HT To Lien 1
TT. Thích Tố Liên diễn thuyết tại Hội nghị | Ảnh tư liệu

Thích Tố Liên: Ký sự phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Tích Lan

1. DỰ HỘI NGHỊ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI

 

10 giờ đêm ngày 23 tháng 5 năm 1950, chúng tôi ở chùa Đại Bồ Đề (Calcutta) ra trường bay Calcutta đã gặp một số cả Chư Tăng và thiện tín là mấy Phái đoàn Phật giáo các nước đi họp Hội Nghị Phật giáo Quốc tế ở Thủ đô Tích Lan. Đi dọc đường máy bay phải đổ hai lần: Một lần đổ ở tỉnh Madras để chờ máy bay khác đến đón, lần này đỗ đã hết già nữa ngày. Lần nữa đổ ở biên giới Ấn Tích để trình giấy thông hành chỉ độ 30 phút, vì thế mãi 3 giờ chiều hôm 24 mới đến Colombo.

ky su 1
Tập Ký sự phái đoàn PGVN đi Ấn Độ và Tích Lan của TT Tố Liên

Ở tàu bay xuống, tất cả các Phái đoàn Phật giáo đi chuyến máy bay này đều phải cảm động với bao nhiêu tấm đạo tâm thân mật của ban Chiêu tập Hội nghị và nhân viên hội Phật giáo Đại Bồ Đề Tích Lan, vì có tới hàng trăm người, có cả mấy vị cao cấp trong Chính phủ Tích Lan, các giới Phật giáo Tích Lan đưa ra khá nhiều ô tô nhà để đón rước. Bất lụân quen hay lạ, ai nấy đều tay bắt mặt mừng, thực là vui vẻ tưng bừng. Làn không khí cực lạc nhân gian đã bắt đầu diễn. Các phái đoàn được ban chiêu tập chia nhau đón về các chùa hoặc nhà tư. Chỉ riêng có Phái đoàn Phật giáo Việt Nam là nhờ có thư của ông Tổng thư ký Hội Đại Bồ Đề Ấn Độ giới thiệu từ trước, nên ngoài ban chiêu tập tiếp đón ra còn có Ông RAJA HEWAVITARNE hiện đương là Bộ trưởng Bộ Thương mại trong chính phủ Tích, lại là Phó Hội trưởng Hội Đại Bồ Đề Tích Lan với một số các ông các Bà yếu nhân của hội đó ra đón. Ông phó hội cho biết vì tôi không thạo tiếng Anh và tiếng Tích Lan mà đến chùa ở không tiện cho tôi về ngôn ngữ giao tế, vì theo phép Phật giáo Tích Lan thì thiện tính như ông PHẠM CHỮ không được ở chung với chư Tăng, về ở nhà riêng của ông để ông PHẠM CHỮ được ở chung với tôi cho tiện việc giao dịch thông ngôn trong mọi công việc. Tôi cũng nghĩ, đi đây là cốt được ích chung cho đạo, không được phép câu nệ với những điều chi tiết riêng mình để làm trở ngại đến việc công. Bèn nhận lời về tạm trú nhà ông RAJA HEWAVITARNE.

 

2. NỀN NẾP CỦA MỘT GIA ĐÌNH PHẬT GIÁO

 

Vừa đúng nửa tháng, chúng tôi ở nhà Ông RAJA HEWAVITARNE càng ở lâu càng phục tấm lòng mộ đạo kính Tăng của hai Ông Bà nhà quý phái đàn việt này. Nhiều khi ông đi làm về lại lái xe đưa chúng tôi đi chiêm bái, đi hội họp hay đi xem các nơi, cũng vì thế mà các danh lam thắng cảnh, các trường học Phật pháp, hoặc thế gian, nhà thương, nơi nuôi ông già, bà cả yếu đuối nghèo túng mà không có con cháu, dĩ chí mấy sở kỹ nghệ và viện bảo tàng ở thủ đô Tích Lan là tôi đều được đến chiêm bái và thăm xem.

Hơn nữa Bà RAJA HEWAVITARNE lại có một tinh thần đáng phục: Thân danh bà là vợ một ông Bộ trưởng lại làm chủ hai xưởng công nghệ lớn ở Thủ đô Tích Lan, năm nay gần 50 tuổi, trong nhà phú quý cực điểm, thế mà đầy tớ chỉ vẻn vẹn có hai người. Ông bà quý phái đàn việt này chỉ có hai người con: một trai một gái mà đều còn đang đi học cả. Hai cô cậu này nếu là con nhà phú quý khác tất nhiên sẽ được chiều chuộng đến bực nào! Chiều chuộng quá hoá hư hỏng, trở nên những hạng thiếu niên vô hạnh, đên khi thành niên sẽ làm hại đến tự thân chúng, đến gia đình chúng, cố nhiên di hại đến cả xã hội. Đằng này không thế, người ta yêu con khác, bắt con cũng phải làm các việc vặt trong nhà. Chính buồng tôi ở, sáng nào cậu con trai cũng vào mở cửa xem xét, rồi bảo người nhà quét dọn. Cô con gái mỗi buổi đi học về phải săn sóc luôn vào việc cơm nước hầu cha mẹ. Lòng yêu con của ông bà này thực là biết đường thương yêu, muốn cho con sau này nên người kiểu mẫu. Về bốn đức công, ngôn, dung, hạnh, có lẽ Bà đàn việt này chiếm ưu điểm trong bạn quần thoa, vì hôm nào tôi cũng thấy bà ta dậy rất sớm làm việc với người ở, suốt nửa tháng trời không thấy bà ta nặng lời với người ở lần nào. Có một lần tôi thấy bà ta làm việc ở bếp từ 3 giờ sáng cho mãi đến 10 giờ trưa. Tôi xuống hỏi, thì bà trả lời: là đến phiên bà được cùng cơm ngọ 30 vị học sinh Tăng tại trường Phật học của Hội Đại Bồ Đề Tích Lan; cần phải thổi nấu gấp để mang đến kẻo quá ngọ.

Lại mỗi khi gia nhân mang cơm cho chúng tôi, bà tự lên săn sóc từng ly từng tý, không bữa nào là để mặc cho người ở, khi chúng tôi đi đâu về, chỉ độ mấy phút, đã thấy nước giải khát Tôi còn thấy ít khi bà bỏ những khoá lễ long trọng ở các chùa, thế mà bà quý phái đàn việt này còn làm giám đốc 3 viện nuôi ông già bà cả nghèo khổ với không có con cháu và trẻ mồ côi nữa. Bà đàn việt này thật là người hiểu đạo và tự mình đem mình ra làm việc đạo và vẫn đủ bổn phận làm nội tướng của một đại gia đình phú quý. Bà này thật: “Giàu mà vẫn siêng năng, sang mà không biển lận”. Có thể đem 10 chữ trên này để tặng cho bà rất thích đáng.

Dưới đây là bài tôi tặng bà RAJA HEWAVITARNE:

Trong làng mệnh phụ thiếu chi a!
Phú quý nhân từ được mấy bà,
Giàu vẫn cần lao thêm hỷ xả,
Quý mà phúc hậu lại hiền hòa,
Soi gương từ đức đời vong bản,
Rập bảng tam quy nết vị tha,
Giá đủ tu my hay biết mấy,
Trượng phu ai đứng giữa quần thoa.

 

3. LÒNG YÊU QUÝ KHÁCH NGỌAI QUỐC CỦA ÔNG K-T WIMALASEKERA

 

Chúng tôi còn cảm động sâu xa với gia đình ông: K-T WIMALASEKERA nữa, nguyên nhân chỉ vì con trai ông gặp chúng tôi nói chuyện có một lần tại chùa Đại Bồ Đề Ần Độ. Dịp đó cậu ta qua Ấn Độ cũng về việc Phật, khi về nhà không biết cậu ta nói những gì mà làm cho cả hai cha mẹ và hai chị em của cậu đi hai ô tô ra tại sân trường bay Colomba đón chúng tôi. Trong khi đón rước mừng mừng rỡ rỡ một cách khắn đắn tựa hồ như đón người nhà đi đâu xa xôi lâu ngày nay mới về. Vì tôi không thạo tiếng, để cho cả nhà quý phái đàn việt này cứ quấn quít lấy ông PHẠM CHỮ để nhờ thông ngôn những lời chào mừng và khẩn khoản mới về ở nhà riêng.

Gia đình này cứ khăng khăng không chịu để cho ông Phó hội trưởng hội Đại Bồ đề mời về nhà. Sau tôi phải đòi ba lần nhờ ông Phạm Chữ nói rõ rằng: “Tôi là đại biểu Phật giáo Việt Nam phải ở nơi có tính cách công cộng của đoàn thể Phật giáo để tiện cho công việc đạo, còn như đối với Quý đàn việt tôi thâm cảm thấy đạo tâm thân mật nhường ấy, thế nào tôi cũng đến thăm và chơi một ngày để cùng đàm đạo”. Bấy giờ mới chịu để cho ông Phó hội trưởng đón về. Tưởng rằng như thế thì thôi chả là đến sáng hôm sau, ông chủ cùng các con trai con gái lại đều đến nhà ông RAJA HEWAVITARNE để thăm chúng tôi rồi tiếp tục mọi ngày ít nhất ông với các con cũng đến thăm một lần, làm cho tôi vì cảm động rồi đâm ra suy nghĩ: “Mình với gia đình đàn việt này có lẽ cũng chỉ là những tấm thân đã bị thay hình, đổi dạng của những kiếp nào đến nay mà đều không biết đó thôi, nhưng đạo tâm vẫn cùng nhau ở trong Phật pháp dày lắm, cho nên thiện duyên đến khi cảm ứng là phải gặp gỡ, nếu không thì sao mình với người ta còn là khác nước, khác nòi, không phải là thầy là bạn, cũng chưa từng gặp nhau bao giờ, mà lại thiết tha đến mực ấy, thực là “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” chứ đây lại là: “Hữu duyên vạn lý năng tương ngộ” mà là duyên Phật Pháp chứ không phải là duyên thế tình”.

Dưới đây là bài tôi vịnh để tặng gia đình này:

Ba sinh hẳng đã hẹn nhau gì?
Lạ mặt nhưng lòng có lạ chi.
Đã biết duyên lành đưa hội ngộ,
Thì tin nghiệp xấu bắt phân ly.
Đỉnh chung mặc đấy pha màu đạo.
Xum họp hỏi chi ai sắp đặt,
Đường tu khéo vụng tỉnh mau đi.

 

4. LỄ TUYÊN THỆ THÀNH LẬP HỘI PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (25-05-1950)

 

Vì ban chiêu tập hội nghị Phật giáo Thế giới đã lượng cơ biết số người đến dự hội nghị và chiêm bái buổi lễ khai mạc này rất đông đúc. Nhất là buổi lễ tuyên thệ của cả hai mươi sáu phái đoàn cùng đứng ra sáng lập Hội Phật giáo Thế giới. Vì thế nên lễ này trước định cử hành ở tòa khán đài rộng nhất Thủ đô Tích Lan, nhưng vì phần các đại biểu Phật giáo Thế giới không ưng làm lễ tuyên thệ ở nơi không có dấu vết thiêng liêng của Phật Tổ, mà phải làm lễ ở ngôi chùa thờ Răng Đức Phật Tổ, cổ tích của Tích Lan ở tỉnh Kandy bây giờ. Tỉnh này cách Colombo chừng 150 cây số, mà lại ở trên ngọn đảo.

Tám giờ sáng hội nghị ở trụ sở Thanh niên Phật giáo Tích Lan ra đi, vì ô tô cứ phải bò ngược sườn núi chừng 50 cây số, tức là 1/3 đường Colombo đến Kandy, vì thế nên mãi đến gần 11 giờ mới tới. Riêng Ký giả lấy thế làm may mắn, vì được xem phong cảnh cả thành thị lẫn thôn quê của Tích Lan. Nếu các độc giả sang du lịch, sẽ thấy những bức hoạ “sơn thủy lâu đài” mà ta cho là gấm vóc đem so với phong cảnh đẹp thiên nhiên, của đảo Tích Lan, sẽ thấy bức tranh kia chẳng thấm vào đâu.

Trưa hôm nay dùng cơm hai nơi, các thiện tín thì ăn ở khách sạn do ban chiêu tập thết, còn chư tăng thì dùng cơm chay do một trai chủ dâng thết. Người tiếp ứng chư tăng trong bữa cơm này, từ chủ nhà đến gia nhân đều đi chân không hết. Khi chư tăng chứng trai xong, hai ông bà và các ông già bà cả Thanh niên nam nữ đến làm giúp tiệc trai này đều trải khăn ra đất để lễ hết vị này đến vị khác.

Cơm ngọ xong, nghỉ ngơi đến 4 giờ chiều mới lại đi tới chùa thờ Răng Phật dự lễ, bắt đầu đến cửa chùa ai nấy đều phải tháo bỏ giầy dép vào đứng sắp hàng nghiêm trang để theo ban Phật nhạc rước vào nơi hành lễ, vừa đúng 5 giờ bắt đầu cử bài Phật nhạc Tích Lan rồi đến một bài kinh tiếng Phạm độ 25 phút để cầu nguyện Tam bảo gia hộ. Vừa dứt tiếng tụng kinh, thảy tất cả tăng tục đều đứng dậy nghiêm chỉnh chào một vị Tổ sư ngoại 80 tuổi ra ngồi ghế chủ toạ. Tôi đương nghĩ Ngài già nua thế này thì còn nói làm sao được to tát cho số chợ người này nghe, thì bỗng thấy tiến Sư Tổ tiếp theo lời giới thiệu, Ngài đọc một bài diễn văn non 20 phút mà không thấy trông vào bài lần nào.Tiếp theo Hòa thượng là một vị Hộ Pháp được cử làm chủ tịch cho thiện tín cũng lên diễn đàn. Đại ý hai Ngài đều nói với 26 phái đoàn Phật giáo thế giới rằng: “Cần phải có một tổ chức thống nhất lực lượng Phật giáo, đoàn kết Phật tử bằng một phương diện thành lập hội Phật giáo thế giới, nếu được tòan thể hội nghị tán thành”. Một vị lão tăng được ra đáp: “Muốn phục hưng Phật giáo, muốn cứu vãn nền tín ngưỡng Phật giáo hiện thời cần phải lập hội Phật giáo Thế giới. Tất cả đại biểu Tăng tục chúng tôi xin tán thành”. Để hưởng ứng một tiếng tán thành theo với những âm vận Phật nhạc vang dội cả không trung, kế đến ai nấy đều vào làm lễ phát thệ. Một Hòa Thượng được cử đọc bản tuyên thệ trước Phật điện để thành lập hội Phật giáo thế giới.

 

5. BẢN TUYÊN THỆ

 

Chúng tôi đại biểu Phật giáo các nước và đại biểu tất cả các tổ chức Phật giáo trên hòan cầu, hôm nay (25-5-1950) họp trước cửa Tam bảo tôn nghiêm ở chùa Răng Phật đây, vốn là nơi chùa lịch sử của kinh đô cổ tích này, chúng tôi cùng nhau phát thệ rằng: Chúng tôi và tất cả các Phật tử mà chúng tôi thay mặt đều chí thành phát thệ: Cả xuất gia lẫn tại gia đều sẽ hết sức tuân theo thi hành giáo pháp và giới lụât của Đức Phật THÍCH CA. Chúng tôi với các Phật tử sẽ phải cố gắng đem mình làm những tấm gương trong sạch sáng suốt giữ nền tín ngưỡng Phật giáo để làm cho tinh thần Phật giáo chung đúc thành một khối sáng sủa mạnh mẽ khắp hòan cầu.

Muốn đạt được mục đích ấy, chúng tôi cùng nhau thề nguyền sẽ phải thống nhất Phật giáo, đoàn kết Phật tử theo nghĩa “Lục hòa” với lòng thâm tín, để dìu dắt tất cả Phật tử trên khắp hòan cầu làm cho đạo lý của Phật, tinh thần thanh tịnh của chư Tăng được tất cả mọi người trên thế giới hiểu biết. Mong rằng tinh thần: “Từ bi, hỷ xả của Đức Phật có lực lượng mạnh mẽ vô cùng để hướng dẫn các dân tộc và các Chính phủ của dân tộc đó đều tin tưởng cũng như đều hoạt động theo một con đường từ bi bình đẳng để sống chung với cuộc đời sáng suốt, rửa sạch hết những khối óc tham, sân, si, như thế để lòng bác ái, tình hữu nghị giữa dân tộc nọ với dân tộc kia sẽ hòa giải, sẽ thân thiết, ức triệu người như một để cho hòa bình của nhân loại sẽ thực hiện. Muốn đạt tới mục đích vĩ đại đó, phải có một cơ sở vĩ đại, một chương trình hòan bị, để giao cho một cơ quan lãnh đạo. Vì thế nên chúng tôi quyết định thành lập hội Phật giáo Thế giới với tất cả các trưởng Phái đoàn Phật giáo có góp mặt góp lời tại buổi lễ tuyên thệ này, đều được đủ thẩm quyền quyết đoán và thi hành quyết nghị này.

Chúng tôi rất mực thành kính cầu xin Đức Phật phù hộ cho tất cả các sự cố gắng của chúng tôi”.

Đọc xong bản quyết nghị này, tất cả 26 vị Trưởng Phái đoàn Phật giáo đều lần lượt đọc lời phát nguyện riêng.

Dưới đây là lời tuyên thệ của tôi:

Đệ tử Tỷ Khiêu THANH LAI, biệt hiệu TỐ LIÊN nhân danh Trưởng Phái đoàn Phật giáo VIệt Nam, hân hạnh được cùng 25 vị Trưởng Phái đoàn Phật giáo các nước trên thế giới, dự buổi lễ phát nguyện thành lập hội Phật giáo thế giới dưới bóng từ bi cao cả. Cầu xin Đức Phật chứng cho lời chân thực tán thành đề nghị lập hội Phật giáo thế giới giữa lúc này và tuyên thệ với Đức Từ bi, với Phật tử thế giới rằng: Sẽ cùng nhau áp dụngnhững lời đã tuyên thệ cho được thực hiện làm cho tinh thần Phật giáo mỗi ngày được thêm sáng sủa ở Việt Nam. Sẽ là công trình gom góp lực lượng với hội Phật giáo thế giới, sự thành công của đệ tử sau này còn nhờ ở Đức Phật điểm hoá cho có sự ủng hộ của Chính phủ cũng như của dân Việt Nam với các hội, các tổ chức Phật giáo ở Việt Nam, nhất là còn phải hy vọng sự ủng hộ về tinh thần của hội Phật giáo thế giới nữa.

Trong buổi lễ tuyên thệ còn có mấy bài diễn văn mà ký giả trích dịch những đoạn đặc sắc ở trong các bài của ông MAHA NAKAYA DE MALWATE, của ông DIYAVADANA NILAME (người coi sóc thờ Răng Phật) và bà G.C.LOUNSBERY (đại diện các đại biểu Âu Châu). Đây là đoạn văn của ông MAHA NAKAYA DE MALWATE:

“Thưa chư Tăng và các anh em Phật tử thế giới! Chúng tôi rất lấy làm may mắn được gặp gỡ tiếp rước các Quý vị trong ngôi chùa lịch sử này. Hôm nay các Quý vị tới đây thay mặt cho Phật tử các xứ đã được tươi sáng với ánh sáng giáo lý của đấng đại từ bi. Mong rằng điểm này được coi như triệu chứng tốt lành và để chứng tỏ sự thực nghịêm của cổ truyền rằng: “Đến năm 2500 (cức theo Phật lịch Tích Lan thì năm nay mới có 2494, khác với ta theo Phật lịch năm nay đã 2513) thì hòan cầu sẽ được hòan tòan giác ngộ”.

Bây giờ đã có cơ hội thuận tiện nhất để chỉ cho hòan cầu biết con đường đưa tới sự thái bình an lạc cao cả nhất, mà chỉ có Đức Phật mới cứu cho ta được, vì bây giờ nhân loại cũng như thời đại của Đức Phật đã mở mang tinh thần rất sáng suốt rộng rãi. Bởi vậy chúng ta phải nhất quyết đi mà reo rắc mầm tốt trên khắp thế giới bằng cách khởi một phong trào “TỪ, BI, HỶ, XẢ” như lời Phật dạy.

Chúng tôi dốc lòng nguyện vọng cho nền Phật học thế giới được bành trướng khắp đó đây để làm cho bao tâm hồn đương sợ hãi gớm ghê của nhân loại, đương áy náy lo âu, chiến tranh sẽ không còn trên hòan cầu…Chúng tôi mời các Ngài thượng khách của chúng tôi đi thăm các ngôi chùa lịch sử và các lăng tẩm của chúng tôi. Xin thay mặt tòan nước Tích Lan và Giáo hội Tăng già, chúng tôi cầu chúc các Ngài mạnh khỏe phúc tuệ vẹn tòan và chúng tôi ước mong rằng: Mục đích của Hội nghị Phật giáo thế giới này là đem lại hòa bình cho thế giới được kết quả mỹ mãn.

