HIỂU PHẬT PHÁP TĂNG
BA QUY Y, SÁU HÒA KỈNH
A- PHẬT, PHÁP, TĂNG
ĐỊNH NGHĨA
Phật Pháp Tăng là ba ngôi quý báu hơn hết không ai có thể sánh bằng.
I. PHẬT BẢO
a. Định danh: Tiếng Phạn là Phật-đà có ba nghĩa: Tự giác: tự mình đã giác ngộ. Giác tha: giác ngộ cho mọi loài cũng đồng giác ngộ như mình. Giác hạnh viên mãn: hai công hạnh ấy hoàn toàn viên mãn. Từ trước đến nay, có nhiều vị như vậy, như Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Dược Sư, Đức Phật Di Lặc v…
b. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Đức Phật đem giáo pháp dạy chúng ta là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta gọi Ngài là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu
c. Tiếng tốt của Đức Phật: Do công hạnh tu tập Ngài có 32 tướng tốt; trên đầu có nhục kế biểu hiện trí huệ hoàn toàn, thân thể và trên đầu có hào quang (trí huệ sáng suốt), hai tai dài (thọ mạng lâu dài). Mặt tròn như trăng rằm, khác với gương mặt chúng sanh, hai mắt trong xanh như nước biển, giữa hai chân mày có một sợi dài trắng uyển chuyển như núi Tu Di, giữa ngực có chữ Vạn, chân tay tròn đầy, da mịn bao bọc, dưới chân có 1.000 xoáy tròn v.v…
d. Đức hạnh trí huệ của Đức Phật: Đức Phật đầy đủ năm hạnh: Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.
Tinh tấn: Tu khổ hạnh 6 năm, ngồi thiền định 49 ngày dưới cây Bồ-đề, giáo hóa hơn 49 năm, chịu cực khổ đói rét. Trải qua nhiều gian lao cực khổ Ngài vẫn cương quyết tìm đạo giáo hóa chúng sanh không thoái chí.
Hỷ xả: Hy sinh quốc thành thê tử tìm đạo cứu chúng sanh không một niệm luyến tiếc. Trải qua các sự gian lao, Ngài vẫn hoan hỷ hành đạo, không một niệm thoái chuyển.
Thanh tịnh: Thân thể ánh sắc vàng trong trắng như lưu ly. Lời nói chơn thành đúng chơn lý, không nói lời độc ác, nói dối, luôn luôn hòa nhã êm dịu. Tâm hồn ý nghĩ thanh tịnh không có tham, sân, si, kiêu mạn.
Trí huệ: Trí huệ của Đức Phật hoàn toàn, hiểu biết cùng khắp thông suốt hiểu thấu căn cơ chúng sanh, rõ biết vạn vật.
Từ bi: Đức Phật có lòng từ bi vô lượng, thương xót cứu hộ cho tất cả chúng sanh, từ loài người cho đến loài vật, không loài nào là không cứu độ.
II. PHÁP BẢO
a. Định danh: Pháp là lời dạy của Đức Phật hoặc các vị Bồ-tát vâng theo lời Phật mà nói hoặc các vị Tổ sư làm ra. Lời dạy tuyên dương chơn lý, có thể đưa mọi loài thoát khổ được vui, nên gọi là Pháp bảo tôn quý nhứt trên đời.
b. Các món Pháp bảo: Pháp bảo gồm có ba món:
Kinh: Là lời dạy của Đức Phật, của các vị Bồ- tát vâng theo lời Phật dạy mà nói. Như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh 42 Chương v.v…
Luật: Là những giới luật do Đức Phật thân chế cho các hàng xuất gia, tại gia tu hành, như Năm giới của Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Mười giới cho Sa-di, 250 giới cho hàng Tỳ-kheo v.v…
Luận: Là lời luận bàn về Kinh điển của các vị Tổ sư nói rộng các yếu nghĩa trong Kinh luật cho dễ hiểu như Luận Khởi Tín, Luận Nhân Minh v.v…
c. Đặc tính của Pháp bảo:
Quý nhứt trên đời. Nhờ Pháp bảo, chúng sanh chứng được chơn lý, trừ khổ, được vui, được giải thoát.
Đúng sự thật đúng chơn lý: Lời Phật dạy, lời các vị Tổ sư đều đúng với sự thật, đúng với sự hiểu biết chơn chánh.
Hợp với căn cơ của mọi loài, mọi người: Hợp với trình độ, hợp với tâm tánh từng người, từng loài.
III. TĂNG BẢO
a. Định danh: Tăng bảo là một đoàn thể xuất gia tu hành theo Đạo Phật, gồm ít nhứt là 4 người trở lên, và sống theo Sáu pháp hòa kỉnh.
b. Đặc tính Tăng bảo:
Quý nhứt trên đời: Vì là một đoàn thể tập sống đúng như lời Phật dạy, giữ giới luật oai nghi, làm gương mẫu cho mọi người, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ được vui.
Sống đời thanh tịnh: Không có gia đình vợ con, không theo danh lợi, ăn chay đạm bạc, siêng tu khổ hạnh, giữ giới luật Phật dạy.
Luôn luôn nghiên cứu Kinh điển: Ngủ ít học nhiều, suy tìm nghiên cứu để hiểu thấu lời Phật dạy chứng thật được chơn lý. Làm gương sáng cho mọi người.
c. Các hàng Tăng chúng: Sa-di là hàng nam tử xuất gia giữ Mười giới, Sa-di-ni là hàng đàn bà xuất gia giữ Mười giới. Thức-xoa-ma-na là hàng
học giới nữ giữ Sáu giới và tập hạnh Tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo là hàng nam tử xuất gia giữ 250 giới. Tỳ- kheo–ni là đàn bà xuất gia giữ 350 giới.
