thay duc thang

Thích Đức Thắng: Tu tập thiền định | Dhyāna-Samādhi bhāvanā

Trong Thiền tối sơ khi Phật còn tại thế, Thiền không chỉ làm căn bản cho các định mà còn phát ra những sức mạnh chung cho thiên nhãn và thiên nhĩ, tất cả đều nương vào Dhyāna này. Hơn nữa, trong Thiền có cả những tác dụng của suy xét và quán niệm chân lý, cho nên người học đạo thường lấy Thiền làm khởi đầu tối yếu trong việc thực hành. Tuy nhiên, do tính chất trong Thiền đã có Định và trong Định không có Thiền nên Định được phân ra làm ba loại: Vị định, Tịnh định, Vô lậu định.

– Vị định (chưa có định) là lúc nó cùng với phiền não tham tương ưng mà khởi, yêu đắm đối với định.

– Tịnh định là cùng với tâm thiện hữu lậu tương ưng mà khởi.

– Vô lậu định là bậc trí nương vào định mà đạt được trí vô lậu.

– Thiền là từ lược của Thiền-na (dhyāna) còn dịch là tư duy tu, hay tịnh lự. Tư duy tu có nghĩa là tư duy về đối cảnh mà chúng ta đang để tâm vào để nghiên cứu tu tập và dùng tâm thể tịch tĩnh, tịnh lự để xét về nghĩa tư duy, suy nghĩ đó.

– Định được dịch nghĩa từ chữ Samādhi phiên âm là Tam-ma-địa, Tam-muội hay Tam-ma-đề; có nghĩa là chánh thọ, chánh định; là định tâm dừng vào một cảnh xa lìa mọi vọng động.

Vậy, Thiền nghĩa là nhất tâm khảo sát nghiên cứu về một vật nào đó tức là Thiền, còn nhớ nghĩ về một cảnh vắng lặng nào đó gọi là định. Sự khác biệt giữa Thiền và Định chỉ được dùng để nói đến nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Nghĩa rộng chỉ cho Định và nghĩa hẹp chỉ cho Thiền. Bởi vì sự tư duy xét nghĩ của Thiền-na, tự nó đã có nghĩa là đình chỉ để đưa đến tịch tĩnh nên cũng gọi là Định; nhưng trong Tam-muội (Samādhi, chánh định) lại không có nghĩa xét nghĩ tư duy, nên Định này không được gọi là Thiền. Về tên gọi, Định có rất nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào người đọc, dịch để có được tên gọi phiên âm phù hợp với đối cơ. Theo luận Câu Xá Quang ký 6, Đinh có ba tên: Tam-ma-địa (samādhi), Tam-ma Bát-để (samā-patti), Ta-ma-di-đa (samāhita). Còn Duy Thức Liễu nghĩa đăng 7, Định được gọi: Tam-ma-di-đa (samāhita) là Đẳng dẫn, Tam-ma-địa hay Tam-muội (Samādhi) là Đẳng trì, Ta-ma Bát-để (samā-patti) là Đẳng chí, Đà-na-diễn-na hay Thiền-na (dhyāna) là Tịnh lự, Chất-đa-hê-ca A-yết-la-ca (cittaikāgratā) là Nhất tâm tánh cảnh.

Theo Pháp Giới Thứ Đệ, quyển hạ, Thiền gồm Thế gian thiền và Xuất thế gian thiền. Thiền thế gian là thiền của các hàng phàm phu thực hành, tức căn bản là lấy tứ Thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định làm căn bản. Trong khi Thiền xuất thế gian có hai loại: Một, Xuất thế gian Thiền hay là nhị thừa cộng Thiền, chỉ cho Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh, Cửu tưởng, Thập tưởng, Bát-bối-xả, Bát thắng xứ, Thập nhứt thiết xứ, Luyện thiền, Tứ thập biến hóa, Nguyện trí, Đảnh thiền, Vô tránh tam-muội, Tam tam-muội, Sư tử phấn tấn, Siêu việt tam-muội, Tam minh, Lục thông thiền v.v… Hai, Xuất thế gian thượng thượng thiền hay là bất cộng thiền, như Tự tánh đẳng tứ chủng đại thiền, Thủ lăng nghiêm đẳng bách bát tam-muội, Chư Phật bất động đẳng bách nhị thập tam-muội.

Theo luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn, quyển thượng:

“Hỏi: – Sao gọi là Thiền? Sao gọi là Định?”

“Đáp: – Vọng niệm không sinh là Thiền, ngồi thấy bản tánh là Định. Bản tính tức là tâm không sinh. Định là đối cảnh không tâm, tám ngọn gió không thể lay động. Tám ngọn gió là: hơn, kém, khen, chê, ca ngợi, trách, khổ, vui, đó gọi là tám ngọn gió. Người nào nếu đạt được định như vậy, thì dù là phàm phu cũng nhập vào địa vị của Phật.”

Ngoài ra, Thiền định thường được dùng cùng một nghĩa để chỉ cho tâm vật bất động đều gọi là tam-muội cả. Như Trí Độ luận 5: “Khéo trụ tâm vào một chỗ bất động, đó gọi là Tam-muội.” hay quyển 28 thì: “Tất cả Thiền định đều gọi là Định hay Tam-muội. Ngoài tứ Thiền ra, các Định khác cũng gọi là Định, cũng gọi là Tam-muội, mà không gọi là Thiền.”

Tuy Thiền-Định đều phát xuất từ đức của tâm, song tâm của dục giới không có đức này (chỉ có được khi chúng ta tu tập), mà chúng thuộc về tâm đức của sắc giới và vô sắc giới. Đứng về mặc tương đối của sắc và vô sắc thì Thiền là pháp của sắc giới, Định là pháp của vô sắc giới. Tự chúng có bốn cấp bậc cạn sâu khác nhau nên chúng ta thường nghe có tứ Thiền, tứ Định. Tứ thiền, tứ Định này là pháp thế gian chung cho Phật pháp, ngoại đạo, phàm thánh cùng tu tập. Ngoài Định thế gian này ra còn có Định xuất thế gian của Phật, Bồ-tát, A-la-hán chứng đắc, đó là các Định vô lậu nhờ tu tập mà thành tựu, cho nên muốn đạt được Thiền thì phải xa lìa phiền não dục giới. Muốn đạt được Định phải đoạn trừ phiền não dục giới và muốn đạt được các Định vô lậu phải đoạn tuyệt phiền não vô sắc giới. Vì chúng ta là hành giả của dục giới nên muốn đạt được Thiền định này bắt buộc chúng ta phải nỗ lực tu tập đoạn trừ phiền não ba nghiệp (thân-khẩu-ý phát sinh từ tham-sân-si) của cõi dục hình thành.

Theo tông Câu xá, định này được chia ra làm hai phần: Hữu tâm định và Vô tâm định. Hữu tâm định gồm có bốn Tịnh lự và bốn định vô sắc, Tâm định này có được là nhờ tu tập đoạn trừ dần dần các phiền não hạ địa trong mười địa, theo Câu tông. Nhờ đó, chúng ta được sắc giới bốn tịnh lự thiên và bốn vô sắc giới thiên của định này. Vô tâm định gồm có vô tưởng định và Diệt tận định. Vô tưởng định chỉ cho trạng thái vô tưởng mà các phàm phu cùng ngoại đạo tưởng lầm và cho rằng đây là trạng thái chân Niết-bàn để cho họ tu tập và mong đạt đến. Diệt tận định chỉ cho cảnh giới tịch tĩnh vô dư Niết-bàn mà các bậc Thánh tu tập đạt được. Ngoài ra, giai đoạn trung gian cận phân định của sơ tịnh lự và nhị tịnh lự được gọi là trung gian định; nếu hành giả nào tu tập định này sẽ được sinh về Đại Phạm thiên. Đây là hai loại định có được nhờ vào sự tu tập của hành giả dành cho cõi dục chúng ta đang cư ngụ, chứ không phải sinh ra đã có rồi như là cõi sắc và vô sắc.