Của ông LE DIGAVADAMA NILAME:

“Chúng tôi là Phật tử, một phần năm số nhân loại đã cùng nhau từ những phương xa ngàn muôn dặm tới đây hội họp để tỏ cho hòan cầu biết sự thống nhất lực lượng tín ngưỡng của chúng ta.. một tín ngưỡng đã vượt lên trên tất cả bao sự khó khăn của hòan cảnh trướng ngại. Sự họp mặt của chúng ta ở trong ngôi chùa thờ Răng Phật này, mới thật là cuộc hội nghị xứng đáng của Phật tử thế giới, tới ngôi chùa này là nơi dấu vết đã được vị công chúa SANAWAL theo lệnh vua cha đem Răng Phật từ Ấn Độ sang đã 14 thế kỷ nay để giao phó cho xứ Lanka này. Thật là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo mà các Phật tử gặp nhau để góp sức gom công đối với tôi là người giữ gìn các thứ báu của Phật, tôi tin vào sự hội họp ở Lanka này là một việc vui mừng lớn lao.

Tất cả chúng ta tự dõng dạc tuyên bố với hòan cầu rằng: Từ chỗ đất danh tiếng mà chúng ta đến hội họp Hội Phật giáo thế giới để từ nay về sau sẽ làm nẩy nở ra giữa nhân loại những tư tưởng của Đức Phật, tình thương yêu của muôn lòai, nó sẽ chắc chắn đưa lại hòa bình hạnh phúc cho một thế giới đương điêu linh.

Của bà G.C.LOUNSBERY, Hội trưởng hội Ái Hữu Phật giáo:

Thưa Quý vị,

Các Phái đoàn Châu Âu và Châu Mỹ đã cử tôi đến đây để tỏ lòng thành kính với ngôi Tam bảo trong chốn tôn nghiêm này, có thể gọi được là Trung tâm điểm Phật giáo của hiện tại. Bởi vậy nhân danh tất cả các Phái đoàn Châu Âu và Châu Mỹ, tôi xin các Ngài nhận tấm lòng thành kính và tôn sùng sự cộng tác của Phật tử giữa Châu Âu, Châu Mỹ với Châu Á để cùng mong nhờ Phật Tổ độ cho chúng ta có cơ hội xum họp các mối lòng, các bàn tay công đức để tước khí giới trong các mối lòng thù oán, các bàn tay tàn sát. Theo đề nghị của Bác sỹ G.P.MALALASEKERA, tôi sáp nhập tất cả các Phái đoàn Châu Âu và Châu Mỹ vào quyết nghị thành lập một hội Phật giáo thế giới mà Trung tâm điểm hiện thời là Tích Lan. Chúng ta cùng nguyện với Bác sỹ rằng: Hội Phật giáo thế giới sẽ đem ra nhiều những mối dây tâm trí đoàn kết và lại là những dây thân ái với hiểu biết của các Phật tử trên thế giới để cho họ có thể cộng tác mà truyền bá Phật giáo. Tôi cầu chúc cho mọi lòai đều được hạnh phúc.

 

6. QUANG CẢNH BUỔI LỄ KHAI MẠC HỘI NGHỊ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI

 

Buổi lễ khai mạc Hội nghị Phật giáo thế giới này do một vị lão Hòa Thượng chủ toạ về bên Tăng già và Thủ tướng Tích Lan nhận chủ tịch do lời mời của ban chiêu tập, cốt để Ngài có dịp hoan nghênh các đại biểu Phật giáo trên thế giới và để tỏ lòng sốt sắng của Ngài đối với tôn chỉ lập Phật giáo thế giới. Hồi 5 giờ chiều lễ mới cử hành, mà mới có 4 giờ chúng tôi đã ra đi, còn một phần ba (1/3) cây số nữa mới tới, thế mà chúng tôi đã phải xuống ô tô để đi bộ. Phần thì đông quá và chính tôi cũng muốn nhận ở lòng dân tộc Tích Lan hưởng ứng với Hội nghị Phật giáo thế giới này ra sao.

Thực là quang cảnh “xe hơi như nước, bóng người như mây”.

Tôi hỏi ông chủ nhà: “Thành phố đây sao lắm xe ô tô thế nhỉ?”

Ông cho biết: – “Thành phố chúng tôi này, nhà có hai ba chiếc bù với nhà không có chiếc nào, tính trung bình thì mỗi nhà có một chiếc”

Thảo nào mà nhìn quang cảnh của các con đường đi tới khán đài tựa như làn sóng ngũ sắc từ bốn phương tràn lại, vì rằng riêng cờ Phật giáo theo màu ngũ sắc nổi bật lên trên các ô tô. Đấy là mỗi xe ô tô người ta chỉ cắm có một cây hoặc ba cây.

Hai bên vỉa đường thực là quang cảnh chẩy hội, nhưng đám chẩy hội này nó có một đặc điểm là đủ tất cả các màu da của các giống người trên thế giới. Người nào người nấy đều lộ đầy vẻ mặt phong nhã và hoan hỷ với bộ quốc phục của họ, hết thảy đều hăm hở tiến tới nơi hội nghị, thực không khác gì quần tiên tới hội bàn đào.

Tòa nhà dùng để cử hành lễ khai hội nghị này nó chính là tòa khán đài mà người ta bảo rằng nó to tát nhất, rộng rãi nhất của thủ đô Tích Lan. Tòa khán đài này, lối kiến trúc làm rất ít cột mà chạy dài, nếu quy vuông lại có thể hơn mẫu ruộng. Trước khán đài tôn một pho tượng Phật to lắm mà màu sơn son thiếp vàng đã có vẻ cỗ. Chung quanh bệ tượng Phật bày rải hoa sen không biết bao nhiêu mà kể. Dưới chân bệ đều chôn bốn ngọn đèn điện lớn ở dưới đất cho  ánh sáng của nó chiếu ngược lên tượng Phật thành ra ánh đèn chiếu với hào quang sắc vàng của tượng Phật lộ ra một vẻ thiêng liêng huyền bí, khiến cho người ta đứng bên ngoài chiêm ngưỡng vào thấy đầy chân tướng uy nghiêm vô hạn.

Còn một đám lớn mây cờ ngũ sắc treo khắp trên nóc khán đài nó chiếu ánh với đèn điện rồi theo luồng gío thổi mà phất múa chào các Phật tử thế giới. Lối để cho các diễn giả đi vào diễn đàn còn bày những chậu lúa vàng để tượng trưng những cảnh thái bình sẽ đưa lại cho nhân loại.

Bên ngoài khán đài là bãi đua, nó có một bề thế rộng rãi thênh thang cho người ta đứng xem. Người ta ước lượng ngoài sân đua có linh vạn người đến xem, đấy là chưa kể số bao nhiêu người có thiếp mời đến dự lễ với hơn một trăm Đại biểu của các Phái đoàn các nước ngồi trong khán đài. Đối với chư Tăng đến dự hội nghị, hình như ban chiêu tập có mật ý để cho thập phương chiêm ngưỡng oai nghi của các nhà đạo đức thì phải. Vì ký giả thấy sắp đặt để chỗ chư Tăng ngồi làm nhiều nơi, mà mỗi nơi chỉ có độ vài ba chục vị, chư Tăng đều mặc áo cà sa sắc vàng cả, thành ra những lớp sóng áo vàng của chư Tăng nổi bật lên giữa những làn sóng y phục ngũ sắc của thiện tín. Cuộc hội nghị này ban chiêu tập sắp cũng lắm công phu và mỹ thuật. Đúng 5 giờ, tiếng chuông trống với vận điệu âm nhạc nổi lên ba hồi vừa dứt thì Bác sỹ MALALASEKERA nhân danh trưởng ban chiêu tập ra cám ơn Hội nghị, làm lễ khai mạc, Bác sỹ vừa dứt tiếng thì trời bỗng đổ mưa gió, nhưng không vì mưa gió mà trì hõan lại để nhỡ mất cái giây phút thiêng liêng độc nhất của lịch sử Phật giáo thế giới, nghĩa là lễ khai mạc cứ việc cử hành.

Chư Tăng Tích Lan đồng thanh tụng bài kinh Phạm tự vào 4 cái loa, tiếng thiêng liêng oai hùng truyền ra vang dội trời đất. Thực là đạo màu thiêng liêng cảm ứng mà lòng người ta không thể nghĩ bàn xiết được. Tất cả hội nghị đều chứng kiến đạo thiêng liêng thực hiện đó là vì vừa dứt tiếng tụng kinh thì mây quang mưa tạnh. Đương lúc hàng hơn vạn người đều yên lặng chăm chú hướng vào tượng Phật để nghe kinh một cách hoan hỷ cảm động, thì diễn văn bằng tiếng Phạm của Hòa thượng Phirivattaduwe Pallassa Vayasca Thera, diễn văn của thủ tướng Tích Lan D.S. Sananayaka v.v…đều tiếp tục đọc. Lại đọc đến những bức điện tín của mấy vị Tổng thống và Thủ tướng ở các nước gửi đến cầu chúc hội nghị Phật giáo thế giới thành công.

Dưới đây xin dịch hai bức thư của một vị Hòa thượng và một vị công chúa Thái lan (Xiêm). Bức thư của Hòa thượng Somdich Phara Vajirananaisam là Pháp chủ của Giáo hội Tăng già Thái lan:

“Nhân dịp Hội nghị Phật giáo thế giới nhóm họp, nhân danh Pháp chủ Tăng già Phật giáo Thái Lan, tôi mong được tiến những lời chúc tụng thành thực và những lời cầu nguyện cho sự thành công của Hội nghị để đưa đến chỗ tiến hành thực sự về giáo lý của đức Phật Tổ để đem lại hạnh phúc hòa bình thế giới.

Đức Phật đã chỉ cho chúng ta con đường chính và sự hòa bình vĩnh viễn. Tôi cầu xin cho Hội nghị Phật giáo thế giới sớm đạt mục đích để tiến tới ngày kết quả hết sức mỹ mãn”.

Thư của công chúa Ponn Diskul:

“Thưa các quý vị giáo hữu, Tích Lan và nước Thái lan chúng tôi không xa lạ gì nhau, từ bao thế kỷ đến nay đã có biết bao nhiêu phái đoàn Phật giáo của hai nước chúng tôi đã trao đổi mà lần này là lần thứ 16 của Phái đoàn Phật giáo Thái lan tới xứ này.

Ước mong tình thân ái của chúng ta được lâu bền mãi mãi. Nhân danh hội Phật giáo Thái lan và các Phật tử Thái lan, tôi cầu xin chúc các Ngài đều được hạnh phúc và Hội nghị thành công rực rỡ”.

 

7. LỜI TUYÊN BỐ VÀ DIỄN VĂN CỦA KÝ GIẢ

 

Thưa Thủ tướng,

Phái đoàn Phật giáo Việt Nam lấy làm sung sướng được thấy Ngài áp dụng địa vị Thủ Tướng ra hộ trì Phật giáo, nhân danh Trưởng Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chuyển lời tòan thể Phật tử Việt Nam trân trọng kính chào Ngài và cảm ơn Ngài và trân trọng kính chào Phật tử thế giới. Chúng tôi đến đây để biểu lộ một quan niệm thành kính tha thiết nhất là cầu chúc Hội nghị Phật giáo thế giới này sớm thành công ngõ hầu san sẻ hết sự đau khổ vô biên giữa nhân loại đã diễn, đương diễn và còn diễn nếu mà nhân loại không giác ngộ.

Thưa tòan thể Hội nghị Phật giáo thế giới. Trân trọng xin các Quý Ngài hoan hỷ nhận ở tôi kính cẩn chuyển lời của 18 triệu dân Việt Nam theo Phật giáo chào mừng tòan thể Quý Ngài và chúng tôi cũng xin thành thực dâng lời ca tụng công đức của Quý Ngài.

Giữa lúc phần lớn nhân loại đang xô nhau nghiên cứu phát triển về văn minh vật chất mà các Quý Ngài lại họp Hội nghị cùng nhau để tìm chân lý tiến hoá về tinh thần; nếu người nào nhận xét ở Hội nghị này một cách đơn giản, họ sẽ cho là phản tiến hoá, tôi có thể hiểu được thâm ý của các Quý Ngài, chẳng những không phản tiến hoá, mà còn muốn cho con đường tiến hoá hoàn bị nữa. Vì mục đích Hội nghị Phật giáo Thế giới của Quý Ngài là muốn cho nhân loại tiến hoá cả vật chất lẫn tinh thần, chứ không nên thiên khinh, thiên trọng một bên nào cả. Vì một bên nuôi sống cho thể xác, một bên nuôi sống cho tâm linh, toàn thể Hội nghị đã hoan hỷ ưng cho chúng tôi phát biểu ý kiến. Vậy chúng tôi xin cống hiến Quý Ngài vấn đề: “ MUỐN CỨU VÃN HIỆN TƯỢNG THẾ GIỚI CẦN PHẢI HIỂU BIẾT CHÂN LÝ PHẬT GIÁO”.

Đứng về phương diện tương đối mà bàn: Kìa trước mắt chúng ta đã thấy muôn nghìn hiện tượng. Cuộc đời này cố nhiên là thế giới hiện tượng. Nếu như phóng tầm mắt đạt quang, ta sẽ thấy các hiện tượng nó là con ma ám ảnh nhân loại, quay chuyển từ đáy lòng nhân loại phát sinh ra; còn giống tham, sân, si, nó sẽ nẩy nể ra muôn nghìn tính tứ mâu thuẫn chênh lệch, đuổi theo với hoàn cảnh; tình theo cảnh chuyển, cảnh càng chuyển, tình càng mê, người ta lại càng nhận ở hoàn cảnh thật có. Đã nhận ở hoàn cảnh thật có rồi giác ngộ đâu được nữa mà chẳng hô hào nhau, xô đẩy nhau theo hoàn cảnh giả ảnh để tiến hoá, tranh dành để lấy cái hoàn cảnh giả ảnh cho được thỏa thuê với muôn nghìn thứ mưu cầu.

Nhưng, mưu cầu cái gì chứ? Kìa lịch sử thảm hoạ đã diễn, đang diễn sẽ diễn và còn diễn mãi mãi, nếu nhân loại không chịu gột rửa những khối óc tham, sân, si, để cùng đưa nhau đến thế giới sinh tồn, trong bầu không khí trong sạch sáng sủa, trái lại, cứ đua nhau tiến hoá tới cuộc đời giả ảnh, tuy nó có giả ảnh thực đấy, nhưng nó có môt sức mạnh lôi cuốn nhân loại vào nơi đau khổ! Kìa! Như giấc mộng vốn là giả dối, thế mà người đương trong mộng dữ dội đó, cũng bị đau khổ, có khi đến nỗi kêu ca khóc lóc. Hiện tại cả nhân loại đã chán ghét chiến tranh, sợ hãi tàn sát, thế mà trước mắt chúng ta thấy số người tự hào là tuấn kiệt của nhân loại, mà họ cứ xổ đẩy nhau tiến hoá theo con đường bạo động vô ý thức, kẻ nào tài điên đảo là kẻ hào kiệt, kẻ nào tài giỏi gây vạ là hiền tài. Đứng về phương diện nhân đạo mà nhận xét, chỉ thấy họ cậy không bịp dại, cậy lớn bịp bé, cậy khỏe nuốt yếu để rồi phục thù báo oán. Thua keo này bày keo khác, thi nhau bày trò chủ nghĩa, thi nhau đóng kịch phái đảng, thi nhau hỗn độn tự do, thi nhau áp bức tranh dành, thế nhau xăm lăng phá hoại đến nỗi cả thế giới đều là chiến địa thảm thê, về nỗi chém giết nhau cho máu thành sông, cho xương thành núi; thành sầu giữa nhân loại mỗi ngày một thêm xây cao, bể khổ giữa nhân loại mỗi ngày một thêm khơi sâu. Như vậy thì muôn kiếp nghìn đời giữa nhân loại với nhân loại, giữa xã hội với xã hội chỉ vì những cái giả ảnh phú quý quyền lợi nó trói buộc nhân loại trong tấn kịch: Oan oan tương báo, thành, bại, oán thù, tương đối của kẻ mạnh với kẻ yếu, diễn hết thảm trạng này đến thảm trạng khác, hết khổ não này đến khổ não khác, đời đới kiếp kiếp nhân loại chỉ nối nhau quay cuồng trong nhà lửa, nấu nung đắm đuối giữa khổ ải muôn trùng. Đứng giữa thời đại này, thảm trạng ấy, nếu chúng ta không có quan niệm tin tưởng, không có đường chân lý để đi, thì chúng ta bi quan đến cực điểm. Nhưng cũng chưa đến nỗi tuyệt vọng, là vì chúng ta còn nhiều lạc quan theo với chân lý tương quả nhân dối.

Thế giới nhân loại này, đã là hiện tượng tương đối của nhân loại khổ nạn; vậy là đã có hiện tượng mê hoặc, phải có hiện tượng giác ngộ, có hiện tượng tạo tác, ác nghiệp, phải có hiện tượng cảm hoá tạo tác thiện nghiệp và có hiện tượng khổ nạn cũng phải có hiện tượng cứu khổ cứu nạn. Cái hiện tượng giáo hoá chúng sinh giác ngộ để tiến hoá trên con đường tạo tác thiện nghiệp sẽ đưa nhau đến cảnh giới đại đồng tới giải thoát khổ nạn, ấy chính là những pháp môn phương tiện tùy duyên theo với chân lý tuyệt đối trong Đại thừa Phật giáo. Tất cả các Ngài có mặt ở Hội nghị Phật giáo đây, đều là hiện tượng của chủ nghĩa Đại thừa Phật giáo cả, nhân loại đang đày đoạ giữa hoàn cảnh đau khổ, họ càng đau khổ bao nhiêu thì họ càng đặt niềm tin vào quý Hội. Sau khi bế mạc, các Ngài sẽ là những ông mãnh tướng phụng mệnh Pháp vương ra tay phá địa ngục nhân gian, sẽ lại là những bậc Hiền tài Đại sĩ đem pháp mầu tuyệt đối ra giác ngộ cho nhân loại. 18 triệu dân chúng tôi theo Phật giáo, cũng như các số dân tộc theo Phật giáo ở các Quý Quốc, họ đều tha thiết mong đợi các quý Ngài làm chân sứ mệnh “Tự giác, giác tha, tự lợi lợi tha của đức Giáo Tổ Thích Ca”.

Đây tôi xin cùng quý Ngài đứng về phương diện chân lý của Phật giáo mà bàn, chúng ta sẽ thấy tất cả vạn tượng chỉ là một mảy bụi, tạm thế chỉ là một nháy mắt còn đem cái gì mà phân tách ra cho có hiện tượng thời gian lẫn không gian, mà vẫn không chia quốc gia này với quốc gia nọ, dân tộc này với dân tộc khác, nó chỉ là cái cảnh giới ở chân lý hiện ra, tuyệt đối trang nghiêm, chân lý đó không có hẳn, mà cũng không không hẳn, chẳng hẳn là một mà cũng không phải là hai, vì nó là chân lý tuyệt đối của “Pháp môn bất nhị”. Pháp môn đó có đủ tinh thần đưa nhân loại tiến hoá đến cảnh giới tuyệt đối, sẽ trút hết khổ não, cho nên trong kinh Đức Phật ngài nói: “Nếu người nào biết được đến đáy nguồn của nhân tâm, lúc đó sẽ thấy cả quả đất này không còn một tấc nữa”. Một tấc không còn thì còn gì có thế giới mà xâm lăng tranh cướp. Phật với chúng ta cùng là chúng sinh không khác; Phật tức là nhân loại đã tiến hoá đến cảnh giới đại đồng bình đẳng, thì làm gì còn thảm hoạ lớn nuốt bé, khỏe hiếp yếu, khôn bịp dại nữa. Vì đó sẽ thấy rằng tuy thế giới này, nhân loại này, nhưng thế giới đã được nhân loại chuyển biến thành cực lạc mà nhân loại đã giác ngộ lên làm Phật. Chân lý Phật giáo lúc đó mới thực hiện ra ở cả cõi lòng nhân loại này. Chúng ta còn gọi đến danh từ Phật và danh từ chúng sinh, là chúng ta còn kêu gọi đến hiện tượng tương đối của Đức Phật đã chứng ngộ được chân lý hoàn toàn để tương đối với chúng sinh còn mê muội hoàn toàn. Chúng sinh nào được giác ngộ thì đời suy tôn làm Phật. Sở dĩ tôn làm Phật là để tưởng tượng một chân lý hoàn toàn chứa chất ở người đã giác ngộ mà còn để tương đối với chúng sinh còn mê muội chưa giác ngộ. Chân tướng của chúng sinh giác làm Phật chúng ta thấy ở đâu?