IV. KẾT LUẬN
Phật Pháp Tăng là ba món quý báu nhứt trên đời đối với một người Phật tử là gương mẫu chơn chánh cho Phật tử noi theo, là ruộng phước cho tất cả chúng sanh gieo các hột giống tốt lành.
B- QUY Y PHẬT PHÁP TĂNG
ĐỊNH NGHĨA
Quy: là trở về; từ trước đi con đường sai lầm nay trở về con đường chánh; từ trước theo các hàng ngoại đạo, ác đảng, nay trở về với chơn lý, các bậc sáng suốt, hiền đức; từ trước ở trong trói buộc đau khổ nay trở về với giải thoát an vui.
Y: là nương tựa y cứ vâng theo và sống theo, từ lời nói ý nghĩa cho đến việc làm nhứt nhứt đều y cứ nương tựa sống theo. Quy y ba ngôi báu tức quy y Phật, Pháp và Tăng.
1. Quy y Phật: Là trở về với Đức Phật không theo các thượng đế tà sư, không theo ma quỷ thiên thần, chỉ nương tựa y cứ theo Đức Phật mà sống, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm nhứt
nhứt đều y cứ vâng theo Đức Phật, noi theo gương mẫu Phật mà làm.
2. Quy y Pháp: là trở về với pháp Phật dạy, không theo các ngoại đạo tà giáo, y cứ nương tựa theo những lời dạy của Đức Phật, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm, nhứt nhứt đều y cứ tuân theo đúng như pháp Phật.
3. Quy y Tăng: Là trở về với Tăng bảo, là đoàn thể Tăng già xuất gia tu hành, không theo các bạn bè độc ác có hại, từ lời nói, ý nghĩ đến việc làm đều noi theo gương mẫu các vị xuất gia hoặc theo lời chỉ bảo của các vị xuất
4. Lễ quy y: Lễ quy y là phát nguyện trước Phật Pháp Tăng xin nguyện trọn đời quy y Phật Pháp Tăng, thề quyết không theo các thượng đế tà sư, thiên thần, quỷ vật, ngoại đạo, tà giáo, bạn bè độc ác. Có một vị xuất gia chứng minh cho lời phát nguyện này và đặt cho một pháp danh. Vị chứng minh này sẽ thành vị bổn sư của người phát nguyện làm lễ quy y. Khi làm lễ quy y rồi, mới chính thức được gọi là Phật tử.
5. Kết luận: Quy y Phật Pháp Tăng là một cử chỉ rất quan trọng, định đoạt và cải tạo hẳn đời sống của mình. Từ giờ phút làm lễ quy y xong, là bước trên một con đường mới mẻ luôn luôn, được Phật Pháp Tăng soi sáng chỉ đường và che chở.
C- SÁU MÓN HÒA KỈNH
1. Thân hòa đồng trú: Chung một việc làm, chung sống một chỗ với nhau. Như các vị xuất gia chung sống trong một chùa, y phục giống nhau, công việc chung làm với nhau, bao giờ cũng đồng chung cả.
2. Khẩu hòa, không cãi mắng nhau: (Khẩu hòa vô tránh) không dùng lời nói thô ác, cãi mắng nhau. Như các vị xuất gia trong một chùa không ai cãi mắng to tiếng với nhau. Có điều gì không đồng ý, thời cùng nhau lấy lời hòa nhã giải thích biện luận cho nhau đồng hiểu.
3. Ý hòa đồng dung hiệp nhau: (Ý hòa đồng duyệt) nghĩa là ý kiến dung hòa với nhau, không có mỗi người mỗi ý, khác với trong chúng. Như các vị xuất gia trong một chùa, làm việc gì cũng hỏi ý kiến nhau, sau khi toàn thể thỏa thuận mới thi hành.
4. Giới hòa đồng tu với nhau: (Giới hòa đồng tu) nghĩa là trong chúng đồng tuân theo, giữ theo những giới luật, như các vị xuất gia trong một chùa chung giữ những giới luật Phật chế, tùy theo hàng Tăng số của mình. Như chúng Sa-di thời giữ Mười giới.
5. Lợi hòa đồng phân chia với nhau: (Lợi hòa đồng quân) nghĩa là có những quyền lợi gì thời đồng chia đều với nhau. Như trong một ngôi chùa, phàm có ai cúng một vật gì, đều chia đồng đều trong chúng không có kẻ ít người nhiều.
6. Kiến hòa đồng giải cho nhau hiểu: (Kiến hòa đồng giải) nghĩa là mọi sự hiểu biết đều đồng giải cho nhau cùng hiểu, như các vị xuất gia trong một chùa, đều chung học giáo lý của Đức Phật và giúp nhau cùng hiểu giáo lý của Đức Phật.
7. Kết luận: Chính Đức Phật đã đặt ra sáu món Hòa kỉnh này làm nguyên tắc căn bản cho các bậc xuất gia chung sống với nhau; và chính các ngôi chùa, các tùng lâm, hàng trăm hàng ngàn Tăng chúng đã sống đúng theo sáu món Hòa kỉnh này. Sáu món Hòa kỉnh này đem sự hòa đồng trong chúng, để cùng nhau sống theo lời dạy của Đức Phật, tinh tấn trên con đường giải thoát và giác ngộ của chư Phật.
Bố thí là kho châu báu thường theo người bố thí là nhóm điều vui, trừ đau khổ.
LUẬN TRÍ ĐỘ