Vậy Thiền là tên gọi tắc của Thiền-na (禪那)được phiên âm từ chữ Phạn: dhyāna, có nghĩa là tịnh lự cùng với nghĩa “Định” (定) của Tam-ma-địa phiên âm từ samādhi (Phạn ngữ) họp lại gọi là Thiền-Định (禪定). Thông thường, tinh thần chúng ta không ổn định hoàn toàn, lúc thế này lúc thế khác, luôn thay đổi theo các duyên bên ngoài và bên trong ý nghĩ; chúng ta không làm chủ tâm lý của mình. Vì vậy, mọi rắc rối phức tạp luôn vây khốn chúng ta, làm cho chúng ta luôn luôn cảm thấy bất ổn trước cuộc sống. Để kiểm soát cuộc sống của chúng ta trở nên bình an và an lạc, hành giả, nhất là các hàng Bồ-tát trong lúc thực hành con đường Bồ-tát của mình, thì Thiền-Định là con đường đi đến tối ưu trong sự nghiệp tự độ và độ tha, lợi mình lợi người, đưa đến an vui giải thoát. Đức Đạo sư đã từng dạy: “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện” (制心一處, 無事不辦). (Chú tâm vào một chỗ, không việc gì là không làm được). Vậy muốn khống chế tâm cảnh dao động, nhiễu loạn của chúng ta khi tiếp xúc với mọi hoàn cảnh xung quanh trong khi chúng ta chưa làm chủ được chính mình, điều cốt yếu là phải dùng Thiền-Định làm một phương pháp đối trị lại những nhiễu loạn dao động trước mọi hoàn cảnh bằng cách kéo tâm mình trụ vào một đối tượng duy nhất. Lúc đó, mọi sự dao động nhiễu loạn bất ổn của ngoại cảnh, tự tâm sẽ tự biến mất và sự an ổn sẽ tự hiện hữu; cho nên gọi “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” là vậy. Khi chúng ta đem tâm mình tập trung vào một đối tượng duy nhất, ngay lúc đó tâm chúng ta cắt đứt hết các duyên liên hệ khác bên trong lẫn bên ngoài. Lúc này, tâm chúng ta chỉ có một đối tượng duy nhất, trong thiền học gọi đó là “nhất tâm tánh cảnh”, chính là cảnh giới thiền định được sanh khởi. Cảnh giới này nếu chúng ta huân tập nhiều chừng nào thì lực của tâm định mạnh chừng đó và cứ như thế chúng ta tiến lên sẽ đạt được trạng thái “Tâm vật nhất như” (心物一如), là thành tựu được Thiền-Định. Và trí tuệ phát sinh cũng là nhờ vào sức mạnh của tâm định này. Ở đây, trí tuệ là hậu quả tất yếu có được từ Thiền-Định, nên người nào có công phu Thiền-Định thì người đó sẽ tập trung bảo trì được hệ thống trí tuệ càng ngày càng sáng hơn. Khi chúng ta gặp phải bất cứ cảnh ngộ nào đi nữa, trí tuệ ấy tiết phát ngay vào cảnh đó một cách tự nhiên, để sau đó đưa đến giải thoát hết mọi hoàn cảnh có thể gây bất ổn cho hành giả. Đây là lúc chúng ta làm chủ được tâm mình, vô công dụng đạo hiện bày, việc độ ta độ người, lợi ta lợi người sẽ được thành tựu viên mãn.

Đối với Thiền-Định nhiều người hiểu lầm rằng ngồi Thiền sẽ đưa đến thân khô, tâm lạnh như gỗ đá bên vực sâu, nhức đầu ù tai, sinh ra điên loạn v.v… Họ không biết rằng việc tu Thiền-Định tiêu cực như vậy của họ là do không đúng phương pháp, không người hướng dẫn nên đi sai đường, hoặc dụng tâm không đúng; điều thân, điều tức không thông, do vậy nên từ đó sinh ra những trở ngại. Đối với Thiền-Định, nếu hành giả nào đi đúng đường, có người hướng dẫn đúng thì những hiện tượng tiêu cực đó sẽ không bao giờ xảy ra và thành tựu được mọi kết quả như hành giả mong muốn.

Tóm lại, Thiền-Định là một pháp tu cơ bản của đạo Phật, một phương pháp tu chính yếu nhằm xóa bỏ tất cả mọi nghiệp khổ của chúng sanh phát xuất từ ba độc tham-sân-si tác động qua ba nghiệp thân-khẩu-ý. Ba nghiệp ấy hình thành nghiệp quả khổ gần nhất là hiện đời, xa hơn nữa là vô minh hoặc của chúng sanh trong ba cõi sáu đường. Ở đây, Thiền-Định cũng có thể chỉ cho Thiền thế gian là thiền của các hàng phàm phu thực hành, tức căn bản là lấy tứ Thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định làm trọng tâm dành riêng cho các loài chúng sanh hữu tình khi xa lìa được phiền não của dục giới. Nhưng các hàng Bồ-tát cũng dùng Thiền-Định để tu tập đó là Thiền-na ba-la-mật trong Lục ba-la-mật một trong sáu pháp tu của các hàng Bồ-tát và, Thinh văn cũng dùng Thiền-Định để tu tập. Tuy cũng là Thiền định hết nhưng Thiền định của các nhà Tiểu thừa Thinh văn được giới hạn trong ba học. Chúng cũng chỉ có giá trị thực tiễn trong tự lợi mà thôi, còn đối với các hàng Bồ-tát không những có giá trị trong tự lợi mà còn mang đến lợi tha cho người nữa. Đó chính là sự khác biệt giữa Bồ-tát và Thinh văn là như vậy, nên trong cùng Thiền định, chúng cũng tùy thuộc vào thuộc tính của người hành trì và phương pháp hành trì, cũng tùy thuộc vào thuộc tính căn cơ của hành giả mà Thiền-Định được áp dụng cho các tông phái của Phật giáo sau này. Nên vấn đề sai biệt đó phải có tên gọi và cách thức hành trì trong phương pháp để phù hợp với căn cơ hành giả, nhưng vẫn không xa lìa Thiền-Định ban sơ của đức Đạo Sư.

Theo phương pháp tu Thiền-Định này, Phật Giáo Việt Nam cũng tùy theo thuộc tính căn cơ và trình độ của hành giả Việt Nam mà theo đó chọn ra ba phương pháp tu cho Phật Giáo Việt Nam là Thiền-Tịnh-Mật để hướng dẫn các hành giả nương vào ba phương pháp tu này. Tùy theo căn cơ và trình độ khế hợp với mỗi hành giả, sự thiết lập cách tu hành theo phương pháp Thiền-Định của mỗi tông phái Thiền-Tịnh-Mật trong nhiều Tông phái của Phật giáo phát triển sau này để phù hợp điều thân điều tâm của người hành trì. Kết quả đưa đến công dụng là làm sạch ba nghiệp thân-khẩu-ý không tạo ra nhân ác trong lúc tu tập của hành giả qua Thiền-Định. Đó là mục tiêu cuối cùng giải thoát khổ của đức Đạo sư cũng là pháp tu của Phật giáo Việt Nam trong hiện tại.

Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề thực hành của ba phương pháp thực hành Thiền định theo Thiền-Tịnh-Mật chứ không đề cập đến lý thuyết. Vậy làm cách nào để đưa tâm hành giả vào định trong lúc thực hành ba phương pháp Thiền-Tịnh-Mật để ba nghiệp Thân-Khẩu-Ý thanh tịnh trong lúc hành giả thực hành?