Sẽ thấy rằng: Núi sông cây cỏ đều là pháp thân, tiếng lá rung, hoa rơi, chim kêu, gió thổi đều là tiếng thuyết pháp mầu nhiệm của pháp thân cả. Như vậy trên thế giới này đều là Phật quốc cả, nhân loại đều là hiện thân chư Phật cả, lúc đó không còn quốc gia này với quốc gia kia tương đối, dân tộc này với dân tộc kia tương đối, sẽ thấy cái danh từ thế giới nhân sinh không còn nữa. Phương diện giáo lý tuyệt đối của Phật giáo ta sẽ thấy rằng: Vạn pháp chỉ là nhất tâm; nói về thế giới, thì thế giới chỉ là những hình ảnh của bản thể pháp thân hay pháp giới hiện tượng ra. Nói về nhân loại hay cả muôn loài đều có cái thân thanh tịnh tuyệt đối, thiêng liêng tuyệt đối. Nó không hẳn là có, cũng không hẳn là không. Nó có thì có tự mảy may. Nó là không thì cả thế giới này đều không. Vì con mắt phàm chẳng trông thấy được cái mảy may nên cho là không, nhưng đã có mắt Phật, cố nhiên sẽ thấy sắc tức không, không tức sắc. Xưa kia Đức Phật Thích Ca trải qua 49 năm thuyết pháp giảng kinh hơn 300 hội, giác ngộ vô lượng chúng sinh mà những giáo pháp Ngài thưyết độ sau này biên chép thành ra gần 7000 bộ kinh, cố nhiên ta phải nhận ở Ngài có lịch sử: Tu thân, hành đạo, thuyết pháp, độ sinh trong 49 năm chứ? Thế mà gần đến khi nhập Niết bàn, Ngài bỗng đem pháp môn “bất nhị” ra để bảo cho chúng sinh biết rằng: “Từ xưa đến nay ta chưa từng có một chữ nào”.

Câu nói phút cuối cùng của Phật đó, ý Ngài nói: Trong 49 năm nói ra bao nhiêu ngôn ngữ văn tự, nó chỉ là phương pháp giác ngộ chúng sinh mê tâm, mê sắc, hoặc mê cả tâm lẫn sắc, một khi hết mê thì phép đó sẽ vô dụng, nếu đã giác ngộ mà cứ khư khư giữ lấy phép đó thì lại vẫn còn mê. Cũng tỷ như bệnh nhân khi đã mạnh khỏe mà còn theo bài thuốc chữa khỏi bệnh đó mà uống thêm nữa bệnh sẽ lại sinh; chân lý tuyệt đối ấy mặc dầu vẫn sẵn ở tâm lý chúng sinh. Khốn nỗi cái lưới vô minh nó đã bao chùm đi từ bao đời kiếp rồi, cho nên phần lớn chúng sinh bỏ quân đi, hầu như mất hẳn, tuy cũng còn số chúng sinh hiểu biết, nhưng chỉ hiểu biết một phần nào đó thôi. Chỉ duy có Phật với Phật mới hiều biết hoàn toàn vậy.

Nói tóm lại, cái danh từ Phật hiểu biết đó là cái tương đối với danh từ chúng sinh mê lầm, thế tất nhiên vô lượng pháp môn của Phật cũng lại là những phương pháp tương đối để đối trị với vô lượng sự đau khổ của thế giới nhân loại đang hiện tượng.

Muốn cứu vãn thế giới nhân loại đang đau khổ cần phải biết áp dụng chân lý tuyệt đối của Phật giáo để xây đắp nền tảng nhân gian Phật giáo cho nhân loại đều sống lâu dài bình đẳng tự do mới có thể kết liễu được chiến tranh, mới có thể tiến tới cảnh giới đại đồng, hòa bình hạnh phúc. Còn nhân muốn trách sự đau khổ thì mỗi gia đình phải có một nền phong hoá Phật giáo, mỗi cá nhân cũng phải có ở tâm hồn một tinh thần đạo đức thần túy. Dưới đây xin dịch bốn câu kệ để kết luận:

Bản đồ Pháp giới hỏi ai tô?
Rằng tại lòng người chẳng tại mô.
Mười cõi Thánh Phàm tâm tạo đủ,
Nhân nào quả nấy chớ rằng vô.

Dưới đây là bài ký giả vịnh sau khi giảng xong:

Này đảo Thích Lan lắm phúc không?
Hội đồng Phật tử khắp Tây Đông,
Á, Âu bốn bể dâng hương thệ,
Tăng, Tục năm châu thắt giải đồng.
Phụng sự hòa bình theo Phật dạy,
Đề huề thân ái đội giời chung.
Cõi đời hắc ám soi đèn tuệ,
Dìu dắt nhân sinh quyết gắng công.     

Từ đây trở xuống sẽ chia làm hai đoạn:

a/ Kể lược qua sự hoạt động của cả 26 Phật đoàn Phật giáo từ 26-5 cho đến 7-6-1950.

b/ Kể riêng biệt về các hoạt động của ký giả theo những ngày kể trên.

 

 8. KỂ LƯỢC QUA SỰ HOẠT ĐÔNG CỦA CÁC PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO

 

Ngày 27 tháng 5. – Từ 9 giờ sáng đến 11 giờ và từ 14 giờ đến 17 giờ hội họp ở Tòa Y.M.B.A. là trụ sở Thanh niên Phật giáo Tích Lan.

17 giờ Ngài Thủ tướng Tích Lan D.S. SENANAYAKE tiếp đãi các phái đoàn Phật giáo.

21 giờ. Hội Ánh Sáng (Pahan-Pinkamda) ở Raja Maha Vihara de Kelaniya thỉnh tụng kinh Paritta.

Ngày 28 – Từ 8 giờ đến 9 giờ nghe Hòa thượng KASSAPA thuyết pháp bằng Anh văn ở Maitriya Hall.

10 giờ, làm lễ đặt viên đá đầu tiên của công cuộc kiến trúc trụ sở Hội Phật giáo thế giới do Công chúa Thái Lan PONN DISKUL và Bà KARPELÈS, đại biểu Pháp được mời chủ lễ hưng công.

Ông M.D.P.R. GUMAWARDENA đọc diễn văn hành lễ:

Thật là một đặc ân cho tôi đuợc cử làm Trưởng ban xây dựng ngôi chùa Hội quán Hội Phật giáo thế giới này, nên tôi được hân hạnh nói chuyện với các Quý Ngài. Ngày nay các Ngài đã đặt viên đá đầu tiên vào ngôi chùa để cho Phật tử thế giới phụng sự chung, nó còn là chỗ nghỉ chân cho Phật tử đi chiêm bái hay đi du lịch có chỗ nghỉ ngơi và nó còn là hình ảnh thiêng liêng của các dân tộc trên toàn cầu. Tôi tin chắc chắn vào ngôi chùa này để cho mọi người chiêm ngưỡng sẽ thấy ý chí họ trách điều ác, làm điều lành hoặc gột rửa cho tâm hồn được tinh khiết.

Các Ngài từ mười phương tới đây để cùng nhau lập Hội Phật giáo thế giới công nghiệp vĩ đại của các Ngài đó sẽ được ghi vào lịch sử huy hoàng của nước chúng tôi. Chúng tôi còn phải cảm ơn các Ngài đã làm cho đất nước chúng tôi được thêm vinh dự, đã để lại trong bao nhiêu tâm hồn dân tộc chúng những kỷ niệm bất diệt.

Các Ngài với chúng tôi đã ý hiệp tâm đầu trong những sự giao dịch về văn hoá cũng như về xã hội, cái đó sẽ có một giá trị vô song trong sự theo đuổi công việc giữa các Ngài với chúng tôi sẽ còn tồn tại mãi mãi.

Tôi chắc chắn rằng các Phật tử nước tôi sẽ cùng tôi để tỏ lòng thành kính cầu chúc các Ngài đều được phúc tuệ tinh tiến.

Chúng tôi không quên cảm ơn các anh chị em Phật tử trong nước đã góp sức vào việc xây dựng này và mong rằng số đông các vị hảo tâm khác sẽ cùng theo gương phúc đức đó để giúp cho chúng tôi làm ngôi chùa này chóng được viên thành phúc quả.

11 giờ giáo hội Tăng già Y.M.B.A. Colombo thết tiệc trai riêng, có tới 200 vị Thượng toạ, Đại Đức đến dự.

Từ 14 giờ đến 17 giờ, hội họp làm việc.

20 giờ, dự cuộc hát do hội thiện Y.M.B.A. tổ chức.

Ngày 29-5. – Từ 8 giờ đến 11 giờ và từ 14 giờ đến 17giờ: Hội họp làm việc.

17 giờ 30, Ông KUMARAM RATNAM Thị trưởng COLOMBO và phu nhân thết tiệc các Phái đoàn Phật tử tại gia.

20 giờ 30, các bà trong hội Y.M.B.A. đãi tiệc trà ở G.O.H. có những điệu nhạc Tích Lan rất vui.

Ngày 30-5. – Các đại biểu đi thăm các thành phố lớn.

 Ăn sáng tại KURUNEGALA do Hội Phật giáo bản xứ tổ chức.

Khánh thành công cuộc mở mang thành phố ANURUDHAPURA.

21 giờ: Rước.

Ngày 31-5. – Thăm các đền chùa và thắng tích tại ANURUDHAPURA.

Ngày 1-6. – Sáng: Thăm đền MIHINTALE (còn gọi là MAHINDA) thờ con vua A DỤC CA, người đã mang Phật giáo truyền vào Tích Lan.

Chiều: Đến POLONNARUWA. Cuộc tiếp đón các đại biểu do Ngài P.L BANDHASARA và hội Phật giáo POLONNARUWA và MINNERYA tổ chức.

Ngày 2-6. – Sáng: Thăm thành phố POLONNARUWA, một trong những kinh đô cổ nhất của Tích Lan.

Chiều: Thăm lâu đài SIGIRIYA.

Ngày 3-6. – Buổi sáng đi thăm chùa DAMBULLA có những bức hoành sơn cổ tả đời Đức Phật và sự tích Phật giáo Tích Lan. Tiếp đón các Phái đoàn có Hòa thượng ANANDA THERA và Đại đức H.B. TENNE ESQ M.P. Đi thăm ALUVIHARA là nơi phép kinh Phật đầu tiên. Hơm nay thụ trai ở MATALE.

15 giờ 30, tới KANDY, chiêm bái Răng của Đức Phật.

18 giờ, dự lễ thụ giới ở chùa MALWATTE.

21 giờ, xem cuộc rước tranh tượng Phật có rất nhiều đuốc và voi.

Ngày 4-6. – Đến PANADURA, dự lễ thụ giới ở chùa PAIYAGALA.

Ngày 5-6. – Từ 8 giờ đến 11 giờ và từ 14 giờ đến 17 giờ, lại từ 20 giờ đến 23 giờ: Hội họp làm việc.

Ngày 6-6. – Từ 8 giờ đến 11 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ: Hội họp làm việc.

17 giờ 30, ông toàn quyền LORD SOULBERY đón tiếp.

Ngày 7-6. – 9 giờ, khánh thành tòa điện trưng bày các tặng phẩm của các phái đoàn Phật giáo có những sách của những nhà khảo cứu Phật học, những sách của các Phật tử và những tặng phẩm của nước Pháp cho trường Đại học Tích Lan.

Dưới đây lại tóm tắt những thư từ trao đổi trong các cuộc bàn cãi về phương châm làm việc.

Đại biểu hội Phật giáo Ấn Độ, Bác sỹ BARUA tường trình về công việc hiện tại của hội đó. Ông nói chùa hội quán của hội ông cổ nhất của tỉnh CALCUTTA và trong chùa có Tăng học mục đích để huấn luyện cho chư Tăng hiểu đạo lý rồi sẽ trở về xứ sở mà giữ gìn đạo Phật. Thuợng toạ JINARATANA đại biểu Hội Maha Bồ Đề (Ấn Độ) trình một bản kê khai của hội đó từ năm 1891 nhằm năm Hòa thượng DHARMAPALA từ Tích Lan đến Ấn Độ du lịch rồi tự tay phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ. Hòa thượng Ngài đã đi du lịch khắp toàn cầu, không những sáng lập hội Maha Bồ Đề mà còn làm nên nhiều những cơ sở khác nữa.

Bà KARPELÈS xin với hội nghị tất cả các bài về Phật giáo đều được gởi cho Bà M. LALOU để đăng hàng năm vào tờ Bibliographique Bouddhique (mục lục các sách Phật) ở PARIS.

Ông hội trưởng Liên đoàn Phật giáo Mã lai nói qua về tình hình hoạt động của Phật giáo trong bẩy tỉnh ở Mã lai, mà trong đó một nửa phần dân chúng là người Trung Hoa. Ông M. NORDBERG đọc một tờ tường trình của hội Phật giáo Phần Lan do ông sáng lập. Ông RANI, xứ Bhutan trình hội nghị rằng: Tuy nước ông hẻo lánh nhưng vẫn trung thành với Phật giáo.

Ông Quốc vụ Khanh Thái Lan nói về lịch sử Phật giáo Thái Lan và cách tổ chức Tăng già, cách in kinh tạng. Đại biểu Tiệp Khắc đọc một bức thư. Đại biểu Nhật Bản xin cho thường dân có máy truyền thanh và yêu cầu can thiệp về việc bỏ dùng bom nguyên tử. Đề nghị này lại bị bác vì có tính cách chính trị. Ông TUN-HLA-OUNG, tham mưu trưởng xin xây ở Luân Đôn một ngôi chùa hội Phật giáo. Ông KRASKOPL yêu cầu hội nghị phục hưng Phật giáo ở nước Đức. Giáo sư BARUA xin rằng, ngày Vesak phải được coi như ngày Quốc lễ. Bác sỹ MALALASEKERA xin rằng: chữ Hinayana từ nay sẽ được thay bằng chữ Theravada.

Tất cả các quyết nghị trong cuộc hội nghị đều được châm chước áp dụng.

Các nghị quyết sau này đã được toàn thể ban chấp hành của hội Phật Thế giới ưng thuận.

Tất cả các bài đăng và các sách vở nói về phật giáo đều được thông tri cho tờ báo đã kể trên ở Ba lê, sự phục hưng nghệ thuật Phật giáo hội nghị cho là việc tối cần.

Một chương trình về các báo chí làm cơ quan cho Phật giáo thế giới phải được nghiên cứu rõ ràng, các kinh sách và các tài liệu về văn hoá cả về ca nhạc v.v…đều cần phải có.

Trụ sở trung ương của hội Phật giáo thế giới định đặt ở Tích Lan.

Bác sỹ G.P.Malalasekera được mọi người bầu làm chủ tịch ủy ban giám đốc hội. Không thể chép ra đây tất cả các thư từ của hội nghị, chúng tôi chỉ chọn lấy những cái có vẻ thú vị cho các độc giả, như thư của xứ Népal quê hương của Đức Phật:

Lịch sử xứ Népal nói rằng: Cái vùng nấp ở dưới núi Hy mã lạm sơn đã được 6 vị Phật để chân trước Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chính Đức Phật Ngài chọn đấy là nơi giáng sinh. Lúc thành Phật, đức Thích Ca Mâu Ni không những nhiều lần đến thăm Ca tỳ la vệ là lại đi vào giữa xứ Népal đến ở đấy, Ngài được vua xứ Kiraty là Jitedasi đón tiếp. Một cái bia dựng lên ở chỗ đáng ghi nhớ, bây giờ gọi là Namura, mà ở đấy là nơi Đức Phật Ngài giảng kinh Jalaka de vyghri.

Khi hoàng tử Vidudabha con vua Kosala tàn sát họ Thích Ca; Những người chạy thoát vào trong giữa xứ Népal. Trong kinh nói rằng: hầu hết họ Thích Ca và họ Kolyas đều nương náu vào Phật, Pháp, Tăng trong khi Đức Phật còn tại thế. Sự này còn chỉ rõ rằng các đệ tử trung thành của Đức Phật vẫn tỏ rõ cho nhân gian xứ Népal biết cái lòng từ bi của Đức Phật cả sau khi Ngài nhập niết bàn.

Nhưng chính vua Dharmashoka đã vì Phật giáo mà đã chiếm được cả xứ Népal. Ông ta đến thăm xứ Népal năm 259 trước thiên chúa, đi theo có công chúa Carumali, về sau công chúa lấy một người quí phái xứ Népal tên là Devapala. Cuộc đến thăm ấy được tả trong quyển Swayambhu Purana. Năm cái bia xây do vua dựng là ở giữa và bốn góc tỉnh Ashoka Pantan vẫn còn làm chứng cho cuộc đếm thăm ấy. Cái chùa được công chúa Carumati sau khi đi tu làm Tỷ khiêu ny xây, bây giờ đặt tên là Ca Bahil (Caru Vihara). Hai cột trụ của vua hiện ở Lâm tỳ Ny và Ca tỳ la vệ đều ở trong tỉnh Népal Tarai.

Trong những thế kỷ đầu, Phật giáo Népal được giữ nguyên vẹn. Chính những Phật tử xứ Népal đem truyền đạo Phật sang Tây Tạng vào thế kỷ thứ 7. Công chúa Népal là Bhukuti (con vua Ansuvarma) lấy một ông vua Tây Tạng là Song Tsen Dom Po vào năm 640 và giúp cho sự đem đạo Phật vào, Tây tạng và sự truyền giáo. Một đền thờ Bà vẫn còn ở Lhassa. Tất cả các vị Đại Đức đi đến Tây Tạng hay là các miền bắc do các trường Đại học Phật giáo như trường Nalanda và Vikramachila đều dùng tại Népal. Ta có thể kể tên các ông Shanirakahita, Kamalashila và Dipankara Srignana.

Vua Yakshamal trị vì vào thế kỷ thứ 17 chia nước cho ba con. Vua nước Gorkhas là Prithvi Narayan nhân cơ hội ấy tràn vào xứ Népal vào năm 1775. Từ ấy không có những vua Phật giáo ở Népal, sự thống trị của vua Narayan và của các người nối ngôi rất vững vàng. Mặc dầu những sự khổ sở đau đớn, các Phật tử xứ Népal vẫn trung thành với tín ngưỡng của Tổ tiên, không bao giờ họ bỏ cái kiêu hãnh được làm quyến thuộc với các đệ tử Phật. Ngay bây giờ, phần đông xứ Népal theo Phật giáo, chỉ trừ có vùng phía nam là lẫn một số đông không theo đạo Phật.

Nhưng các Phật tử xứ Népal bây giờ không theo Đại thừa cũng không theo Tiểu thừa. Đó là một thứ pha trộn riêng biệt của những phần không phải thuộc Phật giáo chế độ giai cấp và nhiều phong tục mới đã làm thay đổi họ đi. Đã có một lần một Phật tử nổi danh là Oldfied nhận thấy sự mất hẳn Phật giáo ở quên Đức Phật. Nhưng, những Phật tử xứ Népal có thể tự hào rằng: Mặc dầu có những sự tàn sát cấm đoán, họ vẫn còn giữ được đức tín cổ truyền và một lòng mộ đạo đáng được Thế giới Phật giáo khen ngợi.

Nhà Phật giáo xứ Népal nổi danh nhất trong các sứ thần bây giờ là ông Sri Dhamaditya Dharmacarya, những công trình của ông như in quyển Phật giáo Ấn Độ (Buddhist India) và tổ chức diễn thuyết về toàn cõi Ấn Độ được Phật tử biết đến.

Theo hầu Ngài có hai vị sư xứ Népal rất cương quyết: Đại Đức Dharmaloka và Đại Đức Mahaprajja. Các ông phải đương đầu với nhiều sự, cản trở khó khăn. Năm 1926 lại có vị Đại Đức cũng như vài vị Đại Đức trước bị trục xuất ra khỏi xứ Népal. Nhưng được hiểu sự hy sinh cao cả của Hòa thượng Darmapala sáng lập ra hội Maha Bồ Đề ở Ấn Độ, các ông lại giữ trách nhiệm dìu dắt các Phật tử xứ Népal theo triết lý thần túy của Đức Phật khi các ông ấy được phép trở về nước.

Chẳng bao lâu nhiều các vị Đại Đức ở Népal khác đến theo các ông như các Đại đức Aniruddha, Amritananada, Mahanama, Subodhananda, Sakyananda, Buddhagsila và Dharmaloka Thera chỉ huy các hoạt động Phật giáo ở Népal với lại đủ mọi phương pháp. Ba vị Tỷ khiêu nữa là: Asvaghosa, Kumara và Vimalanada đang theo học ở Tích Lan.

