ Việt; chữ Cồ là một tên gọi hoàn toàn Việt Nam! Phất tay một cái, gọi tên nước Cồ Việt, ông xóa bỏ tất cả những tên bằng chữ Hán: Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam Đô Hộ Phủ. Ông xác định có một dân tộc riêng làm chủ một quốc gia độc lập. Người Trung Hoa bây giờ nhìn vào hiện tượng này chắc cũng ngạc nhiên: Tại sao bản đồ Trung Quốc suốt ngàn năm không thấy thay đổi, bỗng bị cắt đi một mảnh như vậy?

Người mình cũng có thể ngạc nhiên. Sau một ngàn năm lệ thuộc, nhờ đâu người Việt vẫn còn là một dân tộc, không bị biến thành người Hán?

_______________________________________________
Trích “Đứng Vững Ngàn Năm”  của tác giả Ngô Nhân Dụng, tức Cư sĩ Chân Văn Đỗ Quý Toàn. Người Việt Books xuất bản, 2013. Giấy Vụn, 2014

Xem thêm

chua 1

Chân Văn Đỗ Quý Toàn (Đứng vững ngàn năm): May thay sinh ở nước Nam

Người Việt Nam bây giờ còn hay tự chế nhạo mình, gọi đùa mình là …

dinh lang

Chân Văn Đỗ Quý Toàn (Đứng vững ngàn năm): Người Đất và Thần

Nhiều yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa giúp dân Việt làm vốn …

dinh

Chân Văn Đỗ Quý Toàn (Đứng vững ngàn năm): Người Việt học Nho giáo

Khi viết về Kết quả của Thời Bắc Thuộc, Trần Trọng Kim xác nhận lại …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.