Phương pháp của Thiền để đưa đến Nhất tâm trong lúc thực hành chính là dùng tâm mình đếm hơi thở vô-ra từ một đến mười và bắt đầu đếm lại từ một: Thở vào đếm một, thở ra đếm hai tiếp tục cho đến mười và, bắt đầu đếm một trở lại từ một cho đến mười. Hay thở vào thở ra đếm một và, tiếp thở vào thở ra đếm hai và cứ như vậy đếm đến mười và trở lại từ một. Hai cách thở trên chúng ta có thể đếm ngược từ mười trở lại một cũng được. Hay theo dõi hơi thở vô-ra, có nghĩa là dán chặt tâm của mình lên trên hơi thở vô, hơi thở ra, liên tục không gián đoạn không dừng nghỉ, không cho tâm mình rời khỏi hơi thở (quan trọng chính ở đây là khi hành giả đếm hơi thở vô-ra hay theo dõi hơi thở vô-ra nơi mũi thì phải biết rõ là mình đang đếm hay đang theo dõi hơi thở, nếu chỉ biết đếm và theo dõi hơi thở theo quán tính thuộc lòng thì hành giả sẽ từ từ rơi vào trạng thái hôn trầm và sẽ đưa đến ngủ gục.) Ban đầu hơi thở của chúng ta mới tập cho nên có khó khăn và hơi thở nặng (thô) nhưng nếu chúng ta kiên trì vượt qua giai đoạn tập thở này thì một thời gian sau hơi thở hành giả bắt đầu đều đặn và trở nên nhẹ nhàng (tế) dần. Đến khi thuần thục thì sẽ đạt đến độ nhẹ nhàng như một sợi chỉ cho đến lúc hơi thở tạm ngưng… đó gọi là tu Chỉ hay tu Định (Samatha-bhāvanā). Sau đó hành giả dùng phương pháp theo dõi hơi thở (tùy tức) vô-ra này kết hợp với bốn niệm xứ: thân (kaya), thọ (vedanā), tâm (citta), pháp (dhamma) qua 16 đề tài lấy làm đối tượng quán kết hợp với pháp thở vô-ra mà thực hành phép chỉ-quán (sammatha–vipassana). Đây chính là phép tu Định-Tuệ song hành theo như Kinh Tạp A-hàm, Tương Ưng An-na-ban-na, kinh 778A-nan[1] (Hán tạng). Phương pháp kết hợp theo Sanskrit (Hántạng)như sau:

Thân niệm xứ: (Kāya-smṛty-upasthāna)
Khi niệm hơi thở vào dài, tập như niệm hơi thở vào dài.
Khi niệm hơi thở ra dài, tập như niệm hơi thở ra dài.
Khi niệm hơi thở vô ngắn, tập như niệm hơi thở vô ngắn.
Khi niệm hơi thở ra ngắn, tập như niệm hơi thở ra ngắn.
Giác tri tất cả thân hành niệm hơi thở vào, tập như tất cả thân hành niệm hơi thở vào.
Giác tri tất cả thân hành niệm hơi thở ra, tập như tất cả thân hành niệm hơi thở ra.
Thân hành an tịnh khi niệm hơi thở vào, tập như thân hành an tịnh niệm hơi thở vào.
Thân hành an tịnh khi niệm hơi thở ra, tập như thân hành an tịnh niệm hơi thở ra.

Thọ niệm xứ: (Vedanā-smṛty-upasthāna)
Giác tri hoan hỷ khi niệm hơi thở vào, tập như giác tri hoan hỷ niệm hơi thở vào.
Giác tri hoan hỷ khi niệm hơi thở ra, tập như giác tri hoan hỷ niệm hơi thở ra.
Giác tri an lạc khi niệm hơi thở vào, tập như giác tri an lạc niệm hơi thở vào.
Giác tri an lạc khi niệm hơi thở ra, tập như giác tri an lạc niệm hơi thở ra.
Giác tri tâm hành khi niệm hơi thở vào, tập như giác tri tâm hành niệm hơi thở vào.
Giác tri tâm hành khi niệm hơi thở ra, tập như giác tri tâm hành niệm hơi thở ra.
Giác tri tâm hành an tịnh, khi niệm hơi thở vào, tập như giác tri tâm hành an tịnh niệm hơi thở vào.
Giác tri tâm hành an tịnh, khi niệm hơi ra, tập như giác tri tâm hành an tịnh niệm hơi thở ra.

Tâm niệm xứ: (citta-smṛty-upasthāna)
Giác tri tâm khi niệm hơi thở vào, tập như giác tri tâm niệm hơi thở vào.
Giác tri tâm khi niệm hơi thở ra, tập như giác tri tâm niệm hơi thở ra.
Giác tri tâm hoan hỷ khi niệm hơi thở vào, tập như giác tri tâm hoan hỷ niệm hơi thở vào.
Giác tri tâm hoan hỷ khi niệm hơi thở ra, tập như giác tri tâm hoan hỷ niệm hơi thở ra.
Giác tri tâm an định khi niệm hơi thở vào, tập như tâm an định niệm hơi thở vào.
Giác tri tâm an định khi niệm hơi thở ra, tập như tâm an định niệm hơi thở ra.
Giác tri tâm giải thoát khi niệm hơi thở vào, tập như tâm giải thoát niệm hơi thở vào.
Giác tri tâm giải thoát khi niệm hơi thở ra, tập như tâm giải thoát niệm hơi thở ra.

Pháp niệm xứ: (dharma-smṛty-upasthāna)
Quán vô thường khi niệm hơi thở vào, tập như quán vô thường niệm hơi thở vào.
Quán vô thường khi niệm hơi thở ra, tập như quán vô thường niệm hơi thở ra.
Quán đoạn diệt khi niệm hơi thở vào, tập như quán đoạn diệt niệm hơi thở vào.
Quán đoạn diệt khi niệm hơi thở ra, tập như quán đoạn diệt niệm hơi thở ra.
Quán vô dục khi niệm hơi thở vào, tập như quán vô dục niệm hơi thở vào.
Quán vô dục khi niệm hơi thở ra, tập như quán vô dục niệm hơi thở ra.
Quán trừ bỏ khi niệm hơi thở vào, tập như quán trừ bỏ niệm hơi thở vào.
Quán trừ bỏ khi niệm hơi thở ra, tập như quán trừ bỏ niệm hơi thở ra.

Và theo Tương Ưng bộ kinh V (S. 54 Ānāpānasaṃyutta Pāli), hay Kinh Trung bộ III, số 118[2]… phương pháp kết hợp theo Pāli như sau:

Về kāya: (thân)
Thở vô dài, tôi rõ biết, thở vô dài.
Thở ra dài, tôi rõ biết, thở ra dài.
Thở vô ngắn, tôi rõ biết, thở vô ngắn.
Thở ra ngắn, tôi rõ biết, thở ra ngắn.
Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô.
Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.
An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô.
An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra.

Về Vedana: (thọ)
Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô.
Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.
Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô.
Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.
Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô.
Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.
An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô.
An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.

Về Citta: (tâm)
Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô.
Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra.
Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô.
Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra.
Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô.
Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra.
Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô.
Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.

Về Dhamma: (pháp)
Quán vô thường, tôi sẽ thở vô.
Quán vô thường, tôi sẽ thở ra.
Quán ly tham, tôi sẽ thở vô.
Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.
Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô.
Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.
Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.
Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.