Trong năm 1944, lại có một cuộc trục xuất các Phật tử xứ Népal trong thời kỳ khốn quẫn đó, Hội Maha Boddhi Ấn Độ giúp đỡ rất nhiều cho các Đại đức bị trục xuất. Cùng năm ấy các Phật tử xứ Népal gặp nhau ở Isipatana và thành lập Hội Dharmodaya Sabha để truyền giáo ở Népal. Hội Sabha, được Hòa thượng U. Chandamani, Mahathera và Bhadanta-Ananda Kausalyayana là chánh phó Hội trưởng trông nôm và đã gây cho Hội Sabha một thế lực lớn. Không có các người thì chúng tôi không làm được một việc gì cả. Phái đoàn của Tích Lan đến thăm xứ Népal năm 1946. Thượng toạ Naradha Thera Trưởng phái đoàn được vua Maharaja đón tiếp. Đại đức Amritananda đi theo Ngài nói với vua về trường hợp những Đại đức xứ Népal bị trục xuất. Những người này được phép trở về nước. Thượng toạ Maha Thera Narada trở về Népal năm 1946, để dự lễ khánh thành tháp Sri Lanka Caitya mà ở đấy để xá lợi mang từ Tích Lan về. Nhân dịp đó vua Népal tuyên bố ngày Vaisaka Purnima là ngày quốc khánh cho tất cả Phật tử trong nước. Trong cuộc tới thăm ấy một nhành cây Bồ Đề được trồng. Một tịnh xá được lập cho các Đại đức và mở một thư viện cho các Phật tử. Lần thăm thứ ba của các Hòa thượng Mahathera Naradha năm nay vào dịp lễ Vaisaka có một sự quan trọng đặc biệt. Những sự đến thăm của Đức Mahathera đã giúp chúng tôi hiểu rõ  thêm về giáo lý thuần túy của Đức Phật và để nối dây liên lạc chặt chẽ với các Hội Phật giáo các nước. Trong 6 năm nay. Hội Sabha đã làm việc và được kết quả là Đạo Phật lại được tin theo ở xứ Népal. Chúng tôi mong cải cách các hình thức mà đã đi sai giáo lý thuần túy của Đức Phật với sự giúp sức của vài nhà học giả xứ Népal và mấy người mộ đạo chúng tôi đã thành nhiều Viharas như Patan, Palpa, Tansen, Butaul Pokhra, Kathmandu và Bhojpur. Chúng tôi được một ngôi nhà lớn ở Kalimpongở phía tây xứ Bengale, sẽ làm trụ sở và do đấy đang điều khiển các hoạt động của chúng tôi. Cơ quan nguyệt san của chúng tôi, báo Dharmodaya được đặc điểm là tờ báo độc nhất của xứ Népal. Chúng tôi đã in rất nhiều sách về Phật giáo bằng tiếng Newari và Népal. Những học sinh Népal gửi sang Tích Lan học rất tấn tới về đạo Phật và tiếng Phạm. Nếu có cơ hội thuận tiện chúng tôi mong thành lập một trường Phật học ở Kathmandu mà Đức vua đã cho phép. Một nhà hảo tâm đã cho chúng tôi một ngôi nhà thật lớn.

Những dự tính chúng tôi làm:

1) Làm cho những Phật tử xứ Népal hiểu rõ bổn phận làm đồ đệ và họ hàng của đức Phật. Về mục đích ấy chúng tôi muốn mở nhiều trường Phật học ở Népal.

2) Tất cả các làng to đều phải có một ngôi chùa với một hay nhiều vị Tỷ khiêu trụ trì. Mỗi một chùa phụ thuộc vào một Hội Phật giáo và hàng tuần ngày thứ bẩy đều có lớp giảng đạo và phát thuốc không lấy tiền.

3) Kinh Tạng, lời giảng và các sách vở khác về Phật giáo đều phải dịch ra tiếng Newari và Népal và được phổ thông cho mọi người với giá thật hạ.

4) Sự cần có một đông người làm việc đã thấy rõ rệt và chúng tôi mong thấy một số đông các trai trẻ Népal bắt tay vào một công việc Phật giáo. Như thế cần một số tiền lớn của Hội cấp cho nhiều thanh niên của xứ tôi đều ra ở nước có Phật giáo để học Phật giáo thực nghiệm.

5) Chương trình của chúng tôi cũng gồm cả việc ấn loát hai tờ báo nữa; một bằng tiếng Anh và một bằng tiếng Népal. Một tờ báo Anh Dharmodaya cho chúng tôi được luôn luôn giao dịch với các đạo hữu trên toàn cầu.

6) Xin với chính phủ Népal tìm cách gìn giữ các di tích Phật giáo hiện nay không có ai canh giữ trách nhiệm và sự trông nom gìn giữ Lâm tỳ ni và Ca tỳ la vệ cũng như nhiều chùa cổ khác đều phải giao cho một ủy ban Phật tử.

7) Khuyến khích các Phật tử các nước khác đến thăm xứ Népal. Những nhà thông thái và những nhà khảo sát về các nơi Phật tích sẽ được mời khảo cứu về văn hoá Phật giáo vĩ đại bằng tiếng Phạm hiện vẫn được gìn giữ ở xứ Népal trong các thư viện. Về sự phong phú về các bản tiếng Phạn nói về Phật giáo chưa in bao giờ, xứ Népal chỉ chịu thua có xứ Tây Tạng. Chúng tôi mong rằng Chính phủ của Đức Vua sẽ dành cho những nhà thông thái muốn tham khảo được hết sức dễ dàng.

Thật là một sự giúp đỡ lớn lao cho chúng tôi nếu tất cả các nước Phật giáo như Tích Lan, Diến Điện và Thái Lan có thể cấp cho chúng tôi những học bổng để cho học sinh Phật tử xứ Népal được theo đuổi học hành. Trong tất cả các hoạt động của chúng tôi, chúng tôi vẫn trông vào sự nâng đỡ tinh thần và vật chất của các đạo hữu và về ý tưởng mà hàng nghìn Phật tử ở các nước sẽ sẵn sàngcộng tác với chúng tôi, như thế sẽ làm vững chắc sự tin tưởng trong công việc của chúng tôi.

Sự tuyên truyền Phật giáo ngày nay là một sự cần thiết quốc tế và cần có những hy sinh lớn lao của các nước Phật giáo Âu-Á. Chúng tôi, Phật tử nước Népal rất lo lắng góp sức vào công việc lớn lao để làm cho Phật giáo thành một Tôn giáo quốc tế, để nhận của những đạo hữu tất cả những gì mà họ cho chúng tôi và để dâng cho tất cả cái gì mà chúng tôi có thể biếu họ được.

 

9. KỀ RIÊNG BIỆT VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Kỷ niệm công đức Phật cứu hai Hoàng tử

Theo lịch sử Phật giáo Tích Lan, khi Đức Phật Thích Ca đương giảng đạo tại Colombo, trong triều đình nước Tích Lan bỗng xảy ra việc Hoàng tử MOHADARA và Hoàng tử CHULADARA con của vua Tích Lan, vì sự tranh nhau nối ngôi báu quá kích động, sắp xảy ra sự can qua tàn sát, mà đến cả nhà Vua lẫn triều đình cũng không ngăn nổi cái thảm trạng nồi da sáo thịt sắp diễn ra ấy. Tin ấy đồn đến tai Đức Phật, Ngài liền cho mời cả hai anh em Hoàng tử đến giảng giải. Lúc ấy cả hai Hoàng tử đều hòa hợp vì nghe lời Phật trở lại với tinh thần cốt nhục.

Sau khi Đức Phật vào Niết bàn, nhà Vua Tích Lan nhớ ơn Ngài, mới cất ngôi chùa ở ngay nơi Phật giảng hòa để thờ kính. Hiện ngôi chùa danh lam cổ kính nhất ấy vẫn còn ở Thủ đô mới của Tích Lan. Chính là ngôi chùa Hội nghị đến làm lễ đây.

Hằng ngày cứ đến ngày Phật giảng hòa cho hai Hoàng tử là ngày 27-5 dương lịch, được đặt vào ngày quốc lễ của Tích Lan. Hòa thượng trụ trì cho biết: Năm nay Chính phủ Tích Lan cho tổ chức lễ kỷ niệm này long trọng hơn mọi năm là vì có Hội nghị Phật giáo thế giới.

Đúng 9 giờ đêm, chúng tôi cùng hai ông bà chủ nhà đi ô tô đến.

Ông chủ dẫn tôi đến chỗ có hai người đã cầm sẵn giáo đứng bên bể nước, họ liền múc nước rội cho chúng tôi rửa tay, rửa xong đi đến nhà Bảo tháp. Ông chủ lại vốc hoa mang sẵn trong lẵng đưa cho tôi rồi nói: “Thượng toạ dâng hoa lễ tháp này trước đã, vì tháp này có xá lợi của Đức Phật”. Hai tay tôi dơ vốc hoa rồi đi lượn xem có chỗ nào thưa người để vào dâng hoa, mà đi lượn mãi mà không làm sao len chân vào được với lớp sóng ngũ sắc, cứ hết lớp này dẹp xuống lại lớp kia dềnh lên của thập phương thiện tín đương lễ quỳ chung quanh cây bảo tháp to ngang núi. Sau có mấy người biết chúng tôi muốn dâng hoa đính lễ, họ liền đứng dậy lấy tay ra hiệu để nhường chỗ cho chúng tôi vào lễ.

Đến đâu theo lệ đấy, hai Ông bà chủ đều quỳ xuống đất lễ, nên tôi cũng quỳ lễ. Lễ tháp xong lại trở vào Bảo điện dâng hoa lễ Phật rồi mới ra đi xem.

Đầu tiên xem dẫy nhà một trăm gian làm chạy vòng quanh một nửa tòa Bảo tháp. Trong trăm gian nhà này đốt không biết bao nhiêu là đèn nến. Tôi hỏi bà chủ nhà:

– Người ta làm gì trong nhà này mà thắp nhiều đèn đến thế?

Bà trả lời:

– Cái nhà này chỉ làm nên để cho nhân dân đốt nến, cúng lễ trong các ngày trọng lễ. Phần nhiều nến đã bị gió thổi tắt đi rồi đấy, nếu còn đủ cả, thì có tới 84000 ngọn kia.

Ký già còn đếm được hai chục cây tre tươi, người ta chặt xuống để nguyên cả cành đem chôn xen lẫn với hàng cây chung quanh chùa, bên trên treo toàn đèn điện bóng ngũ sắc chiếu với những rừng cờ ngũ sắc phất phơ lóng lánh coi đẹp vô hạn.

Lại còn có những cái Phật đình mà người ta gọi là kiệu rước Phật của nam nữ thanh niên Phật tử họ làm ra để rước. Người ta đều làm dùng tre nứa làm khung, nhưng bên ngoài trang hoàng thì mỗi cái một khác; cái thì dùng các thứ hoa, lá thực kết nên, cái thì dùng hoa lá vải kết nên, lại có cái thì bằng bông ruộm các màu sắc kết nên. Các khán giả đều phải khen các cái kiệu rước Phật đó, họ làm công phu và mỹ thuật lắm. Bên trong cái nào ở giữa cũng có tranh Phật, chung quanh thắp nhiều đèn nến, bên dưới theo sau mỗi Phật đình là những nam Phật tử và nữ Phật tử, mà nam rước riêng, nữ rước riêng. Tuy vậy cũng có rất nhiều ông bà già nhập vào với họ nữa. Mỗi Phật đình có độ 50 người, 4 người phụ kiệu, còn đều đi thành hàng dẫy theo sau Phật đình, hết tụng kinh lại hát các bài Phật nhạc coi như hội rước “Tiên đăng, Tiên nhạc” vậy.

Tôi hỏi bà chủ: Sao lễ không có oản quả mà chỉ có bông hoa, đốt đèn, rước, tụng kinh, ca nhạc thế bà nhỉ?

Bà ấy trả lời: Dân Tích Lan chúng tôi không bao giờ dùng ỏan quả và làm cổ dâng cúng Phật. Chư Tăng chúng tôi chỉ có dạy rằng: Cúng Phật tụng kinh chỉ cần đốt nhiều đèn nến sẽ được phúc sinh ra nhiều trí tuệ, cúng nhiều hoa sẽ được phúc sinh ra nhan sắc mịn màng tươi đẹp. Hát các bài Phật nhạc để tán dương công đức Phật, để khơi ngợi lòng người tỉnh ngộ sẽ được phúc giọng tốt tiếng hay.

Từ lúc tôi đến Bảo tháp và Phật điện cho đến mãi lúc này, mà tôi không hề thấy qua một vị tăng nào ngồi hay đứng chỗ nào để tụng kinh cả, thế mà cứ thấy bốn cái loa truyền tiếng tụng kinh vang rội ra; sau ông chủ nhà mới dẫn đến ngôi nhà giảng đối trước mặt một pho tượng Phật, rồi thay phiên nhau tụng độ 15 phút lại thay phiên khác.

Chư Tăng tụng trước, thiện tín tụng sau, mà đều tụng bằng tiếng Tích Lan. Trong khi tụng kinh, chỉ khi nào thay phiên mới đánh ba tiếng chuông mà thôi, chứ không hề đánh mõ tụng nhanh liến đi như ở Việt Nam chúng ta.

Dân Tích Lan họ tín ngưỡng chân chính thuần túy, không có cái mê tín dị đoan, có lẽ một phần lớn ở chỗ họ tụng kinh họ hiểu nghĩa ngay, là vì họ tụng ngay bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi còn muốn nói thêm đến tục lệ của thiện tín Tích Lan khi đến chùa lễ nữa. Đối với thiện tín thì người nào đến trước tụng trước, người nào đến sau tụng sau. Người nào đem khăn hay giấy đi sẽ trải xuống mà ngồi, nếu không đem đi tất ngồi xuống đất mà tụng, chớ không làm gì có ai trải chiếu cho ai ngồi cả. Ngay bà chủ nhà đi với tôi là bà Bộ trưởng, chồng bà đương tại chức, thế mà đến chùa cũng phải phục ngay xuống đất mà tụng kinh lễ Phật. Có như thế mới đúng với nghĩa “xả thân cầu đạo”.

Người trên như thế, có nhiều người dưới bắt trước, thật là giản dị mà biểu lộ được tinh thần tự do trong việc đi lễ, khi đến chùa nào là hầu trầu nước, rồi lại hầu tiến lễ, trải chiếu, rồi đến cả hầu làm, cỗ bưng mâm, để cho người ta hầu đủ mọi việc trong khi mình đi lễ cầu phúc như vậy, sao gọi là “xả thân cầu phúc” được.

Chiêm bái xong, chúng tôi mới đến thăm Sư Cụ Chủ chùa. Bà chủ nhà đi với chúng tôi, vốn là con quy của chùa này, nhanh nhẹn vào trước để báo tin. Sư Cụ ra đón vào nhà khách mời ngồi. Một chú tiểu đồng mau mắn bưng ra khay nước đặt cho mỗi người một chén. Bà chủ đứng dậy vái. Sư Cụ bản tự điềm nhiên chắp tay dì dầm, có lẽ là Ngài cầu nguyện thì phải. Tôi hỏi Sư Cụ bản tự: Ngày lễ long trọng này Sư Cụ có bận việc lắm không? – Ngài trả lời: Không lấy gì làm bận lắm vì đã có Chính phủ cử ban tổ chức lễ nghi.

HỎI. – Lấy tiền đâu mà tổ chức long trọng thế?

ĐÁP. – Đã có tiền công quỹ của Chính phủ.

HỎI. – Thế số thu được của thập phương thì Chính phủ có lấy không?

ĐÁP. – Bao giờ Chính phủ chúng tôi cũng cúng số tiền ấy để vào nhà chùa chi dụng. Sư Cụ bản tự lại hỏi:

HỎI. – Ở Việt Nam có những ngày Quốc lễ về Phật Giáo không?

ĐÁP. – Hồi Pháp thuộc ở Việt Nam không có ngày Quốc lễ nào cả, nhưng từ ngày độc lập đến nay, thì các ngày Đức Thích Ca giáng sinh và tịch diệt được coi là ngày lễ chính của Phật Giáo cũng như ngày Quốc Lễ.

HỎI. – Giáo lý đạo Phật ở Việt Nam có được dễ dàng không?

ĐÁP. – Hơn 20 chục năm nay nhờ có ảnh hưởng Phật Giáo chấn hưng ở các nước lân cận, nên ở Việt Nam cũng có hội Phật giáo, Phật học ra đời cho nên các cơ quan truyền bá Phật giáo cũng được thành lập, những cũng vẫn bị chính trị và kinh tế chi phối kìm hãm, cho mãi đến mấy năm gần đây, mới được tự do truyền bá, thì lại bị tai hại chiến tranh tàn phá hủy hại.

HỎI. – Tăng đồ, tín đồ hiện tại ở Việt Nam sinh hoạt ra sao?

ĐÁP. – Một phần lớn chùa chiền nhà cửa bị tàn phá, ruộng vườn bỏ hoang dậm, cố nhiên sự sinh hoạt phải túng thiếu. Tuy vậy nhưng tinh thần của họ vẫn sống với tin tưởng vinh quang mạnh lắm.

Cuộc nói chuyện đã hết đến nửa giờ, trông đồng hồ đã gần 11 giờ rồi, chúng tôi phải xin cáo từ ra về với một kỷ niệm ngày quốc lễ của Phật giáo Tích Lan.

 

10. THANH NIÊN PHẬT GIÁO TÍCH LAN CÚNG TRAI

 

Buổi họp chiều hôm 27/5 tại trụ sở Thanh niên Phật giáo Tích Lan khi sắp bế mạc, một ông già gần 60 tuổi ra bạch rằng: Nhân danh trưởng đoàn Thanh niên Phật giáo xin kính mời Chư Tăng hội nghị nhận cho đoàn Thanh Niên Phật tử chúng tôi cúng dàng bữa ngọ vào ngày chủ nhật sắp tới tức là 28/5 này tại trụ sở của đoàn. Chư Tăng nhận lời.

Hôm sau gần giờ ngọ, chư Tăng ở các nơi đều có xe đưa đến nhà ngồi tạm. Ở đây người ta đặt ra hai nơi ngồi: một ngôi để ngồi tạm, một ngôi ngồi chính thức để làm phép trai thụ trai. Trước cửa nhà ngồi tạm, Thanh niên Phật tử tổ chức một lễ nghi không những tỏ ra tinh thần kính trọng chư Tăng mà còn có ý nghĩa khiến chư Tăng phải suy nghĩ đến địa vị của mình mà cố gắng dấng thân trên con đường tu niệm nữa. Số là có 18 thanh niên cầm 12 cái cán tre chống đỡ một tấm vải dài rộng suốt từ ngoài sân vào đến trong nhà, lại có một đoàn âm nhạc rước vào nhà. Chư Tăng đến nơi không phải chờ ai mời cứ việc trông con đường cầu trắng bắc bằng vải đó mà vào nhà ngồi tạm. Ngồi ở nhà tạm này là cốt để cho người giám trai biết Tăng số để chỉ bảo cho các người làm làm trai sắp đặt, hơn nữa là để Chư tăng đến đông đủ rồi sẽ tiến lên nhà trai mới tránh khỏi sự lộn xộn mất trật tự. Riêng ký giả muốn biên vào ký sự những điều mắt thấy tai nghe ở cuộc lễ cúng trai quan trọng này mới đem cái túi thường mang đi đường để lên trên ghế của mình ngồi, như thế để cho người kiểm Tăng số biết là đã có người. Xong sang thỉnh Thượng toạ Jinaratana cùng đi đến nhà trai để xem và hỏi cho biết.

Cái nhà trai đây chính là nhà giảng, có nhiều cửa đi lắm, nhưng hôm nay người ta chỉ để có hai cửa ra vào còn đều đóng hết, khắp mặt đất đều trải chiếu  rồi lại trảI vải trắng lên trên, cách độ hai thước rưỡi ta lại để hai cái nệm trắng, một cái để ngồi, một cái để dựa. Ký giả hỏi Thượng toạ Jinaratana: Bàn ghế đã có sẵn sao không để cho Chư Tăng ngồi ăn cơm cho khỏi tốn tiền mua vải trải và nệm tựa?

– Đáp: Không được, ở xứ Tích Lan không bao giờ có đám trai nào mà chư Tăng ngồi bàn ghế, đến cả các chùa thường cũng vậy. Vì chưa Tăng bên tiểu thừa đều muốn giữ lấy nguyên luật giáo của đức Phật tổ đã dạy.

– Hỏi: Sao tôi dự nhiều bữa cơm ở các chùa Hội quán đều thấy chư Tăng  ngồi bàn ghế ăn cơm kia mà?

– Đáp: Chắc Thượng toạ cũng thừa hiểu rằng lễ nghĩa quý hồ họp cơ, họp thôi và họp với xứ sở của nó. Ở hội quán hội Đại Bồ Đề là nơi có nhiều các Tăng già các nước đến như Thượng toạ chẳng hạn nên phải ăn bằng bàn ghế cho tiện.

Ký giả lại thấy ở đằng kia có nhiều người đương tấp nập bưng một chồng đĩa vừa to vừa nhỏ mà lại có đậy bằng lá chuối tươi cắt tròn tôi liền lại xin Thượng toạ dẫn sang xem để hỏi. Ký giả nâng lên một chồng đĩa bốn cái. Cái to nhất đựng cơm và bên cạnh có dúm sôi, còn xung quanh có tới bốn năm món ăn mỗi thứ chỉ độ một dúm thôi nhưng mỗi món đều đậy riêng biệt rồi đậy lá chuối. Đĩa thứ hai là các món ăn phụ thêm. Đĩa thứ ba là các thứ bánh ngọt và các thứ quả đã cắt sẵn từng miếng. Đĩa thứ tư có một chén chè sữa chua để khi dùng cơm xong tráng miệng, bên cạnh lại có một chén canh nhỏ là thức nước nấu súp rồi chắt ra. Vì chư Tăng ở Tích Lan cũng như ở Ấn Độ đều dùng tay ăn, nên ngoài đĩa và thìa ra không còn có bát đũa gì nữa, ký giả hỏi:

– Để các món ăn vào với cơm thế này, ngộ mặn quá hay có người nào tính không ưa dùng thì làm thế nào?