Tất cả mọi phương pháp: đếm hơi thở vô-ra từ một đến mười, biết rõ hơi thở dài, ngắn, lạnh, nóng…  Đặt dụng tâm tất cả nơi toàn thân, biết rõ ràng hơi thở vô-ra, cho đến khi hơi thở vô-ra được phân biệt rõ ràng; những phương pháp khác về thở vô-ra và, cách theo dõi hơi thở vô-ra cùng, mười sáu đối tượng của bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp); hành giả lấy bốn niệm xứ làm đối tượng làm nền tảng cho việc thở vô-ra này. Phương pháp dùng hơi thở vô-ra để trụ tâm mình vào số đếm vô-ra nơi mũi từ một đến mười và, đếm trở lại cũng bắt đầu từ một đến mười, biết một cách rõ ràng… cho đến lúc pháp đếm này thành thục trong việc điều hơi thở…  Hay, pháp theo dõi biết rõ hơi thở vô-ra nơi mũi lúc hành giả lấy việc theo dõi làm nền tảng cho đến lúc thuần thục. Khi chúng ta thực tập theo dõi hơi thở vô-ra biết rõ ràng nơi mũi thực sự được nhuần nhuyễn rồi thì, sau đó hành giả thay vào việc theo dõi hơi thở vô-ramười sáu đối tượng của tứ niệm xứ (thân-thọ-tâm-pháp) như trên để thực hành. Khi thực hành pháp này hành giả cũng phải biết rõ là mình đang thực hành mười sáu đối tượng này theo thứ tự không nhầm lẫn. Thở vô-ra là một sự việc tự nhiên như chính cuộc sống của hành giả, nhưng hành giả phải biết mình đang thở vô, đang thở ra và, biết mình thở vô dài, biết rõ ta đang thở vô dài và, thở ra dài biết rõ là ta đang thở ra dài… Lúc này chúng ta có thể chọn một trong bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp: qua mỗi đối tượng là bốn cách), đối tượng nào thích hợp với mình thì có thể thực hành đối tượng đó không sao. Ban đầu hơi thở vô-ra của hành giả có thể thô và khó khăn trong việc điều hòa, nhưng sau đó từ từ tập nhiều thì sẽ trở nên dễ dàng nhẹ nhàng hơn cho đến lúc hơi thở có lúc trở thành như sương khói. Cuối cùng hành giả sẽ cảm thấy hơi thở như ngưng lại và, thân trở nên nhẹ nhàng như có như không, xuất nhập tùy ý mình, an lạc nhẹ nhàng xuất hiện. Bắt đầu hành giả có thể thực hành từ 15’ và nếu được cứ tăng dần lên từ 20’–30’–45’ cho đến 1 giờ hay hơn nữa. Vì phương pháp thực tập này càng nhiều chừng nào thì năng lực tập trung thiền định càng trở nên tích tụ lớn mạnh chừng đó. Việc mở mang và phát sinh trí tuệ sẽ theo sau và, đến một lúc nào đó đủ duyên thì, sức mạnh của định đó sẽ bùng vỡ, hiện tiền hành giả làm chủ được chính mình trong tự tại an vui giải thoát. Như trong kinh Trung Bộ III, số 118; niệm hơi thở vô hơi thở ra dựa theo kinh Bốn niệm xứ, đức Đạo sư dạy:

“Này các Tỳ-kheo đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt qua khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn niệm xứ.”

Hay như Kinh Tăng nhất A-hàm phẩm Quảng diễn[3], từ kinh số 1 (niệm Phật) cho đến kinh 10 (niệm Tử): Đây là một hình thức của Thiền quán ban đầu, được đức Đạo sư dạy cho đệ tử của Ngài cách quán niệm trên từ Phật cho đến cuối là niệm Tử (sự chết) đã nói lên được sự nhất thống của phương pháp Thiền định từ Như Lai Thiền cho đến Tổ sư Thiền phát triển sau này:

1. Niệm Phật:

“Hãy tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn.

Một pháp ấy là gì ? Đó là niệm Phật.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Thế nào là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành tựu quả bào lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:

“Gốc rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe từ NHư Lai rồi sẽ thụ trì.”

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Hãy lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt rộng rãi cho các ngươi.”

Các Tỳ-kheo bạch rằng:

“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”

Sau khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt chéo chân, buộc niệm ở trước, chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời. Trong khi mắt không hề rời, niệm tưởng công đức Như Lai:

Thể của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng. Gương mặt của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán mắt. Giới đức thành tựu giống như kim cương không thể phá hoại, trong sạch không tỳ vết cũng như lưu ly. Tam-muội của Như Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ, vĩnh viễn tịch tĩnh, không có niệm khác. Các thứ tình kiêu mạn, ngang bướng đã vắng im, ý tham dục, tưởng sân hận, tâm ngu hoặc, mạn kết do dự, tất đều tận trừ. Huệ thân của Như Lai, trí không bờ đáy, không bị chướng ngại. [554b01] Thân Như Lai, được thành tựu từ giải thoát, các cõi đã hết, không còn sinh phần để nói ‘Ta sẽ đọa nơi sinh tử’. Thân của Như Lai đã vượt qua thành trì của tri kiến, biết căn cơ người khác đáng được độ, chết đây sinh kia, xoay vần qua lại trong ngằn mé sinh tử, có người giải thoát, người không giải thoát; Như Lai thảy đều biết tất cả.

Đó là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên các Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không rời niệm Phật, liền sẽ được những thứ công đức này. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”

2. Niệm Pháp:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, chuyên tinh niệm Pháp, không có niệm tưởng nào khác, trừ các dục ái, không còn trần lao, tâm khát ái vĩnh viễn không nổi lên nữa.”

“Phàm Chánh pháp là ở nơi dục mà đạt đến vô dục, lìa các kết phược và các bệnh của triền cái. Pháp này giống như các loại hương, không có tỳ vết của niệm loạn tưởng.”

3. Niệm Tăng:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có niệm tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Tăng.”

“Thánh chúng của Như Lai thành tựu từ nghiệp lành, chất trực, thuận nghĩa, không có nghiệp tà, trên dưới hòa mục, pháp pháp thành tựu. Thánh chúng của Như Lai thành tự giới, thành tựu tam-muội, thành tựu trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát. Thánh chúng ấy gồm có bốn đội tám hạng. Đó là Thánh chúng của Như Lai, xứng đáng được tùy thuận cung kính, thừa sự, lễ bái. Sở dĩ như vậy là vì đó là ruộng phước của thế gian. Ở trong chúng này đều cùng là pháp khí, cũng vì tự độ lại độ người khác đến đạo ba thừa. Nghiệp như vậy gọi là Thánh chúng”.

4. Niệm Giới:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Giới.”

“Giới có nghĩa là dừng các điều ác. Giới khiến thành tựu đạo, khiến người hoan hỷ. Giới là anh lạc đeo thân, hiện những vẻ đẹp.”

“Phàm cấm giới, giống như bình cát tường, mọi sở nguyện liền đạt được. Mọi pháp đạo phẩm đều do giới mà thành tựu.”

5. Niệm Thí:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Thí.”

“Những gì tôi bố thí hôm nay, là tối thượng trong các sự thí, vĩnh viễn không có tâm hối hận, không mong đền đáp để mong được thiện lợi. Nếu người nào mắng tôi, tôi quyết không mắng trả. Dù người hại tôi, dùng tay đánh, dao gậy đập, gạch đá ném, tôi cũng sẽ khởi lòng từ, không nổi sân hận. Những gì tôi bố thí, ý muốn cho sẽ không dứt tuyệt.”

6. Niệm Thiên:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm Thiên.”

“Thân, miệng, ý trong sạch, không tạo hành vi ô uế; thực hành giới thành tựu thân. Thân phóng ánh sáng tỏa khắp mọi nơi, thành tựu thân trời kia. Các hành đầy đủ mới thành thân trời.”

7. Niệm Tịch tĩnh:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm tịch tĩnh.”

“Tịch tĩnh là tâm ý tưởng lắng đọng, chí tánh an nhàn, mà không nóng nảy; tâm hằng chuyên nhất, thích nơi vắng vẻ, thường tìm phương tiện nhập định tam-muội, thường niệm tưởng không ham tranh thắng, dành chỗ trước trên.

8. Niệm An-ban:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có [556b01] tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm an-ban.”

“Nói an-ban, tức là khi hơi thở dài, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang dài; nếu hơi thở lại ngắn, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang ngắn; nếu hơi thở rất lạnh, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang lạnh; nếu hơi thở lại nóng, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang nóng. Quán khắp thân thể từ đầu đến chân, tất cả đều nên quán biết. Nếu hơi thở lại có dài ngắn, cũng hãy quán hơi thở có dài ngắn. Dụng tâm đặt nơi toàn thân, biết hơi thở dài ngắn, tất cả đều biết rõ, cho đến khi hơi thở ra-vào được phân biệt rõ ràng. Nếu tâm đặt nơi thân, biết hơi thở dài ngắn, cũng lại biết rõ, đếm hơi thở dài ngắn, cũng lại biết rõ, đếm hơi thở dài ngắn cũng phân biệt rõ ràng.”

9. Niệm Thân:

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm thân.”

“Niệm thân là lúc nào cũng nhớ nghĩ đến tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương, mật, gan, tim, phổi lá lách, thận, ruột non, ruột già, bạch chức, bàng quang, dạ dày, thương đãng, phân, tiểu, dịch vị, nước mắt, đờm dãi, mủ, máu, mỡ, nước miếng, đầu lâu, não.”

“Cái nào là thân?
Đó là đại chủng gì?
Đó có phải là đại chủng đất?
Đó có phải là đại chủng nước?
Đó có phải là đại chủng gió?
Đó có phải là đại chủng lửa?
Được tạo ra bởi giống của cha, giống của mẹ chăng?
Nó từ đâu đến? Do ai tạo ra?
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm chết ở đây sẽ sinh về nơi nào?” 

10. Niệm Tử

“Tỳ-kheo chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm sự chết.”

“Chết là mất ở đây, sinh bên kia; qua lại các đường, sinh mạng trôi đi không dừng, các căn tan hoại, như khúc gỗ mục nát; mạng căn đoạn tuyệt, giòng họ [557a01] chia lìa, không hình không tiếng, cũng không tướng mạo.”

“Như vậy, này các Tỳ-kheo, đó gọi là niệm sự chết, liền được thành tựu đầy đủ quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”

Qua Kinh Tăng nhất A-hàm, phẩm Quảng diễn đã cho hành giả chúng ta một cái nhìn tổng quan về Thiền Định của đức Đạo sư;từ thiền quán nguyên thỉ cho đến Thiền công án hay Tham thoại đầu đưa đến NGHI TÌNH của Thiền tông trong những thời kỳ phát triển sau này tất cả đều phát xuất từ đây qua niệm thân và niệm tử.

Thiền tham công án hay Thiền tham thoại đầu, từ phương pháp tham công án hay tham thoại đầu mở ra chân trời mới trong việc thực hành cho hành giả trong việc nuôi lớn mở rộng khối nghi tình. Nhưng ở đây, hành giả không cần trả lời hay tìm hiểu kết quả của nghi tình mà chỉ cần siêng năng hành trì cho mối nghi tình trở thành năng lực lớn mạnh đưa đến một cách tự nhiên trong việc làm bùng vỡ khối nghi tình ở nơi hành giả qua tham công án hay tham thoại đầu trong nhất tâm miên mật về: “Thân này do Đất, nước, gió lửa, chẳng? Thân này được tạo ra bởi giống của cha hay giống của mẹ? Thân này nó đến tử đâu? Do ai tạo ra? Thân này chết rồi sẽ đi về đâu?” Hành giả tham công án hay tham thoại đầu tức là chúng ta cần tham thấu vào những gì chúng ta không biết, không hiểu. Chính cái không biết không hiểu đó sẽ sinh ra Nghi Tình, từ nghi tình này chúng ta luôn hỏi xoáy vào chúng càng lâu càng nhiều sẽ trở thành một khối NGHI lớn dần trong miên mật. Trước hết, ba nghiệp thân-khẩu-ý hành giả cắt đứt hết mọi duyên bên ngoài hay duyên ý bên trong chỉ còn có mỗi một công án, hay một thoại đầu trở thành miên mật nhất tâm bất loạn thì ngay lúc đó ba nghiệp trở nên thanh tịnh. Cùng lúc ấy, khối nghi tình đó càng ngày càng lớn mạnh, đến một lúc nào đó đủ duyên thì năng lực tập trung của thiền định này sẽ bùng vỡ cùng hiện tiền trí tuệ xương minh, giải thoát khổ liền có mặt và an lạc hiện ra, đây gọi là hiện tiền lạc trú.

Hay hành giả cũng có thể tu tập Thiền Định theo ba loại Tịnh quán của Kinh Viên Giác, cũng được đức Phật dạy:

“Người Thiện Nam! Tất cả chúng sanh, nếu Phật ở đời, hoặc Phật diệt hậu, hay thời mạt pháp, các chúng sanh có đủ chủng tính đại thừa, những ai có lòng tin, muốn tu tập Viên Giác bí tạng to lớn của Phật thì, nên ở nơi Già lam an cư với đồ chúng, hoặc có duyên sự nên tùy theo khả năng mà tư duy thiền quán như những gì Ta đã dạy; nếu không có duyên sự nào khác nữa thì, hãy kiến lập đạo tràng giới hạn theo ba thời gian: Nếu là dài hạn thì, một trăm hai mươi ngày; trung hạn thì trăm ngày; ngắn hạn thì tám mươi ngày, an trú nơi thanh tịnh. Nếu Phật đang ở đời thì, nên tư duy đúng (về Phật)*; nếu Phật đã diệt độ rồi thì, thiết kế hình tượng, mắt nhìn và tâm chánh tưởng nhớ lại, cũng như ngày còn tại thế, treo tràng hoa phan lọng, trải qua hai mươi mốt ngày. Đảnh lễ danh hiệu các đức Phật mười phương, cầu ai sám hối; nếu gặp cảnh giới tốt thì tâm được nhẹ nhàn. Một lòng nhiếp niệm trải qua hai mươi mốt ngày như vậy.”

“Nếu là đầu của ba tháng hạ an cư, phải ở nơi thanh tịnh của Bồ-tát, tâm lìa Thinh văn, không dựa vào đồ chúng. Đến ngày an cư, nên ở trước Phật tác bạch như vầy: ‘Con Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di tên… nương vào Bồ-tát thừa, tu hạnh tịch diệt, cùng trụ vào thật tướng thanh tịnh, lấy đại Viên Giác làm già lam cho con, an cư cả thân tâm, nơi tánh trí bình đẳng, tự tính Niết-bàn, không lệ thuộc vào đâu. Nay con được phép không nương vào Thinh văn, mà xin được mười phương Như lai cùng chư đại Bồ-tát an cư ba tháng, vì đại nhân duyên Vô thượng Diệu Giác của Bồ-tát nên không cần liên hệ với đồ chúng.’ Người Thiện Nam! Đó gọi là thị hiện an cư của Bồ-tát, qua ba kỳ hạn rồi, đi lại tùy ý.”

“Người Thiện Nam! Nếu các chúng sanh tu hành đời mạt thế cầu đạo Bồ-tát vào ba thời kỳ, nếu những cảnh giới kia, không phải là những gì hành giả đã được nghe thì, tuyệt đối không nên chấp nhận.”

“Người Thiện Nam! Nếu các chúng sanh tu Xa-ma-tha (chỉ)*, trước hết muốn đạt đến cực tĩnh tức không nên khởi lên nhớ nghĩ thì, cực tĩnh liền hiện lên tính giác. Tĩnh ban đầu như vậy, từ bản thân cho đến thế giới thì, giác cũng như vậy. Người Thiện Nam! Nếu giác biến khắp thế giới thì, trong một thế giới có một chúng sanh nào đó khởi lên một niệm, tức hành giả đều có thể biết hết tất cả, trăm nghìn thế giới lại cũng như vậy; nếu những cảnh giới kia; không phải là những gì hành giả đã được nghe thì, tuyệt đối không nên chấp nhận.”

“Người Thiện Nam! Nếu các chúng sanh tu Tam-ma-bát-đề thì, trước hết nhớ tưởng đến mười phương Như lai, tất cả mười phương thế giới Bồ-tát, nương vào các pháp môn thiền định cần khổ tu tập từ từ, phát đại nguyện rộng lớn, tự huân tập thành chủng tử; không phải là những gì hành giả đã được nghe thì, tuyệt đối không nên chấp nhận.”

“Người Thiện Nam! Nếu các chúng sanh tu Thiền-na thì, trước tiên phải giữ lấy cách đếm, trong tâm biết rõ đến các niệm khởi lên, dừng lại, mất đi (sinh-trụ-diệt), biến khắp trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), biết phân biệt số lượng của ý nghĩ rõ ràng, dần dần tăng thêm cho đến biết được cả một giọt mưa trong trăm nghìn thế giới, giống như mắt thấy vật dùng đang sử dụng; không phải là những gì hành giả đã được nghe thì, tuyệt đối không nên chấp nhận.”