– Đáp: Ít khi bị mặn quá, vì ở đây người cúng cơm chư Tăng nhiều, nên người nào nấu nướng bầy đặt quen rồi, còn như các món mình không ưa dùng thì khi chộn món ăn vào cơm sẽ để lại bên đĩa, để về sau người ta cho người nghèo hoặc tự ăn cũng không sao cả.

– Hỏi: Đến bữa ngọ thì chư Tăng phải làm những phép gì rồi mới ăn?

– Đáp: Phải tưởng tượng rằng người ta làm gì ra tiền để cho mình ăn đây, mình đã đủ đức hạnh để xứng với việc người ta cung cấp cho mình ăn chưa? Nếu chưa thì khi ăn phải tự mình xin lòng hổ thẹn. Tuy chưa xứng đáng ăn, nhưng nếu vì mong sống để tu cho thành đạo nên cần phải ăn. Ai cũng phải ngồi tỉnh tâm tưởng nghĩ như thế. Sau khi suy nghĩ rồi, sẽ lại có một vị Thuợng toạ thuyết pháp cho mọi người nghe xong mới ăn. Khi ăn xong lại phải đọc kinh cầu nguyện cho mọi người cúng dàng và giảng cộng đức cúng dàng. Thượng toạ xem hàng nghìn người đang chờ chư Tăng làm phép cúng trai kia kìa.

– Hỏi: Ban nãy một tấm vải trắng có 12 người cầm dơ cao lên trông nó ý như cái cầu 12 nhịp, làm như thế có ý nghĩa gì không?

– Đáp: Phải có ý nghĩa chứ, tấm vải đó là hình ảnh của con đường trong sạch, 12 nhịp đó là ý nghĩa của 12 nhân duyên phiền não, người tu hành có cắt đứt được nó mới qua vòng ô trọc, để tiến lên con đường thanh tịnh. Giơ cao lên là cốt để biểu dương lòng tôn trọng con đường trong sạch của chư Tăng, lại còn có ý nghĩa là nếu người tu hành có trong sạch sẽ được vào dự tiệc trai với các thầy tu trong sạch, nếu mình không trong sạch mà cứ ngồi ăn thì sau sẽ phải mang khối tội nghiệp. Lúc đó ký giả đặt đều cãi bướng: Tôi không trộm cắp, không hà hiếp không lừa gạt để lấy của người ta mà ăn, người ta cho thì tôi có quyền ăn, sao lại bảo khối tội nghiệp, nếu thế thì nhỡn tiền của chúng ta thấy giữa thế gian này có biết bao nhiêu người không tu hành, không cầy ruộng, không dệt vải, làm thợ thuyền và buôn bán mà họ vẫn ăn cơm mặc áo và ở nhà của xã hội, có lẽ mai sau đều bị tội lỗi cả sau?

– Đáp: tuy người ta không làm các việc ở trên mà ăn cơm, mặc áo, ở nhà của xã hội là vì những người đó có lập công lập đức hay ít nhất cũng lập được ngôn hạnh để giúp ít cho xã hội mới đáng dùng của xã hội, nhưng đây lại là một chuyện, đây hãy bàn vào việc tu hành của chúng ta đã. Người ta chú ý cúng cho các thầy tu trong sạch, mình khoác áo thầy tu không trong sạch, không đạo đức mà ăn chả là giả mạo lường gạt người ta là gì? Thượng toạ nên biết của người ta là của mồ hôi nước mắt, hai sương một nắng, đáng lẽ ra chỉ có người ta với cha mẹ vợ con người ta được hưởng; nay người ta tự bớt phần ăn mặc lại sẻ đến cả phần cha mẹ vợ con đem đến cúng cho mình ăn, mặc, ở là người ta muốn đem tiền gạo đến đổi lấy phúc đức của mình đây; vì người ta tin chắc chắn ở mình tu hành trong sạch nên có nhiều phúc đức đem cúng dàng cho mình thụ dụng, nếu không trong sạch không đạo đức để nền giả công ơn người ta cúng dàng, thì trách sao cho khỏi mang nợ về sau.

Trông đồng hồ 11 giờ 20, sợ trễ giờ ngọ của chư Tăng, ký giả liền mời Thượng toạ JINARATANA cùng tôi đi ra nhà tạm trú ban nãy, ra đến cửa đã thấy âm nhạc ầm ỹ với con đường vải trắng đương lừ lừ trên đầu 12 thanh niên tiến thẳng vào cửa nhà trai, theo sau là linh một trăm chư Tăng.

Lại là một sự tôn kính đặc biệt này nữa. Mỗi vị Tăng vào đến cửa  đã có sẵn một người tháo dép, một người múc nước rửa chân, rửa xong lại đến lần hai người cầm khăn trắng tinh lau chân cho khô, cứ thế cho đến hết lượt. Mặc dầu chân sạch đến đâu người ta cũng cứ rửa. Đến lần ký giả bị rửa lấy làm ngượng quá, xin để tự rửa lấy, nhưng không được, sau đành phải cho người ta làm việc phận sự.

Sau cuộc rửa chân, chư Tăng đã yên toạ, bấy giờ mới làm phép trai, quả đúng như lời Thượng toạ JINARATANA đã nói. Cơm xong mỗi vị lại có riêng một bát nước lã đã nấu lọc rồi để nguội và một ống phóng để rửa tay và súc miệng xong lại thấy ra hiệu cho những người thiện tín ở ngoài vào nghe thuyết pháp, độ 10 phút rồi làm phép triết trai. Nữa dứt tiếng triết trai thì ông già trưởng đoàn thanh niên Phật tử lại nói lên một tiếng hiệu bằng mồm, thế là mỗi vị lại được một phần cúng thức mặc nữa, vị trên thì được một tấm áo pháp, vị dưới thì được cái quầy đều bằng vải vàng. Người ta cúng ăn cúng mặc xong rồi, bây giờ người ta thi nhau lễ để lĩnh phúc đức, vì thế nên lúc đó trước mặt mỗi vị Tăng ít nhất cũng có hai người trải khăn, hoặc giấy để lễ, lễ hết vị này đến vị khác, cả đến thiện nam tín nữ của phái đoàn Phật giáo Âu-Mỹ cũng đều ra lễ như dân bản xứ.

Tôi thấy người làm trai cúng và cả chư Tăng chứng trai trong tiệc trai này đều làm đúng phép Phật đã dạy cả, nên tôi rất cảm động với lòng thành kính của thiện tín và tâm phục lòng giữ phép tu hành của chư Tăng Tích Lan. Có thể đem sáu chữ “Sư đạo đức, chú tín tâm” để tán dương ở trai hội này.

 

11. HAI CHA CON ÔNG GIÀ CÙNG QUỲ TỤNG KINH BÊN CÁI Ô TÔ BẸP

 

Trưa ngày 29-5 chúng tôi đi chiêm bái 4 nơi Phật tích ở tỉnh Gandèsepura. Từ Colombo đến tỉnh này hơn 300 cây số, mới đi được có hơn 100 cây số, ô tô chúng tôi bị bẹp một góc và dẹo mất hai bánh trước vì nỗi đi trái đường va phải ô tô khác, thực là hú hồn, nhưng may sao không có ai việc gì, mà xe của họ không bị hư hỏng. Chủ ô tô kia lại là môt bà với hai cô và một cậu bé vừa đi lễ về đến đó, thấy chúng tôi là 4 vị Tăng xa lạ, lại bị xe hư hỏng giữa đường mà lại là nơi rừng núi, bà chủ đáng quý ấy còn đứng lại bên đường chừng một giờ đồng hồ để cho người lái xe của bà chữa xe cho chúng tôi kỳ đi được rồi bà ta mới chịu lên xe đi. Nếu như người vô đạo thì họ còn mắng cho mỗi người mộ thôi một hồi, rồi quay ngoắt mà đi chứ đợi đấy họ cho người nhà chữa hộ.

Ngờ đâu xe chúng tôi đi được 20 cây số nữa lại bị vỡ ống nước và cũng lại vẫn ở đường rừng, mà lúc đó đã hơn sáu giờ chiều. Mặt trời đã khuất núi, cảnh đen tối của rừng núi hiện ra rất nhiều trạng thái đe doạ người viễn khách, tôi đã dơm dớm nước mắt với cảnh ngộ đất khách quê người ngôn ngữ bất đồng, nhưng điều bất trắc xảy ra đêm nay chưa biết nguy hiểm ra sao, đương lúc tiến thoái lưỡng nan, bỗng có ô tô khác đến, ông chủ xuống hỏi, chúng tôi có đi chiêm bái, ông liền nói: “Cách đây chừng 20 cây số có phố Nivekara, có hãng ô tô hàng, vị nào lên xe đi với tôi đến đó rồi sẽ thuê họ đem xe kéo về, sẽ lại thuê họ chữa một thể, còn đêm nay chư Tăng ngự ở hàng cơm phố ấy cũng được. Vì phố ấy cũng có nhiều hàng cơm và chỗ ăn nằm cho thập phươngđi chiêm bái”. Thấy nói mừng quá, chúng tôi liền ngỏ lời cảm ơn và cắt hai vị Tăng Tích Lan lên đi nhờ, một vị đến thuê xe dẫn họ tới, một vị ở lại tìm hàng cơm rồi bảo cho họ sắp đặt nơi ăn nghỉ. Ô tô của ông chủ này vừa đi xong, kế đến ô tô của hai cha con ông già khác cũng đỗ lại. Một cụ già và một ông con chừng 50 tuổi, hai cha con đều quỳ lễ Thượng toạ JINARATANA, thấy Thượng toạ chỉ vào tôi chỉ vài câu, hai cha con liền quay lại lễ tôi, xong lại quay về nói với Thương toạ JINARATANA xin tụng kinh, thế là Thượng toạ đọc trước, hai cha con đọc sau, lâu đến 20 phút mới đứng dậy. Cụ già trông có vẻ bùi ngùi cho chúng tôi lắm, cụ nói: “Xe của tôi nếu không có mẹ con nhà cháu mong thì tôi xin hoãn việc về để đưa các Ngài đi”. Chùng tôi nói sắp có xe đến đón, bấy giờ mới thấy hai cha con ông già quý hoá ấy tươi tỉnh và chào lên xe đi. Tôi hỏi Thượng toạ JINARATANA: “Ban nãy Ngài đọc kinh gì cho ngườI ta thế?”

– Kinh cứu nạn, ở Tích Lan nhiều người đọc kinh này khi có tai nạn, nhưng khi nào có chư Tăng thì họ để  chư Tăng tụng trước, họ tụng sau.

– Thế Thượng toạ có quen ông cụ ấy không?

– Không.

– Thế thì ông cụ này mộ đạo ít người bì kịp.

– Ở Tích Lan số người như thế nhiều lắm.

 

12. TINH THẦN TRỌNG TĂNG CỦA DÂN PHỐ NIVENAKA

 

Đêm 29 rạng 30, chúng tôi ngủ ở hàng cơm phố Nivekara; sáng ra hãng ô tô cho biết có lẽ đến gần trưa ô tô mới chữa xong.

Các vị điểm tâm xong, vị thì đi phố, vị thì nghỉ, ông PHẠM CHỮ cũng đi chơi. Còn một mình tôi ngồi trên gác viết ký sự. Vì dân phố này người ta đồn có Phái đoàn Phật giáo Việt Nam đến đây, nên chốc chốc lại có mấy người lên tận gác để thăm lễ. Vì tôi không biết tiếng nên chỉ cứ dơ tay đáp lễ, bạn chào lễ xong cũng đứng nhìn một lúc rồi đi; từ 8 giờ đến 10 giờ, tính ra được hơn 40 người lên lễ. Đến lúc ông PHẠM CHỮ về, lại dẫn một ông đến giới thiệu là cựu Thanh Tra, cứ khẩn khoản mời tôi ra chùa ở phố đó cho dân chúng được chiêm ngưỡng. Thực ra đang lúc tẻ ngắt, tẻ ngơ, còn thiết gì đi đâu nữa. Sau nghĩ: sự mình buồn đây có ai biết, nếu ta không đi là phụ lòng người ta mà lại mang đều là kiêu ngạo. Liền bảo ông PHẠM CHỮ cùng ra chùa.

Đến nơi, ông cụ Thanh tra với chúng tôi đương nói chuyện, bỗng thấy có tới linh 200 người, đủ già, trẻ, trai, gái, sang, hèn kéo đến lễ lấy lễ để. Lễ xong đều đứng vây cả quanh tôi. Tôi chỉ đáp lễ bằng mấy câu để ông PHẠM CHỮ thông ngôn lại. Ông PHẠM CHỮ vừa dứt lời, ai nấy đều ra lễ nữa rồi mới giải tán.

 

13. CON PHẬT UỐNG NƯỚC, PHẬT SẼ TRẢ TIỀN

 

Ô tô của chúng tôi hỏng vừa chữa xong tại phố Nivekara, nhưng mới đi được độ 50 cây số lại bị liệt máy. Đứng chờ chữa lâu quá mới rủ nhau vào hàng nước của một ông già. Thấy chúng tôi vào, ông già vội vàng lấy bốn miếng vải trắng trải vào bốn cái ghế, tôi hỏi Thuợng toạ JINARATANA:

– Hàng trầu nước mà cũng có sẵn khăn trắng để trải khi có chư Tăng vào hàng nghỉ?

– Hàng cơm, hàng nước ở Tích Lan, hễ người nào theo Phật là hàng họ phải có sẵn khăn để phòng khi có chư Tăng vào thì họ trải. Ở Việt Nam có thế không?

– Ở đây chư Tăng mặc luôn áo cà sa trong mình, nên phải tôn trọng áo cà sa. Còn như ở Việt Nam chúng tôi chỉ có lúc tụng kinh, lễ Phật mới mặc áo cà sa, ngoài ra chỉ mặc áo thường, nên không cần trải khăn riêng để chư Tăng ngồi.

Đương bàn chuyện thì thấy ông già hàng nước đã rót sáu cốc nước ở trong bốn chai nước cam ra. Uống xong, ông PHẠM CHỮ chi tiền nước, ông già hàng nước nhất định không lấy. Ký giả nói: “Ông đã già nua lại nghèo khó mới phải ra ngồi dìa đường bán hàng nước để sinh sống. Chúng tôi là những người đi lễ cầu phúc, đáng lẽ phải ra tâm giúp thêm ông mới phải. Huống hồ còn uống hết bốn chai nước cam của ông buôn, nay bán đi mà không lấy tiền. Đã đành rằng ông mộ đạo kính Tăng, chúng tôi rất phục, nhưng còn tiền vốn của bốn chai nước cam chúng tôi vừa uống, thì ai trả tiền cho ông?” Ông hàng nước thẳng thắn trả lời: “Chư Tăng là con trưởng của Phật, con Phật uống nước thì Phật trả tiền, tức là Phật sẽ ban hạnh phúc cho, nếu các sư trả tiền nước mà tôi lấy, tôi sẽ mất phúc, tôi có dại gì lại lấy tiền nước của chư Tăng”.

Tôi hỏi Thượng toạ JINARATANA: “Đối với ông già bán hàng nước này cảm tưởng của Ngài ra sao?

– Người bán nước nếu lấy tiền của khách uống nước thì không cần phải nói đến. Đằng này người bán nước, cũng chẳng phải là bán không cho mình, vì họ còn nói: “Con Phật uống nước đã Phật trả tiền”. Đấy là đều chúng ta phải nghĩ! Riêng tôi nghĩ, chẳng những cảm ơn ông già hàng nước này đã xong, mà chúng ta còn phải lo tu hành để báo ơn ông ta mới đúng nghĩa Phật dạy “Tri ân báo ân”.

Vịnh ông già bán hàng nước biết đạo:

Giữ đạo tuy nghèo, nghèo chẳng hèn.
Này ông hàng nước quả nên khen,
Gian hàng độ nhật vui thanh bạch,
Chõng nước sinh nhai tránh cạnh chen.
Nghèo chẳng tham bo âu Phật chứng,
Túng mà thảo lảo ắt giời đền.
Kìa gương nhật nguyệt soi kim cổ
Thiện giả, thiện lai lẽ tự nhiên.

 

14. NGƯỜI CẢNH BINH CÓ LÒNG

 

 Ô tô lại vỡ máy, chuyến này không còn làm sao chữa được nữa, nhưng cũng may đã đến đầu tỉnh rồi. Ô tô đã chết, trời lại sắp đổ mưa, chúng tôi xuống, khệ nệ sách hành lý định chạy vào trú ở cái nhà còn cách đường độ hai trăm thước tây. Đằng kia có bốn người cảnh binh đang đứng gác hai đầu cầu. Một cảnh binh trẻ tuổi nhất chạy lại, trèo song đỡ lấy hành lý, mang không hết lại phải nhờ một người đang đi ngang đấy mang hộ. Bác ta vội chạy về nhà trước, thì ra cái nhà mà chúng tôi định vào trú đó, chính là nhà của bác ta, bác ta đến gần nhà, thấy ông già đầu bạc bế đứa trẻ đang ngồi, liền đứng dậy vào nhà, rồi đến người đàn bà độ 25 tuổi, vội vã mang ra cửa ba cái ghế, thế là bốn vị sư có đủ ghế ngồi, còn ông PHẠM CHỮ phải đứng. Bác cảnh binh chắp tay nói “nhà tôi chật hẹp lại có nhiều trẻ nên không dám mời chư Tăng vào nhà” ông PHẠM CHỮ chuyển lời tôi cảm ơn và hỏi thăm, thì ra ông già ban nẫy là bố, còn người đàn bà trẻ tuổi là vợ cùa người cảnh binh quý hoá đó.

Tôi thấy người trẻ tuổi mà có lòng, có đạo, để ý ngắm trong nhà xem phong thể. Thì có gì đâu, đồ sang trọng nhất là 4 cái ghế vừa đưa ra cho chúng tôi ngồi đó, vẻn vẹn có ba gian nhà tre lộp lá dừa, cửa trước, cửa sau đều bằng liếp với mấy cái chõng tre chằng dây gai như kiểu ta thắc võng; một lũ trẻ bốn đứa suýt soát nhau đang đùa nghịch ở nền nhà nhẵn thin. Chỉ có đặc điểm nhất là xung quanh vách đất quét vôi trắn nõn với 6,7 bức ảnh Phật và ảnh chùa tháp, còn điểm thêm mấy bức ảnh mà tôi không biết tên; nhưng có lẽ ảnh những vĩ nhân của Tích Lan xưa. Lúc đó tôi phê bình thầm rằng: Nhà này tuy nghèo, nhưng phong độ không nghèo, người này tuy làm cảnh binh, nhưng khí phách ra người hiền lương. Tôi đương ngồi xem, bỗng bác ta mang ra 5 cốc nước mới uống. Tôi nhắp thử thấy thơm, lại ngòn ngọt. Mới hỏi Thương toạ JINARATAN: Coi bộ nhà này nghèo thế mà cũng có chè hảo hạng và đường nhỉ?

ĐÁP. – Thượng toạ có đi nhiều ở Tích Lan sẽ thấy tinh thần ái hữu của dân họ cao lắm, ít người chịu đem sự nghèo túng ra đối với bè bạn vì thế nên nhà nào cũng có chè với đường để khi có bạn đến thì thết.

HỎI. – Thế ngộ nhà nghèo cùng thì làm sao?

ĐÁP. – Dân Tích Lan ít người nghèo cùng quá, vì họ không có quan tham lại nhũng, ít khi có trộm cướp, cũng ít khi có đám kiện tụng về xâm chiếm hà hiếp lẫn nhau, từ trên đến dưới ít khi trên cờ bạc, hát xướng. Nền phong hoá thuần túy đó là do Phật Giáo đào tạo nên.

Đã tạnh mưa, Bác Cảnh binh lại khệ nệ đem hành lý tiễn chúng tôi đi cho tới khi ô tô đến đón, mới chào rồi lại về đầu cầu làm phận sự.

Đi đường trường hơn 300 cây số, bốn lần ô tô vỡ máy ở giữa đường rừng, đồng quê ở nơi khác đất nước, khác giống nòi, giá đặt cảnh ngộ nguy hiểm ấy vào địa hạt của một dân tộc khác, thì tình lữ thứ của người viễn khách đem vào ký sự cố nhiên nó chỉ là một thiên ai oán chua cay với những con mắt quen suy bì mầu da, chia tách nòi giống để bạc đãi nhau. Ký giả cũng gặp những cảnh ngộ gian nguy mà có những thiên ký sự đầy những tấm đạo tâm thân mật sâu xa của dân Tích Lan đủ các hạng người, đối với chúng tôi là người không thờ chung tổ quốc sống chung cảnh khổ, có lẽ Đức Phật đầu cơ ra tai nạn cho tôi được mắt thấy tai nghe để thêm đi sâu vào lòng mộ đạo và tinh thần ái hữu của dân Tích Lan.