“Đó gọi là phương tiện ban đầu của ba quán pháp. Nếu các chúng sanh siêng năng tinh tấn tu hết ba quán pháp này thì, gọi là Như lai xuất hiện ở đời; nếu những chúng sanh độn căn đời sau cuối cùng, do nghiệp chướng xưa không được thành tựu thì, phải siêng năng sám hối khởi lên hy vọng, trước hết phải đoạn ưa-ghét, ganh tỵ, dua nịnh, cầu tâm thắng thượng, tùy theo mà học lấy một trong ba quán pháp thanh tịnh, quán pháp này không được thì lại tu tập quán pháp kia, tâm không buông xả, theo thứ tự mà cầu chứng ngộ.”

Thiền định dù là phương pháp nào đi nữa cũng đưa đến chung cuộc là thanh tịnh ba nghiệp Thân-khẩu-ý để đạt đến giải thoát khổ đau. Đó là mục tiêu cuối cùng của đức Đạo sư muốn chúng đệ tử của mình phải đạt được qua những pháp tu tập Thiền Định qua các kinh là Tiểu-Đại thừa, tùy theo sở thích phù hợp căn cơ của từng hành giả, nếu thấy thích hợp thì tu tập theo đó mà áp dụng trong thực hành.

Phương pháp của Tịnh và Mật: (ngoài phương pháp thực hành riêng, Tịnh độ tông và Mật tông theo nghi quỹ đàn pháp của mỗi tông ra) đối với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của Phật giáo theo hệ Bắc truyền thường dùng hai thời công phu để thể hiện việc hành trì cho mỗi ngày là: niệm Phật, tụng kinh, bái sám, quán tưởng, trì chú… Việc hành trì ấy có thời gian ấn định vào những giờ giấc nào trong ngày từ sáng cho đến chiều tối. Ngoài phương pháp tu có giờ giấc chung cho một tập thể Tăng đoàn sống theo lục hòa, hành giả còn có thời gian phát triển riêng theo thuộc tính cá nhân mỗi hành giả qua bốn oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi trong Giới Luật (Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni) được đức Đạo sư đã chế riêng ra cho bốn chúng đệ tử xuất gia. Giới Luật của đức Phật nhằm giữ gìn ba nghiệp (Thân-Khẩu-Ý) được trong sạch, bên cạnh đó luôn phải tự biết việc mình đang làm theo ‘hiện pháp lạc trú’ của luật “Tỳ-ni nhật dụng”. Bộ luật Tiểu dùng hằng ngày dành cho các vị mới vào xuất gia làm chú tiểu, luôn luôn kiểm soát nhất cử nhất động hằng ngày trong cuộc sống phải rõ biết mình đang làm gì nghĩ gì, mặc dù đã thụ giới Sa-di, Sa-di-ni hay Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Cộng vào đó theo pháp tu tứ chánh cần, trong từng ý nghĩ và hành động ‘miệng nói và thân tạo tác’ khi khởi lên (ý nghĩ cùng việc làm đó ‘thiện’ hay ‘ác’); nếu là thiện đã nghĩ đã làm rồi thì, nên phát triển lớn mạnh thêm. Nếu việc thiện chưa nghĩ chưa làm thì nên khởi nghĩ và thực hành tức khắc và phát triển lớn mạnh hơn. Nếu là ác đã nghĩ đã làm thì nên chấm dứt lập tức; nếu chưa làm thì đừng bao giờ tơ tưởng và thực hành chúng) theo chức năng “Cầu tuệ giác Bồ-đề (Phật đạo).”

Trong việc Cầu tuệ giác Bồ-đề này mang hai hình thức: “Thượng cầu tuệ giác Bồ-đề, hạ hóa chúng sanh” và “Cầu tuệ giác Bồ-đề mà cầu sinh Cực lạc” cho mỗi hành giả. Từ khi hành giả theo học hỏi nghiên cứu, hanh giả phát hiện ra được tuệ giác vô thượng Bồ-đề của đức Đạo sư cũng chính là bản giác của tâm mỗi chúng ta, để từ đó hành giả chí nguyện phát tâm thực hành mong đạt được tuệ giác ấy qua việc thanh tịnh ba nghiệp ‘thân-khẩu-ý’. Qua thời gian huân tập thực hành lâu dài, lặp đi lặp lại hằng ngày, kết quả sẽ tích lũy từ từ thêm lớn mạnh, giai đoạn này gọi là tâm Bồ-đề (trí tuệ) phát sinh. Sau đó đủ duyên, năng lực thực hành tích lũy đủ lớn mạnh thì bùng vỡ thể hiện hoàn toàn tuệ giác hiện hữu (toàn giác). Phương pháp này không chỉ dành riêng cho các hàng xuất gia không thôi, mà các hàng Phật tử tại gia cũng thực hành ngay tại nhà mình y như các hàng xuất gia trong việc thanh tịnh hóa ba nghiệp của mình. Vì tại gia vẫn có năm giới, bát giới, Thập thiện, Bồ-tát giới tại gia v.v… mà chúng ta áp dụng theo học giới của mình đã lãnh thọ. Ngoài hai thời khóa tụng ra, Tứ chánh cần hay Luật Tiểu “Tỳ-ni- nhật dụng”; chúng ta cũng có thể thực hành được những điều nào trong luật Tiểu nếu thấy phù hợp với hành giả, khi có điều kiện cho phép.

Qua hai thời công phu của mỗi khóa trì tụng kinh chú này, ngoài việc “trên cầu tuệ giác vô thượng, dưới hóa độ chúng sanh” vẫn còn có mục đích nữa là vì “cầu tuệ giác Bồ-đề mà cầu sinh Cực lạc”. Với mục đích cầu sinh Cực lạc này có hai hình thức thể hiện: Một, cầu vãng sanh về nước Cực lạc của đức Phật Di-đà để hoàn thành năng lực. Rồi sau đó trở lại đời ác năm trược, trước nhất để giáo hóa chúng sanh; thứ hai thực hiện nước Cực lạc ngay trên cõi đời ác năm trược này nhờ vào thần lực của đức Phật A-di-đà mà thực hiện. Như, Di-đà đại bản (Đại chính 12/337) dạy: “Có người muốn nguyện độ sanh nhanh chóng nên nguyện đem công đức của nguyện này mà tự hoàn thành, đi vào thế giới sanh tử mà tự tại thuyết pháp giáo hóa, nhờ vào thần lực của đức Phật A-di-đà làm cho người này khi giáo hóa chúng sanh phát khởi chánh tín cho đến khi thành tựu Bồ-đề, nhưng người này từ đầu đến cuối không bị cái khổ của các đường dữ ảnh hưởng, dù họ sống trong đời ác năm trược nhưng không khác gì họ đang sống trong cõi nước Cực lạc.” Vào thời kinh chú trì tụng buổi sáng, tôn giả A-nan đã từng phát nguyện, trong bài tựa của Chú Lăng nghiêm:

…“Nguyện kim đắc quả thành bảo vương,
Hoàn độ như hằng sa chúng;
Tương thử thâm tâm phụng trần sát,
Thị tắc danh vi báo Phật ân.”…

Theo bài tựa của Thần chú Lăng Nghiêm, chí nguyện của Ngài đã nói lên được hai mặt: “Thượng cầu tuệ giác vô thượng và hạ hóa chúng sanh”. Ở đây, cầu tuệ giác vô thượng chính là cầu Tuệ giác vô thượng của Phật. Nếu viên mãn tuệ giác này là thành Phật; mà muốn thành Phật thì trước hết phải phát tâm Bồ-đề, tức là hành giả trên phải cầu hoàn thành tuệ giác vô thượng và dưới là phải hóa độ chúng sanh, nguyện vào đời năm trược trước hết, sau khi hoàn thành tuệ giác. Trì chú là một hình thức làm tăng thượng để diệt trừ các mê hoặc vi tế. Cộng với sức gia hộ đại hùng – đại lực – đại từ bi của Phật, biến năng lực Định thực hành thâm sâu với năng lực thực hành kiên cố sẽ vượt qua hết mọi khổ nạn trong cuộc sống dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Còn thời công phu buổi chiếu tối là đem chí nguyện ban đầu buổi sáng và tất cả mọi hoạt động của hành giả mà hồi hướng cầu sinh về thế giới cực lạc. Vì hành giả sống trong cuộc đời ác năm trược này nội chướng của dục vọng và ngoại chướng của mọi nghịch cảnh luôn luôn áp lực, sẽ làm cho chí nguyện của hành giả thối thất mai một, khó có thể làm cho chí nguyện ban đầu chúng ta hoàn thành viên mãn quả vị Phật được. Vì vậy, hành giả phải hồi hướng cầu sinh về Cực lạc.