 

15. TỈNH GANDESEPURA VỚI PHẬT GIÁO TÍCH LAN

 

Thuợng toạ JINARATANA đã có dịp cho biết kinh đô cổ kính nhất và nhiều chùa tháp cổ nhất, to nhất của Tích Lan đều ở tỉnh Gandesepura. Trước đây quân HUNG NÔ và quân HỒI đã tàn phá nhưng cũng may còn lại được vài nơi là vì họ không dám phá, như điện Bồ Đề và tháp Xá Lợi. Từ khi người Anh cát Lợi trả quyền Độc Lập cho Tích Lan, tỉnh này được đứng vào đầu chương trình kiến thiết, vì nó lá một tỉnh quan hệ với lịch sử Phật giáo, là nền quốc giáo của Tích Lan.

Từ xưa đến nay, bao giờ tỉnh này cũng là nơi để cho các Phật tử thế giới đến chiêm bái và khảo cứu về Phật giáo tiểu thừa và nơi họp chỗ tín đồ Phật giáo Tích Lan, đến đó hội họp để đi chiêm bái nhất là ngày 30 và mùng một hàng tháng, thiện tín đi hành hương đông không thể tưởng tượng đuợc, Ký giả có hạnh phúc đuợc đi chiêm bái khắp các nơi Phật tích ở tỉnh này.

A- Chiêm bái điện Bồ đề

Các nơi Phật tích tuy ở trong tỉnh lỵ, nhưng lại ở cả trong các quả đồi, núi.

Giữa đỉnh một quả đồi thấp nhỏ có cây Bồ đề sống linh 1800 năm, cái cây mà người ta gọi nó làm tiêu biểu cho đạo từ bi quảng đại này chỉ có hai cành mà không được to lắm, giá đo chiều rộng chỉ độ thước rưỡi ta, trông có vẻ cằn cổi lắm, có lẽ sợ gió lay gẫy, nên đã có sáu cây sắt to chống lấy hai cành ở trên một khoảng lưng chừng, đồi to chừng 8 miếng đất và cao độ bảy thước tây, chỗ đó gọi là Điện Bồ đề, chứ kỳ thực không có tòa điện nguy nga, đồ sộ như chúng ta vẫn tưởng. Bên ngoài vây kính bằng hàng rào chấn song sắt, chỉ để có một cửa đi lên. Tôi xin lên chiêm bái, vị lão Tăng giữ hương đăng nói: ngoài vài vị tăng chúng tôi lên đèn hương và quét dọn lá Bồ đề, không ai được lên.

Tôi hỏi: Bồ đề là tiêu biểu cho đạo Đại từ bi quảng đại, làm sao lại cấm ngặt thế?

ĐÁP. – Vì để cho lên thì chỉ nửa ngày là cây Bồ đề này sẽ bị các con Phật vặt hết lá đem về lấy khước.

– Thế thì cấm là phải.

Lão Tăng lễ rồi ngắt mộ dúm lá Bồ đề đưa tôi mà bảo rằng: “Cầm lấy đem về Việt Nam làm quý vật”. Bên ngoài điện Bồ đề có mấy cái hương án bằng đá đục trạm trông có vẻ mỹ thuật cổ của Phật giáo, để dâng hương hoa; thập phương lễ bái, tụng kinh đều ở cả bên dưới, xung quanh điện Bồ đề; người sau mới trồng thêm chục cây Bồ đề nữa, các cây trồng sau có cây rườm rà đến vài sào ruộng. Vua DEVAMPIZA ngày xưa có xây tường ở chung quanh vườn Bồ Đề, tuy chưa bị đổ vỡ hư hỏng, nhưng những vết vạc đẽo của gió mưa đã đánh dấu một nơi Phật tích có vẻ cổ lắm. Cây Bồ đề ở điện Bồ đề chính tay công chúa SINGHAMITTE con của vua A DỤC triết cành ở cây Bồ đề nơi Đức Phật ngồi tu thành đạo. Khi nó ra rễ lại tự tay công chúa cắt, rồi tự công chúa vượt bể Ấn Độ qua Tích Lan trao cho một vị lão Tăng đem trồng. Hiện giờ ở vườn Bồ đề còn hai pho tượng đá thờ ở riêng một đài, một pho tạc hình công chúa đang quỳ dâng cái chậu ương cành Bồ đề, một pho tạc hình vị lão Tăng đương bưng lấy cái chậu Bồ đề ở tay công chúa trao sang. Ký giả có vịnh tức cảnh:

Kìa đài kỷ niệm cây Bồ Đề,
Hai tượng tinh thần khéo tạc ghê,
Sư đỡ trên tay nghành đạo đức
Chúa trao tựng mặt nhánh từ bi.
Hương thuyền mua thủa thơm làng sãi,
Đèn tuệ ngàn hương tỏ mặt huê,
Giả sử đời còn Sư Vãi ấy
Thuyền lâm đâu đến nỗi suy vi.?!

Thượng toạ JINARATANA cho biết rằng: “Giặc Hung và giặc Hồi, khi đến tàn phá kinh đô này, đã định tàn phá cây Bồ đề này đi, nhưng hể quân lính đến nơi lại ghê rợn, sau không một tên quân nào dám động chạm đến cả. Hầu hết dân Tích Lan họ đều tưởng tượng như Đức Phật vẫn hiện tại ở đó để cứu độ chúng sinh, nên không những họ đến đây lễ bái đông mà thôi, nhiều nơi họ còn triết cành ở những cây bên ngoài kia đem về nhà trồng cho mát mẻ. Nhiều nơi họ trồng ở bên đường, lại làm lên những đền miếu con, để rước tượng Phật lên thờ.

HỎI. – Bên Việt Nam có thế không?

ĐÁP. – Không, đền miếu thờ ở các ngả đường hay gốc cây ở Việt Nam có lẽ còn nhiều hơn. Nhưng trong đền miếu đó, họ chỉ thờ những ông Thần, bà Thánh, đố vị Sư thông minh nào tìm thấy được ở trong kinh Phật có nói đến tên các ông, bà, cô, cậu của họ thờ cúng.

B- Chiêm bái bảo tháp to nhất thế giới

 Cũng ở trong tỉnh lỵ Gandesépura này còn có hai tòa bảo tháp to nhất thế giới, mà đã hư hỏng mất một tòa, chỉ còn nguyên vẹn được một tòa trên chóp có viên ngọc trị giá bốn triệu bạc Đông Dương, của chính phủ Diến Điện cúng. Thượng toạ JINARATANA cho biết rằng: Các bảo tháp ở Ấn Độ và ở Tích Lan hiện thời, chỉ có tòa tháp này là còn có nhiều Xá lợi của Phật nhất, cả dân Tích Lan họ đều tin rằng: Nước họ còn giữ được Xá lợi của Phật ở tháp này, nên dân họ còn nhiều hạnh phúc. Tòa bảo tháp này do vua Tích Lan ngày xưa xây, bên dưới chân tháp còn có hai pho tượng Quốc vương và Hoàng hậu Tích Lan bằng đá đứng chắp tay hướng lên tháp, để kỷ niệm kỳ công đệ nhất Phật giáo Tích Lan.

Chính phủ Tích Lan mới xây dãy tường bao bọc xung quanh tháp, dãy tường này đặc biệt nhất là có tới một nghìn đầu voi rất to, đắp theo với dãy tường, trông có vẻ đẹp và hùng tráng lắm. Thương toạ JINARATANA cho biết bức tường này xây hết một số tiền là 1 triệu bạc Đông Dương.

C- Chiêm bái nơi xương minh Phật giáo trước nhất ở Tích Lan

Cũng tỉnh Gandesepura chừng 15 cây số, có dãy núi Mihimtale. Theo lời Thượng Toạ JINARATANA thuật chuyện: “Dãy núi này có một lịch sử độc nhất của Phật giáo Tích Lan, vì vua A Dục sai Hoàng tử MAHINDA là con của Ngài sang Tích Lan truyền bá Phật giáo. Hoàng tử MAHINDA sang đến núi này tình cờ gặp vua Tích Lan là DEVAMPURA đang săn bắn, Hoàng tử cho mời vua DEVAMPURA lại nói rằng: “Vâng mệnh Phụ vương tôi sang đây làm sứ mệnh của Đức THÍCH CA, để truyền bá đạo lý của Ngài. Nay tôi muốn được ông giúp đỡ. Vua DEVAMPURA cảm phục quá, liền quỳ xuống hôn chân Thái tử và phát thệ xin theo trí hướng, lại thề với Hoàng tử xin từ nay bỏ hẳn nghề chơi săn bắn, tức thì ra lệnh cho quẳng hết cung tên, lưới, nỏ xuống hang núi”. Dãy núi này từ đó được thiết lập thành nơi đại đạo tràng trước nhất ở Tích Lan. Vua A Dục có ban Xá lợi của Phật để thờ ở tòa bảo tháp ở trên chỏm núi ấy. Tuy bảo tháp này đã hư hỏng cũng như các bảo tháp khác, nhưng Xá lợi của Phật vẫn còn”.

Khi đến chân núi, bắt đầu tiến lên, tôi đã có ý đếm xem được bao nhiêu bực mới đến đỉnh núi có bảo tháp. Mới lên được 1/3 đuờng mà tôi đã đếm đuợc hơn 500 bực, sau thấy có nhiều chỗ cần phải hỏi cho biết, đành bỏ dở không đếm nữa, nhưng nếu đếm cho đến hết, cũng chỉ độ nghìn hai, nghìn ba bực thôi. Bực xây chỉ độ 5 tấc ta chứ không cao.

Vì sao tôi không đếm nữa? Đến đây đã là một dãy núi cao chót vót mà lại bằng phẳng rộng rãi bao la, còn đầy những đường bệ của Phật điện, có sở của Tăng đường, đánh dấu một lịch sử Phật giáo oai hùng về thời dĩ vãng. Thế mà quân giặc Hung và Hồi nỡ tàn phá chỉ còn lại hàng bao nhiêu cột đá, tảng đá v.v…Cảm xúc nhất là khi đi đến chỗ hai món bảo khí để đựng món ăn uống của Chư Tăng ngày xưa: Một cái thuyền đá để đựng cháo cho Chư Tăng, gắn chám đường còn lành lặng nguyên, đo chiều dài được 12 thước tây, chiều rộnh và sâu đo được một thước. Còn cái thuyền đựng canh bằng 1/3 cái đựng cháo, ngay ở nơi hai cái thuyền đá đó còn có bực xuống hồ là nơi Chư Tăng tắm rửa ngày xưa. Vốn núi này đã có đầy cây cối cổ thụ, thật là cảnh trí rừng thuyền, thế mà người ta còn mới trồng thêm dị thảo, kỳ hoa, từ chân lên đến tít ngọn núi và ở các ngả đường ngang dọc trên núi; những đàn chim nhảy nhót ngạo nghễ trên các hàng cây kêu kêu hót hót, hình như đương mách bảo: “Đây là cảnh thoát trần, cố tiến lên, cố tiến lên!” Nếu mà quân giặc họ không tàn phá, thì cái cảnh trí thiên tạo, lẫn nhân tạo này còn hùng vĩ trang nghiêm biết mấy! Giả sử có những cây bút tài hoa tả cảnh ở Phong Thần, ở Tây Du có tái sinh cũng khó mà tả hết được cái đẹp của nó.

Đứng đấy mà trông lên tòa bảo tháp ở ngọn núi trên, hãy còn cao xa tít mù tắp, thế mà các ông già, bà cả đều cố hăng hái ra tay ghì chặt vào cái cây để leo lên. Một bà cụ nhà quê đầu bạc phơ đương ngồi thở, tôi hỏi đùa:

– Cụ già yếu như vậy thì ra chùa làng mà lễ cũng được, can gì mà phải lên đây cho mệt mỏi?

Bà cụ trả lời bằng một giọng phều phào:

– “Chùa làng tôi làm gì có xá lợi của Phật, có lễ chẳng qua chỉ là bái vọng, công đức nào bằng được đến lễ bái ở nơi có thân kim cương của Phật. Mỗi tháng con nó để cho hai ngày đi lễ cầu phúc lại còn sợ mệt. Tôi đi lễ Phật đây tuy có mệt, nhưng rất vui sướng, chứ 28 ngày đun bếp thổi cơm, giữ nhà, ẵm cháu còn mệt hơn và còn buồn khổ hơn nữa”.

– A Di Đà Phật, cụ thành tâm lắm, Đức Phật đã chứng rồi đấy, mời cụ đứng dậy leo với chúng tôi cho vui chân.

Lên đến nơi, người nào cũng mệt nhoài, phải ngồi nghỉ và xin nước uống rồi mới đi lễ được. Chúng tôi vào dâng hương, lễ xong ra đi xem, Thượng toạ JINARATANA cho biết: “Cây tháp này nếu còn nguyên vẹn, thì cũng như cây tháp thờ xá lợi Phật mà chúng ta đến lễ hôm qua đó”. Lúc đó tôi tưởng như gần với nền trời xanh. Trông thấy khắp đảo Tích Lan toàn một mầu xanh ngắt của bức bình phong núi, và các tấm gương nước trong veo, bèn ngâm:

Quanh Phật đài non nước, nước non,
Chùa xưa tháp cũ ngát càn khôn,
Chẹn hương vừa ngát đài mây gió,
Phảng phất nhường như chướng thạch hồn[1]Thạch hồn tỷ với chân thân bất diệt.

Được đến chiêm bái những tòa điện tháp nguy nga, đồ sộ cả về thiên tạo lẫn nhân tạo, của bốn nơi Phật tích, đây là phần thưởng thứ nhất của đời tôi. Trái lại cũng rất ai oán với tạo hoá đa đoan, đã tạo ra những ông vua chúa có đạo như vua A DỤC, vua DEVAMPURA và hoàng tử MAHINDA và công chúa SINGHAMITTA, cùng nhau xây đắp nên nền Phật giáo cả về tinh thần lẫn vật chất, hình thức ở Ấn Độ và Tích Lan mà nghìn muôn đời về sau, dù cho các chính phủ có sùng mộ Phật giáo đến đâu đi chăng nữa cũng không thể làm nên được; làm sao mà lại còn tạo ra những chúa vô đạo như chúa quân Hung, quân Hồi, để họ tàn phá hầu hết những nơi làm nền tảng phong hoá, đạo đức chung của nhân loại như vậy. Không biết bọn tàn nhẫn, họ ở suối vàng ngày nay có nghe thấy những điều ai oán của thiên hạ mà tự ngậm ngùi, hối hận không?

Dưới đây xin kết luận về việc đi chiêm bái này:

Quá trưa hôm 30, chúng tôi đến nơi, đã thấy quang cảnh như hội chùa Hương Tích vậy. Dân Tích Lan gọi tỉnh Gandesepura này là kinh đô Phật giáo thực không ngoa. Khắp trong tỉnh chỗ nào cũng có cây cối rườm rà, ít khi có ánh nắng. Ở dưới đất trồng cỏ sén bằng, khách thập phương lễ bái xong ra các bãi cỏ đó nghỉ ngơi, người thì ngồi, người thì nằm, người thì ra suối tắm gội. Ô tô của thập phương để ở vệ đường bên suối, chỗ nào cũng nhiều. Còn xe ra vào tựa như một thị trấn lớn, chứ thực ra tỉnh này vừa nhỏ lại ít người buôn bán. Thoạt đến tỉnh đã thấy mấy chiếc cổng làm theo mỹ thuật nhà Phật, mỗi cái cổng đều bắc loa, để truyền ra các bài kinh, bài văn, những khi chư Tăng tụng kinh cho thiện tín tụng theo, quả là một chợ người tụng kinh.

Tôi thấy đông đúc quá như vậy, tưởng chừng thế nào cũng có các trò ăn tiền như các nơi hội chùa ở Việt Nam, nên đã để ý tìm cả ngày lẫn đêm, quả không có một trò gì có tính cách ăn tiền và hủ bại, cũng không có thấy một hàng cơm nào cheo những đùi thịt lủng lẳng nhưng hội chùa Hương, hội Phủ Giầy, Kiếp Bạc ở ta. Trái lại, thì hàng giải khát nhiều vô kể, bán toàn nước cam nước chanh, nước chè pha lẫn với sữa bò. Mỗi hàng còn chất hàng đóng quả dừa non, theo giá tiền ta chỉ độ vài hào một quả, ai mua xong, họ cầm dao vạc luôn núm rồi uống chứ không phải dùng đến cốc chén chi cả. Hàng nào cũng có nhiều thanh bông hoa quả, như chuối ngự, dưa và cam với các thứ bánh ngọt. Lại còn có mấy khách sạn rộng rãi, mát mẻ, có nhiều buồng ăn, ngủ riêng cho thập phương đi lễ bái về đêm. Các khách sạn này, đều của các nhà Phật tổ chức, cũng nhằm vào mục đích chấn hưng Phật giáo. Sáu người chúng tôi ăn ở hai ngày mà ông chủ khách sạn không lấy một xu nào.

Tôi hỏi: Như vậy thì lấy gì mà sinh sống?

ĐÁP. – Tôi có nghề nghiệp khác, hàng tôi bán nhờ đất Phật ở đây tuy cũng có ăn lãi một chút của các nhà phong phú bản quốc, còn các Ngài là Phái đoàn Phật giáo ở ngoại quốc đến, tức là thượng khách của chúng tôi, chúng tôi được cung tiếp là phúc lắm.

Chúng tôi đến chiêm bái khắp các nơi đã kể trên, nơi nào cũn đông đúc, nhất là ở điện Bồ đề, tháp xá lợi, náo nhiệt, tưng bừng chừng như cực lạc ở nơi này, người ta gọi tỉnh này là “kinh đô Phật giáo” tôi xin đặt cho nó thêm một tên nữa là “Phật tích hiện tại kinh kỳ”, theo với cảm hứng ấy, tôi có vịnh:

Tích Lan có tỉnh Găng đề sê,
Phật tử mười phương lũ lượt về.
Chợ họp hương hoa thông mấy phố, 
Loa truyền kinh giáo dậy tứ bề,
Lưng trời bảo tháp chen đầu lễ,
Rợp đất Bồ Đề sạt gối quỳ,
Nếu chẳng nhân gian đây Cực lạc,
Thì đâu Phật tích tại kinh kỳ.

 

16. MỘT TỔ CHỨC GIÚP KHÁNH HÀNH HƯƠNG CÓ ĐẦY Ý NGHĨA CỦA NHÂN DÂN TÍCH LAN

 

Vì là ngày 30 và mùng 1 nhân dân Tích Lan về tỉnh GANDESEPURA này chiêm bái các nơi Phật tích đông đúc quá, nên giữa các con đường chính sứ, nhân dân họ có một tổ chức giúp đỡ cho mọi ngườ đi lễ, thực là một tinh thần bác ái đáng phục, mục đích của họ cốt làm cho giầu, nghèo ai ai cũng có thể đi lễ được, còn như người nào bận không đi được, cũng vẫn gom góp được tiền cầu phúc.

CÁCH TỔ CHỨC_ Khắp trên dải đất Tích Lan có bao nhiêu con đường, cách độ năm, sáu chục cây số lại có một nơi nhà trạm, trước cửa nhà trạm có một cái cổng trào đồ sộ, trên cùng của hai mặt cổng là hai bức tranh Phật, còn toàn thân cổng ken bằng lá dừa, có chương hoa kết thái, trông mỹ lệ lắm, bên cổng lúc nào cũng có mấy người cầm cờ Phật giáo (vì họ tập đoàn đi lễ, mỗi đoàn đi ô tô đều có cắm cờ Phật giáo) họ phất cờ chào, ô tô đều phải đỗ, sẽ được mời vào nhà trạm nghỉ ngơi, uống nước, ăn cơm, ăn uống đầy đủ lắm mà bất cứ là quen hay lạ, ăn xong đều không phải trả một khoản tiền gì cả. Lượt đi dọc đường chúng tôi phải chối từ với nhiều nơi: lượt về đến nhà trạm ở phố HELSNARA, có báo hiệu đặc biệt là có chư Tăng đến, rồi có ngót 100 người ồ ra vây kín cả ô tô để mời một cách khẩn khoản, ý tôi cũng muốn biết rõ cách tổ chức cao quý của họ để vào ký sự, mới rủ nhau xuống, được mời vào tòa nhà riêng mà họ đã ấn định để cúng chư Tăng khi đến, có khăn trắng mới tinh trải phủ bàn ghế, lại có vẩy nước hoa thơm ngào ngạt; họ biết luật lệ của chư Tăng, không dùng món ăn phi thời hoá nên mỗi vị chỉ được một cốc nước cam với một miếng trầu, còn được họ lễ để lấy công đức vô kể, mọi người lễ chào mừng xong, tôi bảo ông trưởng ban tổ chức đưa đi xem khắp lượt các nơi.

Cái nhà trạm này dài tới 7 gian, làm bằng tre, lợp lá dừa, cũng chương hoa, kết thái như sắp vào đám hội có độ 50 thiện tín đang ăn cơm, mà món ăn khá sang.

Tôi hỏi: Hai hôm nay được chừng bao nhiêu khách hành hương vào ăn uống vào quý trạm?

– Được một vạn linh năm ngàn người.