Hai thời khóa tụng này rất thích hợp với các hành giả có căn tánh bình thường, không thích hợp với những pháp môn tu cao sâu. Người sơ cơ nên phải nương vào hai thời khóa tụng này mà tinh tấn hành trì thì chắc chắn sẽ đạt được những gì hành giả mong cầu. Nhưng muốn cho công phu hành trì của mình có được kết quả lợi ích, hành giả trước phải học cho thuộc cả chữ lẫn nghĩa của hai thời khóa này. Để khi vừa tụng, hành giả vừa lắng nghe cứu xét ý nghĩa, để buộc tâm ý của mình vào một cảnh duy nhất, không cho tâm ý dong ruổi theo ngoại duyên. Từ từ, hành giả sẽ làm chủ được tâm ý và, điều phục tâm mình trở nên thuần thục nhuần nhuyễn, chuyên tinh miên mật. Cho đến một ngày nào đó đủ duyên, tâm trí sẽ khai mở, năng-sở trở thành một thì quán pháp mới thành tựu viên mãn.

Thời khóa tụng buổi sáng: khi mà căn cảnh chưa giao tiếp khởi động, tâm còn trong tình trạng lặng yên trong sạch. Hành giả trì tụng chú Lăng Nghiêm để chế phục Lục Tình, không cho tâm vọng động phan duyên theo ngoại cảnh là nhất rồi. Khi tâm hành giả rỗng suốt, yên lặng, tĩnh chỉ thì; tánh nhiệm mầu của Như Lai Tạng sẽ hiển lộ ra. Vì Thần chú Lăng Nghiêm là pháp bí mật nhiệm mầu lưu suốt từ bản tâm thanh tịnh của Như Lai, nên có năng lực có thể chuyển hóa thân tâm và hoàn cảnh của hành giả. Khi chúng ta ở trong trạng thái thân tâm vắng lặng, chính là lúc tâm ta và tâm Phật tương ưng mà tụng chú này; để tâm tâm tương ứng, chú chú hỗ tương. Ngay lúc đó, năng lực tâm sẽ phát sanh ‘vô công dụng đạo’, thành tựu sức gia trì, diệt trừ ma chướng, tịnh hóa ba nghiệp, mang lại lợi lạc cho mình như ý nguyện. Nhờ vào sức gia trì thần chú, thân tâm hành giả luôn được yên tịnh và tiếp tụng bài Đại Bi thần chú cùng 10 bài chú sau để tạo thành sức gia trì liên tục. Đưa thân tâm hành giả đến trạng thái thanh tịnh rỗng suốt, giữ cho pháp hiện quán càng ngày càng sâu; ba nghiệp trở nên thanh tịnh.

Trong mỗi bài chú, chúng có công năng tác dụng khác nhau: giúp cho hành giả giải trừ được tất cả nghiệp chướng, diệt hết phiền não, quét sạch vô minh, làm phát sanh các công đức thù thắng vô lậu. Cuối cùng, chúng đưa hành giả đến trạng thái tâm cảnh vắng lặng, trí giác viên minh, phát sanh diệu dụng tương ứng với pháp tánh làm thành tựu mọi sở nguyện của hành giả.

Đến đây, tâm của hành giả hoàn toàn vắng lặng, trí giác sáng suốt, nhưng vẫn còn an trụ cảnh sở quán, chưa đạt đến trạng thái nhất tâm. Vì vậy hành giả tiếp phải tụng bài “Bát Nhã Tâm Kinh” để thấy rõ vạn pháp đều không, tâm cảnh nhất như, không năng không sở. Bấy giờ, quán pháp của hành giả mới đạt đến trạng thái hoàn toàn tự do, vô ngại; không vướng mắc nơi tâm cảnh nữa. Vì bấy giờ, tuệ giác viên minh, tâm thường tịch chiếu, tâm-cảnh nhất như.

Cuối cùng, hành giả vì lợi lạc quần sanh đem hết công tu tập của mình hồi hướng lên Tam Bảo chứng minh gia bị cho tất cả Thánh phàm trong ba cõi, sáu đường, đều ân triêm pháp lạc. Tiếp theo là niệm Phật để cầu thật tướng lý thể chân như. Và kết thúc bằng bài Tam Tự Quy Y, nghĩa là gồm thâu tất cả công đức đã được thành tựu để triển khai tự tánh Tam Bảo mà quay về nương tựa nơi chính mình và, thật chứng lý thể Tam Bảo tự thân.

Thời khóa trì tụng buổi chiều-tối: cho những hành giả muốn an thân lập mệnh, khi nhàm chán cõi Ta-bà ác trược; đầy khổ đau hiểm nạn và, đã mỏi mệt trong quá trình qua lại trong sáu cõi ba đường sinh tử. Hành giả phát ý tu hành mong hướng về cõi tịnh độ an vui giải thoát khổ, mà xa lánh cõi trần gian u tối này bằng vào thực hiện một cuộc cách mệnh sau cùng; là nhờ vào tất cả công đức tu tập của mình để đạt được một bản mệnh vĩnh hằng nơi bản quốc Cực lạc của đức Bản tôn. Tóm lại, thời trì tụng kinh chú ban mai, được cái lợi thế là tâm trí hành giả sau thời gian nghỉ ngơi. Lúc này, tâm ý vắng lặng chưa phan duyên khởi động tiếp xúc, giáp mặt với mọi rối rắm của cuộc sống. Do đó, hành giả chỉ cần hạ thủ công phu; trước hết là hàng phục vọng tâm trừ diệt ma chướng, để thành tựu mọi thứ công đức vô lậu giải thoát. Sau nữa, nguyện hồi hướng tất cả mọi thứ công đức có được này cho lý tưởng giải thoát về thế giới Cực lạc, để thực hiện một cuộc sống vĩnh viễn an lạc với những thắng duyên nơi cõi nước này, nhằm hoàn thành Tuệ giác cuối cùng là quả vị Phật. Sau đó, hành giả hồi nhập trở lại cõi đời ác trược mà hóa độ chúng sanh, hay thực hiện cõi nước Cực lạc ngay trong cuộc đời ác năm trược này nhờ vào thần lực của đức Phật A-di-đà mà giáo hóa như ý. Tuy sống trong cuộc đời ác trược nhưng tâm vẫn sống an lạc như cõi nước Cực lạc.

Qua hai thời công phu: thời công phu buổi sáng nghiêng hẳn về Mật nhiều và thời buổi chiều tối nghiêng về Tịnh. Tuy nhiên dù là Mật hay là Tịnh đi nữa trên ý nghĩa tuy khác về phương pháp nhưng mục đích là để hoàn thành chí nguyện ban đầu: “Thượng cầu Tuệ giác vô thượng Bồ-đề (cho cá nhân) và, dưới hạ hóa chúng sanh (cho tha nhân)”. Buổi sáng vừa phát sinh chí nguyện cầu Tuệ giác Vô thượng vừa thực hành, buổi chiều tối đem dụng công của thực hành hồi hướng cho sự hoàn thành chí nguyện. Dù là thực hiện ngay trên cõi đời ác năm trược này hay cầu vãng sanh về thế giới Cực lạc, hành giả đều bỏ công sức ra để mà thực hành hết. Mọi sự trì tụng cứ như thế lặp đi lặp lại hằng ngày với sự tinh tấn liên tục trong suốt hai mươi bốn giờ. Sau đó, mục đích hoàn thành sứ mệnh, thực thi chí nguyện ban đầu của hành giả trong việc lắng tâm, theo dõi, nghe âm mình hiện đang trì tụng, niệm Phật, đọc tụng, để đưa tâm hành giả vào Định nhất tâm bất loạn. Lúc này, ba căn Thân-Khẩu-Ý trở nên thanh tịnh. Nhân của ba nghiệp không phát khởi thì, quả của ba nghiệp thân-khẩu-ý cũng không hình thành và hiện hữu; ngay lúc ấy, hành giả đồng Phật vãng Tây phương.