Lại dẫn vào xem chỗ thổi nấu, ký giả thấy hiện còn tới 10 tạ gạo, ba nồi cơm nguyên, với một nồi đương sới giở, bốn xanh mười món ăn hãy nóng. Các món rau đậu sống hãy còn ngỗn ngang. Đến xem nhà sắp đồ nước, có tới hàng mấy nghìn chai nước cam, nước chanh, phần nhiều chỉ còn vỏ; chuối ngự còn treo đến 20 buồng; dừa, cam còn khá nhiều, nhất là bánh ngọt họ làm đến sáu thứ.

Tôi hỏi: Mỗi tháng vào ngày 30 và mồng một, các ông đều có tổ chức như thế này phải không?

– Thưa phải, chỉ có sự trang hoàng thì kỳ này nhiều hơn, là vì hội nghị Phật giáo thế giới đi chiêm bái qua đây.

– Mỗi kỳ làm tốn độ bao nhiêu, và lấy tiền đâu mà làm?

– Mỗi kỳ trung bình hết độ hai vạn bạc Đông dương, nhưng kỳ này hết nhiều hơn. Số tiền này là của tất cả mọi người hảo tâm, từ người phu xe, người thợ cầy, đến các nhà hào quý đều có góp vào, không chỉ những góp tiền mà thôi, người góp gạo, người góp củi, người góp các món nấu, người góp hoa quả, bánh trái v.v… chúng tôi không phải bổ bán cho ai cả, thế mà kỳ nào làm xong cũng còn thừa tiền.

– Cách tổ chức cho thập phương đi chiêm bái, đến đâu đói khát có chỗ ăn uống đầy đủ, khang trang thế này thực là một phong tục thiện mỹ, nhưng giá để cho người nào ăn uống sẽ phải trả tiền, có phải khỏi phiền đến các người nghèo khổ lo tiền đóng góp không?

– Nếu ai ăn uống xong cũng đều phải trả tiền, nó lại là sự buôn bán, không còn gọi là mỹ tục đuợc nữa. Dân chúng tôi bất luận giàu nghèo, ai được góp vào công cuộc này đều lấy làm hỷ xả, chứ không một ai cho là phiền, vì họ cho rằng đã được đóng góp vào việc cầu phúc chung, mặc dầu không đi lễ được đấy, nhưng vẫn được phúc như người đi lễ. Bao giờ sự đi đến các nơi Phật tích chiêm bái của dân Tích Lan chúng tôi cũng đông đúc, vui vẻ, là vì nước chúng tôi chỗ nào cũng có tổ chức giúp đỡ cho đồng bào chúng tôi đi chiêm bái một cách chu đáo.

Trong hai ngày ở một nhà trạm này, đã có tới một vạn linh năm nghìn khách ăn uống, về việc đi chiêm bái Phật tích, huống hồ còn khắp các nhà trạm trong nước, đủ thấy lòng một Phật của dân Tích Lan sâu xa đến thế nào. Hôm qua, Ông Tỉnh trưởng tỉnh Gandesepura nói: “Cứ đến kỳ 30 và mồng một, trong tỉnh này trung bình cũng có tới bốn vạn người lui tới lễ bái các nơi Phật tích”. Quả thật ông nói không sai.

 

17. ĐI CHIÊM BÁI CHÙA RĂNG PHẬT

 

GIẢI ĐỀ: Sau khi Đức THÍCH CA vào Niết Bàn, rước Ngài vào đàn hỏa (đàn thiêu) thì tòan thân của Ngài đã biết thành những viên Xá lợi, những Xá lợi đó đều rước vào bảo tháp nhưng còn một chiếc răng đốt làm sao cũng không cháy. Đến khi chia Xá lợi của Phật cho vua các nước rước về thờ, thì chiếc răng vô giá đó, chia về phần vua Tích Lan, hiện giờ thờ tại chùa Răng Phật ở tỉnh Kandy, chính là ngôi chùa mà Hội nghị Phật giáo thế giới đã làm lễ tuyên thệ.

Chùa Răng Phật, thường lệ một năm chỉ có một ngày lễ trọng mới được rước Răng Phật ra cung ngoài cho thập phương chiêm bái, đến khi đã rước vào cung trong, dù cho bậc nào cũng không được vào vì sợ người khác rước trộm. Vì có cuộc hội nghị Phật giáo thế giới nên Hòa thượng trụ trì mới tổ chức riêng một ngày trọng lễ vào ngày mùng 3 tháng 6; ngày đó, rước Răng Phật ra cho Phật tử thế giới chiêm bái.

Trước giờ rước ra cung ngoài, các vị Trưởng Phái đoàn xuất gia phải vào nội cung lễ xin rước ra. Tôi cùng với một Hòa thượng đại biểu Phật giáo nước Ý hân hạnh được mời vào trước nhất, lúc vào đến nơi tôi còn thấy hai cái khoá sắt to ngang bàn tay đeo ở hai cánh cửa sắt chưa ngỏ. Một vị lão Hòa thượng trong bốn vị Hòa thượng túc trực cầm hai chìa khoá mở cửa, một vị Hòa thượng khác đưa cho vị Hòa thượng nước Ý một cái đai bằng vải vàng để thắt ngang lưng rồi mới được vào, lại có một Hòa thượng nữa đưa cho một vốc hoa để rải trước bảo tháp vàng có Răng Phật ở trong, rải hoa xong liền quỳ cầu nguyện độ nửa phút rồi lui ra. Kế đến lượt tôi và tất cả các vị Trưởng phái đoàn xuất gia lễ, sau đều theo lễ nghi như thế cả. Lễ xong, một vị lão Hòa thượng mở cái chụp đậy bằng vàng ra để cho bốn Hòa thượng cùng với các Trưởng phái đoàn cùng rước bảo tháp có Răng Phật ra cung ngoài, Hòa thượng trụ trì đã cho khoá trái hai cửa nách chùa không cho thập phương vào chiêm bái vội, để cho các vị Phái đoàn Phật giáo cả Tăng lẫn tục được chiêm bái trước và tế nhận riêng hết non tiếng đồng hồ.

Tôi nhận thấy cái Răng Phật đây khác với răng người ta nhiều lắm. Chiều dài chừng độ hai tấc rưỡi ta và to chừng bằng ngón tay chỏ mà tròn, mầu sắc vàng vàng tựa như ngà lâu đời.

Hết giờ chiêm bái của các Phái đoàn, hai cửa nách Phật điện vừa được mở, tôi tưởng chừng như sụp đổ hết với sự chen chúc của thập phương kéo lên chiêm ngưỡng răng Phật, và cứ như thế gần ba tiếng đồng hồ mới ngớt người.

Lại đến quang cảnh đám rước ảnh Phật đêm nay của chùa Răng Phật, 9 giờ hơn mới rước, mà mới 6 giờ chiều, từ cửa chùa ra cho đến hơn một cây số, hai bên đường hàng phố rộng lắm, đều có anh em cảnh binh xếp cho bốn hàng người ngồi bên trong, để đứng ngăn người xem bên ngoài; còn bên ngoài, người đứng như nêm cối, nhưng cả người ngồi người đứng đều rất mực nghiêm chỉnh, kính cẩn, mặc dầu chỗ có cảnh binh hay không; chúng tôi đứng trên gác nhìn xuống ai cũng phải kính phục tinh thần kỷ luật của dân Tích Lan.

Đúng 7 giờ, hàng mấy nghìn ngọn đèn điện bóng ngũ sắc bật thành bảy tầng trước cánh cửa chùa để tượng trưng cho 7 dây đèn “giác” sẽ khai quang cho con đường mê muội của bảy tỉnh.

Một tiếng dậy trời của súng thần công nổi hiệu, đám rước bắt đầu cử hành. Đi trước dẹp đường là một đoàn múa đuốc. Bốn đầu gậy họ đem buộc bốn túm dẻ rồi tẩm dầu đốt lên cháy sáng rực trời. Họ vừa đi vừa theo bài theo điệu trông nhịp nhàng tựa như đám hỏa long múa khai lộ vậy. Nối sau còn có rất nhiều cây đuốc, đi dàn ra hai bên vệ đường, mỗi bên 250 cây. Đuốc không phải bằng đóm mà bằng lồng đan bằng dây thép với một thứ vỏ quả như vỏ dừa khô, đốt cháy đượm lắm mà không có khói khét. Kéo theo sau có 5 xe bò vỏ đó để đốt có thể cung cấp cho 500 cây đuốc khai lộ ấy suốt đêm.

Từ đầu đến cuối đám rước, có tới 60 con voi vừa lớn vừa nhỏ đi làm 20 đoàn, mỗi đoàn 3 con, người ta đem bao nhiêu những đồ may sẵn bằng gấm vóc, và các thứ vải hoa khoác kín cả tòan thân voi, thành ra những đoàn voi bằng gấm vóc biết đi (60 con voi đã được huấn luyện cho nên có đi nhịp nhàng đều lắm) các con voi lớn đi hàng giữa, trên lưng voi có Phật tượng, Phật đình, Phật tháp cho đến các thứ đựng xá lợi và hòm kinh. Các voi con đi hai bên, có con đến bốn người cưỡi trên lưng nó để cầm các thứ cờ quạt, tàn tàn v.v… Tôi còn phải kể cái đẹp của hai con voi gấm hoa điểm thêm các thứ hạt ngọc chân châu, kim kính, chân chỉ, hạt bột, lại có mắc điện riêng trong mình nó để đốt những ngọn đèn điện ngũ sắc cỏn con. Trên lưng nó mang hai cái tháp vàng vẫn để thờ Xá lợi Phật mà chính mắt tôi đã thấy từ chiều. Mỗi đàn voi đi cách nhau chừng 50 thước ta, quãng giữa là đoàn ca nhạc. Đoàn nhiều nhất là 32 người, ít nhất là 16 người, cộng thành 19 đoàn ca nhạc, mỗi đoàn trưởng ăn mặc lối võ sĩ đều cởi trần, trước ngực đều đeo một miếng đều thêu diềm kim kính, vai họ khoác một cái tua như yếm dãi, thêu chân chỉ hạt bột. Dưới ngang lưng lại còn thắt một cái hoa cân sòe ra ba khổ, dài đến đầu gối, cũng đều có thêu mạng, trên đầu đội mũ võ, trong người lại còn đeo nhiều các quả chuông, quả nhạc hai tay đều có cầm nhạc khí, khi họ nhún nhảy múa hát theo điệu bộ đều lắm mà trông có vẻ oai hùng và vui vẻ.

Đám rước đi gần nửa cây số, chỉ có một đoàn múa đuốc, 19 đoàn nhạc sỹ, 20 đoàn voi với 500 cây đuốc đi điểm thêm vẻ huy hòang rực rỡ cho các bức tranh ảnh Phật tôn nghiêm trên mình voi.

Tôi có hỏi Hòa thượng trụ trì chùa Răng Phật rằng: Phí tổn hết bao nhiêu về việc chi tiêu vào đám rước này. Ngài cho biết hết chừng 5000 đồng roupies (2 vạn bạc ta) nhưng thập phương cúng vào cũng đủ.

 

18. TINH THẦN HỌAT ĐỘNG CỦA HỘI ĐẠI BỒ ĐỀ TÍCH LAN

 

Vừa nửa tháng Phái đoàn Phật giáo chúng tôi ở nhà riêng của ông RAJA HEWA là Phó hội trưởng hội Đại Bồ Đề Tích Lan, mới có nhiều dịp được ông ta đưa đi thăm các cơ quan của hội này hiện đương hoạt động. Dưới đây xin kính mời các Phật tử tùy hỉ các việc đại phúc đức của hội Đại Bồ Đề Tích Lan.

1./ CƠ QUAN TRUỀN BÁ. Hội Đại Bồ Đề Tích Lan có một cơ quan truyền bá Phật giáo rất hòan bị tức la tờ Phật giáo tạp chí, mỗi tháng xuất bản 4 kỳ, mỗi kỳ ra được 6000 số. Ngoài tờ Phật giáo tạp chí, mỗi tháng còn xuất bản được nhiều các kinh sách Phật nữa. Trong ban biên tập tòan là các vị văn Tăng tuệ sĩ đảm đương; ông phó Hội trưởng cho biết rằng: “Kinh sách báo chí của hội chúng tôi có nhiều khi phải biếu không, hoặc chỉ lấy đủ tiền in. Thế mà chỉ nhờ vào nhà in riêng của hội chúng tôi mà cơ quan truyền bá đứng vững”. Tôi đã mục kích nhà in này, có tới sáu cái máy lớn, còn các máy nhỏ không kể, các thứ chữ và phụ tùng đầy đủ lắm.

2./ TRƯỜNG HỌC PHẬT. Hội Đại Bồ Đề Tích Lan nhờ có Hòa thượng Sumangala là một Đại Sư sáng lập nên hội này, trước đây Ngài tự xuất tiền riêng để mở một trường học rất quy mô, rất vĩ đại. Mặc dầu Ngài tịch đã lâu, mà trường Phật học vẫn tiến. Trường Phật học này hiện thời có tới 800 học sinh cả Tăng lẫn cư sĩ đủ cả ba bậc, Đại, Trung, Tiểu học, trong trường có cả học sinh Tăng Ấn Độ, Trung Hoa và Diến Điện. Sự ăn ở của học sinh chia làm hai hạng. Hạng ngoại trú, ở ngoài đến buổi vào học, hạng này không phải trả một khỏan tiền gì cho Hội cả. Hai là hạng nội trú, ăn ở luôn trong trường, tuy không phải trả tiền học nhưng phải trả tiền lương ăn.

Giáo sư tòan là chư Tăng có tới 20 vị để đủ dạy cho các lớp. Tiền chi vào việc cung cấp giáo sư và tạp chí mỗi năm hết một vạn roupies tức là linh bốn vạn bạc Đông Dương, được chính phủ Tích Lan trợ cấp mỗi năm 4000 roupies, còn thì công quỹ của hội chịu; học sinh Tăng về hạng nội trú, tuy nói là phải chịu tiền ăn, nhưng thực ra ít khi phải đóng tiền vì các nhà thiện tín đã cắt lượt nhau làm cơm đem đến tại trường cúng.

3./ CƠ QUAN THANH NIÊN PHẬT TỬ. –  Hội Đại Bồ Đề Tích Lan có cơ quan đào tạo thanh niên Phật tử to tát lắm. Mục đích chính là để đào tạo cho các thanh niên nam nữ, có những đức tính thuần túy để sống với cuộc đời có giá trị cho con người. Chương trình huấn luyện trong cơ quan thanh niên Phật tử này có đủ các môn học về Trí, Đức, và Thể dục. Hiện trong đó đã có 1500 thanh niên trí thức.

4./ CƠ QUAN CẤP DƯỠNG CÔ ĐỘC. Hội Đại Bồ Đề Tích Lan đã có tới 3 cơ quan nuôi trẻ mồ côi và ông bà già cả nghèo khổ, không có con cháu, hoặc con cháu nghèo quá. Cả ba cơ quan này đều do bà RAJA HEWA đứng giám đốc.

Các ông bà kém phúc đức được cấp dưỡng trong các cơ quan này, chẳng những chu đáo về ăn ở, mà còn được có những phương tiện để an ủi về tâm hồn nữa. Tôi thấy đầu giường của mỗi bà già đều có lọ cắm hoa, nếu hôm nào không có người cho hoa, các bà ấy sẽ bẻ các cành lá đem vào cắm để niệm Phật. Ôi ! con người ta đã bị suốt đời cặm cụi, gian lao, từ thủa trắng răng đến bạc đầu, để đóng góp với gia đình, với xã hội, thực là trăm cay, nghìn đắng mà chỉ vì kém phúc đức nhân duyên, hoá nên không con không cháu, lại không cửa, không nhà, với cảnh ngộ nghèo cùng, khốn khó, mặc dầu đã hân hạnh có nơi nương tựa. Cơ quan của những tấm lòng thương nòi giống lập ra cho được ấm no về thể xác, nhưng cái ưu phiền vò võ cô đơn ở tâm hồn người ta nó dầy vò, nó cắn rứt, cố nhiên phải có phương pháp chăn nuôi về tâm hồn mới có thể yên ủi được phần nào chăng?

Tôi thấy bà giám đốc nuôi các ông bà già quan quả của hội Phật giáo Tích Lan này thực đã đi sâu vào đến tâm lý của hạng người kém phúc kể trên.

5./ CƠ QUAN NHÀ THƯƠNG. Năm 1912, Hòa thượng DHARMAPALA tự bỏ tiền riêng ra lập cho Hội Bồ Đề TÍch Lan một bệnh viện, nhằm vào mục đích bảo tồn nền y học của Tích Lan. Hòa thượng sáng lập bệnh việc này, có để lại cho Hội một số tiền là 6 vạn roupies để luân lưu sinh tức mà chi dùng cho các khỏan chi phí của nhà thương này. Mỗi tháng phải trả tiền lương y sĩ và mua thuốc v.v…hết số tiền dưới 500 roupies.

Nhà y sĩ nổi danh là ANVEDU, mỗi ngày ông tự đến nhà thương thăm bệnh nhân không lấy tiền. Các bệnh nhân ở nhà thương và ở ngoài đến xin thuốc, không phải trả một khỏan tiền gì.

6./ TRƯỜNG BẢO TRỢ GIÁO DỤC Ở TRONG TỈNH COLOMBO. Đây là một trường thành lập trước nhất; hiện thời là một trường dạy học không lấy tiền, to nhất và kiểu mẫu nhất ở Colombo.

Trường học Rajadiriga. Trường này do ông MUDLIJAR DONGARALISH MAREITARAC, tức là ông thân sinh ra Hòa thượng DHARMAPOLA sáng lập từ năm 1898. Hiện thời do ông RAJAHEWA đứng giám đốc. Trường này hiện thời có tới 1200 học sinh nam nữ, có đủ từ lớp mẫu giáo cho đến trung học. Tất cả có tới 32 giáo sư do chính phủ Tích Lan trả lương. Tiếng Tích Lan là tiếng chính trong việc giảng dạy, còn tiếng Anh chỉ là tiếng phụ. Nhưng học sinh từ 8 tuổi đã phải học Anh văn, vì tiếng Ạnh ngày nay ở các cơ quan hành chánh còn dùng. Học trò đến 16 tuổi, phải qua một kỳ thi lên lớp Cao đẳng.

Còn có nhiều các lớp học chuyên nghiệp cho các trò nghèo. Học trò trai học nghề đắp nặn, nghề mộc, nghề gò, nghề vẽ v.v…; trò gái học nghề thêu, dệt, đan, khâu…

Đã có nhiều học trò nam, nữ làm ra được các đồ rất tinh xảo, giao sang Đại lý công phát hành lấy tiền ăn học.

Mỗi buổi sáng học trò đều phải đọc 5 điều giới của Phật, trước khi khai học.

7./ THUYỀN LỮ VIỆN. Hội Đại Bồ Đề Tích Lan hiện đương làm một viện thuyền lữ, mục đích để cho các Phật tử Tích Lan ở xa lại và các Phật tử thế giới khi tới Tích Lan du lịch sẽ được vào viện này ăn ở. Viện này làm 6 tháng nữa thì được hòan thành. Số tiền kiến trúc viện này theo lời ông Phó Hội trưởng sẽ hết tới 30 triệu roupies tức là linh 120 triệu bạc Đông Dương, tòa nhà này làm xong có thể hết đến số tiền ấy thực; tôi đã đi xem hết lượt, thấy có nhiều buồng, mỗi buồng đều có đủ chỗ cho bốn người ở và có đủ các nơi tắm gội, xuất xử, có cả bếp nấu riêng.

Ông phó Hội trưởng có nói với tôi một câu rất thân mật rằng: “Vị thượng khách đến viện thuyền lữ này trước nhất là Phái đoàn Phật giáo Việt Nam, nên bản Hội sẽ xin dành riêng một phòng lấy tên là “PHÒNG VIỆT NAM”.

Xem tinh thần kiến trúc viện thuyền lữ này, đủ thấy Hội Đại Bồ Đề Tích Lan quý trọng Phật tử thế giới đến nhường nào.

Tôi tin rằng Hội Đại Bồ Đề Tích Lan có thể làm cho Phật giáo bành trướng được.

8./ TỔ CHỨC LẠI CƠ QUAN TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO Ở THỦ ĐÔ ANH. Hôm mùng 8 tháng 6 dương lịch, Hội Đại Bồ Đề Tích Lan, mời các đại biểu Phật giáo của cả 26 nước hội họp tại trụ sở riêng.

Hòa thượng D.V.P.VAJIRANANATHERO, Hội trưởng tường trình rằng: “Trước đây Hội Đại Bồ Đề Tích Lan chúng tôi, có lập một cơ quan truyền bá Phật giáo ở Thủ đô nước Anh, sau vì chiến tranh phải đình trệ hết mọi công việc. Nay xin các Đại biểu Phật giáo thế giới giúp đỡ thực tế để tổ chức lại cơ quan đó”.

Một số Đại biểu Phật giáo thế giới cố nhiên phải có tôi được mời làm ủy viên trong ban tổ chức lại cơ quan truyền bá Phật giáo ở Luân Đôn, do ông phó Hội trưởng Hội Đại Bồ Đề Tích Lan đứng điều khiển các công việc này. Có vài nhân viên của một Phái đoàn khác còn có óc riêng rẽ, nên mới thốt ra câu hỏi tôi về vấn đề này: “Sao chúng ta lại phải giúp cho Hội Đại Bồ Đề Tích Lan bành trướng Phật giáo ở Anh?”