Mục đích tối hậu của những lời dạy của bậc Đạo sư nhằm thoát khổ để đạt được an vui trong hiện tại cũng như tương lai là phải dùng phương pháp Thiền Định để đưa tâm hành giả đi vào nhất Tâm bất loạn qua pháp lắng nghe danh diệu hay âm thinh trì tụng kinh chú để thanh tịnh ba nghiệp Thân-Khẩu-Ý của mình tương ưng là một. Cùng lúc, chính ba nghiệp của mình và ba nghiệp của chư Phật tương ưng với nhau là một (theo Đại Nhật kinh sớ) trong lúc thực hành. Cũng vậy, Mật tông ngoài hình thức thiết lập đàn giới để hành giả trước khi đi vào phương pháp chính thức của hành pháp trì giới. Tức hành giả sau khi đã lập đàn giới hay những gì cần thiết để hành giả thực hành, đi vào hành pháp định, làm cho ba mật tương ưng trở thành một. Hành giả phải dán tâm mình vào âm thinh đang trì chú của mình, những âm thinh này phát xuất từ từ tự tâm mình ra cửa miệng chúng đang trôi chảy như một dòng suối và, lúc này như là mình đang uống những thứ âm thinh đó vào người mình vậy.

Đó chính là phương pháp cột tâm mình vào âm thinh trong lúc độc tụng niệm Phật, trì chú; sẽ đưa tâm hành giả vào định nhất tâm một cách nhanh chóng cho hành giả Tịnh độ và làm cho ba mật tương ưng dành cho hành giả trì chú theo đàn pháp của Mật tông. Đây chính là phương pháp tu nhĩ căn viên thông của Bô-tát Quán Thế Âm. Giống như người mới học võ, ban đầu; họ thực hiện những động tác theo bài chậm chạp và khó khăn, nhưng người luyện võ muốn thành tựu như ước nguyện của mình thì, phải luôn luôn siêng năng tinh tấn thực hành cố luyện đi luyện lại, càng nhiều chừng nào thì môn võ công và nội lực càng tăng lên. Cho đến một ngày nào đó, môn võ mình đang trau dồi và luyện tập luôn luôn đó sẽ trở thành thuần thục lanh lẹ nhạy bén trong từng động tác và, trở thành phản xạ tự nhiên. Lúc này, chúng ta không cần nhớ bài hay thế võ phải đánh như thế nào nữa mà các thế võ tự nhiên trở thành phản xạ lưu xuất một cách tự nhiên tự tại. Hay cũng giống như đứa trẻ mới lên ba bắt đầu tập nói tiếng mẹ đẻ, cũng phát xuất từ sự lắng nghe của chúng qua những tiếng động, âm thanh chung quanh mà bắt đầu tập nói từng tiếng một. Qua ngày tháng lập đi lập lại thường xuyên, chúng có thể nói thông thạo dần; qua vài năm sau đó trong tập nói và lớn lên, nếu chúng muốn học ngoại ngữ thì cũng không ngoài việc học thuộc lòng từng từ ngữ và cấu trúc văn phạm của ngôn ngữ khác. Chúng muốn học để nói và sử dụng nó vào trong cuộc sống thì bắt buộc phải nổ lực học thuộc lòng qua lập đi lập lại trong cách phát âm và lắng nghe nhiều lần từ vựng của ngôn ngữ đó cho đến khi nào thuộc lòng nhuần nhuyễn. Khi cần sử dụng qua, từ ngữ đó được bật ra nơi cửa miệng liền. Trong tu tập thực hành pháp hành này, hành giả muốn ba nghiệp thanh tịnh thì việc tu tập cũng phải như người luyện võ, hay người học bắt đầu học tiếng mẹ đẻ hay sinh ngữ các nước khác vậy. Ở đây, hành giả chúng ta chỉ cần làm đúng pháp hành thực tập trong siêng năng tinh tấn thì năng lực tập Định sẽ lớn mạnh thêm lên và, trí tuệ sẽ bùng vỡ theo. Sau đó, việc gì chúng ta cũng thành tựu được hết. Hãy cố gắng siêng năng tinh tấn nhất tâm trong việc lắng nghe theo lời kinh tiếng kệ hay âm thanh trì chú trong lúc hành trì, nhận biết mình đang lắng nghe lời kinh tiếng kệ trì chú của những âm thanh đó và, khi nào việc lắng nghe và biết đó trở thành một trong nhất tâm. Đó là phương pháp thực hành thành tựu trong việc thanh tịnh ba nghiệp thân-khẩu-ý và, an vui giải thoát sẽ hiện kề bên bước chân kế tiếp sau đó của chúng ta trong thành tựu pháp tu Chỉ-Quán (sammatha–vipassana), như đức Đạo sư đã dạy.

Tóm lại, Thiền Định là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt qua khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý chứng ngộ Niết-bàn. Điều đó thông qua ba phương pháp Thiền-Tịnh-Mật mà truyền thống Phật giáo Việt Nam đã thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử từ khi du nhâp vào Việt Nam và cho đến tận ngày hôm nay. Nét đẹp rõ nét nhất là sự thống nhất Phật giáo Việt Nam giữa các tông phái Nam truyền và Bắc truyền cùng các hệ phái khác thành một mối trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Pháp tu thiền-định cốt tủy truyền thống của đức Đạo sư cho cả ba pháp tu Thiền-Tịnh-Mật nhằm thanh tịnh hóa ba nghiệp Thân-Khẩu-Ý phát triển sau này được biểu hiện qua danh xưng. Trên mặt hiện tượng, hình thức thì chúng khác nhau trên phương pháp hành trì; nhưng trên mặt kết quả thực hành đồng chiều hướng dùng phép tu Thiền-Định đưa đến thoát khổ qua việc làm cho ba nghiệp thanh tịnh, để đạt được an vui ngay trong hiện tại cũng như trong tương lai. Tất cả đều qua phương pháp thiền định; ngoài phương pháp Thiền Định ra không có bất cứ phương pháp nào có thể đưa hành giả đến bến bờ giải thoát khổ; bằng cách làm cho ba nghiệp Thân-Khẩu-ý trở nên thanh tịnh và giải thoát hết mọi sự trói buộc của Thiền-Định. Vì còn lệ thuộc là còn trói buộc, cho dù lệ thuộc đó là pháp Thiện đi chăng nữa thì cũng là lệ thuộc trói buộc vướng mắc sinh ra đau khổ. Giải thoát là giải thoát tất cả ngay đến khái niệm về tri kiến giải thoát cũng phải bị vượt qua. Đó mới chính là con đường Trung đạo của đức Đạo sư và chư Phật trong ba đời đi và, cũng là con đường mà Phật Giáo Việt Nam đang đi, dù là Nam truyền hay là Bắc truyền.

[ trích TU TẬP THIỀN ĐỊNH, Soạn và dịch: Đại Lãn Thích Đức Thắng ]

________________

[1] Kinh Tạp A-hàm, Tương Ưng An-na-ban-na (Ānāpāna), kinh 778 A-nan (Bản dịch: Thích Đức Thắng).
[2] Kinh Trung bộ III,số 118 (Bản dịch:  HT. Thích Minh Châu).
[3] Kinh Tăng Nhất A-hàm, Phẩm Quảng diễn (Bản dịch: Thích Đức Thắng).

Xem thêm

bo tat

Thích Đức Thắng: Hạnh nguyện của Đức Bồ tát Quán Thế Âm

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và …

luc to

Thích Đức Thắng: Pháp dạy người của Lục Tổ Đại Sư

I. TỪ HOÀNG MAI ĐẾN ĐÔNG SƠN Sau khi Lục tổ Đại sư đắc Pháp …

nguyen du

Thích Đức Thắng: Nguyễn Du và Phân Kinh Thạch Đài

梁 昭 明 太 子 分 經 石 臺 梁 朝 昭 明 太 子 …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.