Tôi trả lời: “Đức Phật truyền lại cái nền tảng từ bi, bình đẳng, phận sự của các Phật tử phải lo tính làm sao cho nhân loại xây được lâu đài hòa bình hạnh phúc trên nền tảng đó.

Nay các Phật tử thế giới cùng chung đúc lực lượng để giúp Hội Đại Bồ Đề Tích Lan bành trướng cơ quan truyền bá Phật giáo ở Luân Đôn thế là các Phật tử thế giới đã tiến tới con đường “Vô ngã sở” của Đức Từ phụ. Chúng ta đã biểu lộ được tinh thần đoàn kết, không còn chia rẽ giống nòi để di hại về hậu hoạ cho giữa các dân tộc cũng như giữa nhân loại. Có thể hoạ may sau này mới hướng dẫn nhân loại cùng hòa giải với tình hữu nghị thân mật được. Đến như Phật tử ở nước nào phải làm việc Phật cho lợi lạc dân tộc ấy, thế cũng là theo Phật dạy “báo ân địa”, nghĩa là đền ơn đất nước mình đang nương nhờ để sinh sống mà tu hành.

Nhưng nếu chỉ biết có một phận sự ấy, cố nhiên còn bị giam hãm trong tình thức nhân ngã, trái hẳn với tôn chỉ từ bi quảng đại.

Nói tóm lại, nếu các bậc Tổ sư ngàn xưa, vị nào cũng khư khư giữ quan niệm riêng rẽ ở đâu biết đấy, thì xứ sở của chúng ta ngày nay đã làm gì có Phật giáo?”

 

19. KẾT QUẢ VÀ TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT CỦA HỘI NGHỊ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI

 

Hội nghị Phật giáo thế giới họp tại Colombo kinh đô xứ Tích Lan từ ngày 25/5/1950 đến ngày mùng 8/6/1950 thì bế mạc.

Hội nghị này có Đại biểu Phật giáo của 26 nước trên tòan cầu dự, do Tổng Hội nghị Phật giáo Tích Lan chiêu tập. Ấy là một cuộc họp mặt đầu tiên của Phật tử thế giới trong lịch sử Phật giáo hiện tại.

Mục đích của cuộc Hội nghị:

Theo lời mời của Ủy ban chiêu tập thì cuộc Hội nghị này có mục đích.

  1. a) Các Hội, các tổ chức Phật giáo các nước gặp nhau để trao đổi tin tức về phong trào Phật giáo trên thế giới.
  2. b) Đi đến một tổ chức Phật giáo thế giới có mục đích thống nhất các lực lượng Phật giáo trên hòan cầu.
  3. c) Tìm những phương tiện thiết thực để giúp các Phật tử thế giới, giải quyết những vấn đề quan hệ đến nhân sinh.
  4. d) Để các đại biểu Phật giáo có dịp đi chiêm ngưỡng Xá Lợi Đức Phật THÍCH CA tại tỉnh Kandy và Gandesepura tại Tích Lan là những nơi đã nổi tiếng trên hòan cầu. Vì thế trong chương trình do ban tổ chức thảo ra có các cuộc đi chiêm bái Phật tích.

SỰ ĐÓN TIẾP. – Ủy ban chiêu tập Hội nghị, nhận nhịêm vụ xếp đặt chỗ ăn ở cho các Đại biểu thế giới tại Colombo và các nơi khác ở thủ đô Tích Lan, cả đến các nơi cư trú cho các Phái đoàn Phật giáo ngoại quốc đến chiêm bái. Trong suốt thời kỳ hội nghị họp tại Colombo mỗi phái đoàn được trú ở một gia đình Phật giáo Tích Lan. Các đại biểu Tăng trú ở các chùa riêng. Phái đoàn Phật giáo Việt Nam vì không hiểu tiếng Anh, cần phải có ông PHẠM CHỮ là nhân viên Bộ Ngoại Giao đi với tôi về nhiệm vụ thông ngôn ở chung cho tôi tiện việc giao thiệp. Vì thế ban tổ chức để Phái đoàn Phật giáo Việt Nam cùng trú ở nhà ông RAJAHEWA là Bộ trưởng Bộ Thương Mại trong chính phủ Tích Lan, lại là phó Hội Đại Bồ Đề Tích Lan.

May tôi ở nhà này nên đã khảo sát được nhiều công việc Phật của Hội Maha Bồ Đề Tích Lan, nhất là dây liên lạc giữa Hội ta và Hội Maha Bồ Đề Tích Lan đã được thắt chặt.

Có thể nói sự đón tiếp các Đại biểu Phật giáo ngoại quốc của ban chiêu tập thật là chu đáo, lòng quý khách của dân Tích Lan đã nổi tiếng từ xưa, nay chúng tôi đã được trông thấy tận nơi. Từ Thủ tướng Tích Lan cho đến người dân nghèo, ai ai cũng tỏ ra tấm tình nồng hậu đối với các Đại biểu Phật giáo. Những ngày các Phái đoàn đi chiêm bái các nơi ở hai tỉnh đường xa có tới 600 cây số một lượt thế mà trên dọc đường nhiều nơi căng không biết bao nhiêu biểu ngữ với rợp đường những Quốc kỳ Tích Lan và cờ hiệu Phật giáo mầu ngũ sắc. Tình hình hoan nghênh Hội Phật giáo thế giới này và hết sức giúp đỡ các Đại biểu về mọi phương diện.

Buổi lễ tuyên thệ

Trước ngày khai mạc Hội nghị Phật giáo thế giới, có một lễ tuyên thệ ở ngôi chùa “PHẬT SỈ” tức chùa thờ Răng của Đức Phật Thích Ca. Chùa này cách với Colombo 150 cây số, sáng sớm ngày 25, tất cả các Phái đoàn Phật giáo với hàng vạn giáo hữu đi ô tô từ Colombo đến cùng với chư Tăng, thiện tín tòan tỉnh Kandy cử hành lễ tuyên thệ. Bằng một quyết nghị đọc trước Tam bảo, kế đến các Trưởng phái đoàn ai nấy đều phải có mấy điều phát nguyện riêng, cùng đọc trước Tam bảo và giữa đại chúng.

Buổi khai mạc đầu tiên 5 giờ 26 phút, tại trụ sở cộng cộng to nhất của thủ đô Tích Lan được cử lễ khai mạc, thủ tướng Tích Lan chủ toạ, Ngài thân đọc diễn văn đón chào các Đại biểu Phật giáo thế giới.

Tuy rằng thế, Chính phủ Tích Lan hết sức tránh sự can thiệp vào công việc chính của cuộc hội nghị này, không bao giờ thấy có một Đại biểu ở trong các cuộc bàn cãi. Xem thế đủ biết từ Chính phủ cho đến dân Tích Lan đều có cảm tình tốt đẹp đối với các nước có Phật giáo rất sâu xa.

26 đoàn Đại biểu của các nước có Phật giáo cử đến dự Hội nghị này, thêm vào số Đại biểu chính thức, còn có các Đại biểu bán chính thức, phần nhiều là các nhà vì hâm mộ Phật giáo tự xuất tiền đến dự.

Tuy vậy trong các việc tranh lụân, chỉ có các Đại biểu chính thức mới có thẩm quyền. Các Phái đoàn Phật giáo đi dự Hội nghị này, mỗi đoàn trung bình từ 6 đến 8 người. Phái đoàn Phật giáo Việt Nam ít nhất, vì chỉ có 3 người.

Riêng các nước mà Phật giáo được tôn làm quốc giáo như Xiêm La, Diến Điện, Tích Lan, Bhutan, Tây Tạng, họ rất chú ý đến cuộc hội nghị Phật giáo thế giới này, cử nhiều nhân tài đến dự. Cầm đầu Phái đoàn Phật giáo Diến Điện là một nhà luật học trứ danh, đã dự một phần quan trọng về việc thảo hiến pháp Diến Điện. Cầm đầu Phái đoàn Phật giáo Xiêm La là một Bộ trưởng Thương Mại, Hòang gia Xiêm còn cử thêm một Công chúa đến thay mặt.

Đại biểu Xiêm La, Tích Lan, Diến Điện đoàn kết thành một khối, được coi như có lực lượng hơn hết ở hội nghị. Phái đoàn Phật giáo ở các nước Âu châu hầu như bị yếu thế trong các cuộc bàn cãi.

Một điều nữa cần nhắc đến, sáng 27 bắt đầu khai mạc Hội nghị chính thức tại trụ sở Thanh niên Phật giáo. Ban tổ chức tự cử lấy Chủ tịch, Thư ký buổi họp chứ không do Hội nghị cử, mà Hội nghị cũng yên lặng không ai phản đối. Không những thế, các Đại biểu cứ thi nhau tường trình về tình hình Phật giáo của xứ sở mình cho công chúng biết. Kỳ thực có ai được cử ra để phán đoán  các tờ trình ấy đâu? Phái đoàn Phật giáo Việt Nam thấy Hội nghị thiếu tổ chức, đã hai lần sẽ lời yêu cầu ban tổ chức sửa lại chương trình nghị sự, nhưng không công hiệu. Ban tổ chức có cho tôi biết rằng: “Phần nhiều các Phái đoàn muốn nói cả”. Ban tổ chức cũng có vài lần mời Phái đoàn Việt Nam tường trình. Tôi trả lời: Chủ tịch Hội nghị không do chúng tôi công cử ra thì chúng tôi tường trình với ai? Vả lại có một trăm đại biểu đến dự mà mỗi Đại biểu tường trình hết độ một giờ thì còn thời gian đâu mà bàn cãi vào mục đích chính. Chúng tôi đã phải cùng các đại biểu phát thệ trước đấng Từ bi cao cả để phụng sự tôn chỉ, để lập Hội Phật giáo thế giới. Huống hồ còn một vấn đề quan trọng nữa, là những phương tiện thực tế để giúp đỡ cho các Phật tử thế giới và để giải quyết vấn đề quan hệ của nhân sinh, nó là một điều then chốt của các cuộc Hội nghị này. Chúng tôi từ mấy ngàn dậm đến đây để chơi ư? Dân Việt Nam chúng tôi đương lầm than đau khổ, chúng tôi không được phép đi chơi, thật ra lòng vì Phật giáo thế giới của ban chiêu tập các Ngài quý báu không kể xiết được, chỉ vì thiếu kinh nghiệm nên các Ngài đã vô tình đưa Hội nghị đi vào con đường úng tắc, không có tổ chức. Đáng lẽ ra, trước khi khai mạc Hội nghị lần đầu tiên, ban tổ chức các Ngài sẽ tuyên bố chỉ giữ thường vụ để ứng tiếp các Phái đoàn, các Phật tử, còn phải để Đại hội nghị cử lấy Chủ tịch, Thư ký ra điều khiển, sẽ cùng định chương trình nghị sự. Kế đến bầu các tiểu ban chuyên môn để nghiên cứu các vấn đề rồi mới đến các Phái đoàn tường trình xong thì các tiểu ban nghiên cứu cũng xong, sẽ đem ra Đại hội nghị bàn cãi để duyệt y. Đằng này ban tổ chức các Ngài không thế, các Ngài tự cử người ra điều khiển Hội nghị, để các Trưởng phái đoàn trình bày đã đến hai ngày rồi mà tường trình chưa hết, các tiểu ban chưa bầu. Ngày mai 28/5 chủ nhật nghỉ, lại kế luôn đến bốn ngày đi chiêm bái, khi về còn hai ngày nữa, sao kịp?

Các báo Tích Lan đem câu hỏi tôi nói đó công bố, thành ra dư luận sôi nổi. Lại được thêm các Đại biểu Hội Đại Bồ Đề Ấn Độ, Anh, Mỹ, Pháp, Tích Lan ủng hộ nhiệt liệt, ban tổ chức và cả hội nghị đều đổi thái độ, về cuối buổi họp chiều là bầu luôn 5 tiểu ban, Đại hội nghị còn vừa đi chiêm bái vừa hiệp nhau từng ban một nghiên cứu sẵn sàng, để đem về Hội nghị bàn cãi và duyệt y. Năm tiểu bang nghiên cứu được thành lập:

1/ Tiểu ban dự thảo Hiến chương và Điều lệ Hội Phật giáo thế giới.

2/ Tiểu ban “Thống nhất” và “Đoàn kết” có nhiệm vụ nghiên cứu những phương pháp để thực hiện sự đoàn kết giữa các Phật tử thế giới.

3/ Tiểu ban báo chí tuyên truyền có nhiệm vụ nghiên cứu những phương pháp tuyên truyền đạo Phật.

4/ Tiểu ban “Xã hội” có nhiệm vụ nghiên cứu về Phật giáo tham dự các công việc xã hội.

5/ Tiểu ban “Truyền giáo” nghiên cứu cách tổ chức các Phật tử thế giới đi truyền bá đạo Phật trên khắp hòan cầu.

Tiểu ban thảo Hiến chương cho Hội Phật giáo thế giới.

Tiểu ban này do vị Trưởng Phái đoàn Phật Giáo Miến Điện làm chủ tịch cùng với Phái đoàn Phật giáo Việt Nam, Ông PHẠM CHỮ được tôi ủy nhiệm với các điều đại cương về “Nguyên tắc” và “Hệ thống” tôi đã thảo sẵn để đem ra cùng ban này khởi thảo Hiến chương. Hiến chương thảo xong, đem ra trình Hội nghị bàn cãi và sửa đổi trong ba buổi họp.

Nhưng những điều chính trong Hiến chương do tiểu ban thảo ra đã được tòan thể Hội nghị duyệt y.

Phái đoàn Phật giáo Việt Nam có thể tự hào rằng: Đã đứng đầu phản đối Ban tổ chức lẫn Hội nghị đi sai nguyên tắc, trái lại vẫn được Hội nghị mời vào dự ban thảo Hiến chương và Điều lệ, tức là dự một phần quan trọng trong việc thảo Hiến chương này. Còn các ban dự thảo của bốn tiểu ban kể trên cũng được đưa ra bàn cãi và duyệt y. Khi in xong đều gửi đến các nước có Đại biểu đến họp.

Việc bầu Đại biểu Phật giáo thế giới.

Theo như trong Hiến chương, một đại Hội đồng Phật giáo thế giới trong đó mỗi nước có một Đại biểu, sẽ có quyền tối cao trong các công việc của Hội Phật giáo thế giới ủy nhiệm thi hành trong Phật giáo xứ sở mình và Đại Hội đồng bầu ngay một Chủ tịch, một Tổng thư ký, năm Phó thư ký và một Thủ quỹ, để bắt tay vào làm việc Hội Phật giáo thế giới ở ngay nơi thành lập.

Đây là một đề nghị riêng của tôi về việc đặt trụ sở và bầu ban Tổng Trị Sự với cử Đại biểu.

ĐẶT TRỤ SỞ. Vì xứ Tích Lan có một bầu không khí quang đãng, êm đềm rất thuận tiện cho Phật giáo thế giới, vì Phật giáo chính thức làm quốc giáo của Tích Lan. Vậy thì trụ sở của Hội Phật Giáo Thế Giới tạm thời hãy đặt ở Tích Lan.

BẦU BAN TỔNG TRỊ SỰ. Vì các Phật tử Tích Lan đã có công lớn trong việc chiêu tập hội nghị Phật giáo thế giới, vậy thì ba chức quan trọng như Chủ tịch, Tổng thư ký và Thủ quỹ, khoá đầu đều phải để người Tích Lan đảm nhận, có thế mới liên lạc mật thiết được với nhau trong mọi công việc.

CỬ ĐẠI BIỂU. Mỗi phái đoàn Phật giáo chính thức được cử đến dự Hội nghị, sẽ cử lấy một vị làm Đại biểu trong Đại Hội đồng Phật giáo thế giới. Sau khi cử xong, sẽ đệ trình danh sách lên ban Tổng trị sự.

Đề nghị này của tôi được phần đông các Phái đoàn Phật giáo thế giới tán thành và Hội nghị đã áp dụng thi hành. Cho nên đến khi bầu ba nhân vật của Phật giáo Tích Lan làm Chủ tịch, Tổng thư ký và Thủ quỹ ra đảm nhịêm công việc của Hội Phật giáo thế giới, đều được tòan thể hội nghị hoan hô chuẩn nhận.

Lại còn phải nhắc đến thành phần của Việt, Mên, Lào cử Đại biểu vào dự Đại hội đồng Phật giáo thế giới.

Theo Hiến chương mỗi nước Phật giáo chỉ được cử một Đại biểu vào Đại Hội đồng Phật giáo thế giới. Vì thế mà Hội nghị Phật giáo thế giới họp tại Colombo, Ấn Độ có đến 4 Phái đoàn Trung hoa cũng có 3 Phái đoàn, cũng được cử có một Đại biểu.

Tiểu ban “Thống nhất” đề nghị Việt, Mên, Lào cũng chỉ được có một Đại biểu, để đại diện cho Phật giáo Liên bang Đông Dương. Đề nghị ấy được Đại hội nghị chuẩn y. Hai Phái đoàn Mên, Lào yên lặng.

Phái đoàn Phật giáo Việt Nam do tôi ủy ông PHẠM CHỮ, lên tiếng rằng: Mỗi nước có Phật giáo được cử một Đại biểu là phải. Việt Nam là một nước độc lập, không phải là một nước Liêng bang Đông Dương, Phái đoàn Phật giáo Việt Nam theo HIến chương có quyền cử một Đại biểu đại diện cho Phật giáo Việt Nam vào Đại hội đồng Phật giáo thế giới.

Lời yêu cầu của Việt Nam cũng đã được một số Trưởng Phái đoàn hưởng ứng nhưng vẫn bị thiểu số, những lời bàn đi bàn lại cũng đã sôi nổi, mà vẫn chưa giải quyết xong. Ông PHẠM CHỮ theo ý tôi ra trả lời quyết liệt rằng: Quốc gia Việt Nam đã được độc lập, vậy thì Phật giáo Việt Nam phải được cử riêng một Đại biểu, nếu không được như lời yêu cầu, Phái đoàn chúng tôi xin rút lui, vì rằng 18 triệu dân VIệt Nam theo Phật giáo không bao giờ chịu liệt Việt Nam vào Liên bang Đông Dương.

Mấy câu cương quyết đó, đã chuyển được Đại Hội nghị đều tán thành, để Phái đoàn Việt Nam được cử riêng một Đại biểu vào Đại hội đồng Phật giáo thế giới. Tôi nhân danh Trưởng Phái đoàn Phật giáo VIệt Nam ra đảm nhiệm Đại biểu Phật giáo Việt Nam trong Đại hội đồng Phật giáo thế giới.

Nhưng tôi còn ngỏ ý nếu sau này Phật giáo Việt Nam cử được Đại biểu xứng đáng hơn tôi, thì tôi xin nhường, Đại hội nghị chuẩn y.

Những nỗi khó khăn mà Phái đoàn Phật giáo của chúng tôi đã vượt qua.

1./ Hội nghị bàn cãi bằng tiếng Anh, mà tôi không biết một tiếng Anh nào.

2./ Phái đoàn ít người quá, ngoài ông PHẠM CHỮ ra, trong phái đoàn không còn ai giúp tôi.

3./ Phải thảo Hiến chương và Điều lệ cho tổ chức Phật giáo thế giới mà qua không có sẵn một tài liệu nào cả.

4./ Phải đối phó với nhiều vấn đề gây go như bị liệt vào liên bang Đông Dương.

5./ Đưa Hội nghị ra khỏi con đường úng tắc.

Những phương châm giải thoát các nỗi khó khăn.

1./ Tôi đã đặt đường gây thiện cảm sang Tích Lan, từ ngót một tháng trước bằng cách nhờ ông Thư ký Hội Đại Bồ Đề Ấn gởi bản đề nghị với Phật giáo thế giới cho ban tổ chức xem trước và có kèm cả thư của Hội Đại Bồ Đề Ấn Độ giới thiệu với các cơ quan Phật giáo Tích Lan nữa. Vì thế cho nên khi chúng tôi đến Tích Lan, được ưu đãi đặc biệt, và khi phản đối ban tổ chức mà ban tổ chức vẫn thân mật.

2./ Ý hiệp tâm đầu với nhiều Đại biểu, nhưng mật thiết nhất là Phái đoàn Hội Đại Bồ Đề Ấn Độ, Hội Đại Bồ Đề Tích Lan, Phái đoàn Pháp và Diến Điện.

3./ Tôi còn nhờ có chút kinh nghiệm, nên giữ vững được lập trường chắc chắn, cũng như thái độ cương quyết.

4./ Ông PHẠM CHỮ là thông ngôn của phái đoàn, mặc dầu còn ít tuổi, nhưng ông đã tỏ ra rất thông thạo tiếng Anh, lại linh hoạt về ngoại giao, nên gây được nhiều cảm tình với người ngoại quốc, nhất là ông lại tâm đầu ý hiệp với tôi trong nhiều công việc.

5./ Được ông RAJAHEWAVITARNE là Phó Hội Bồ Đề Tích Lan làm cố vấn cho tôi, nhất là lại được bà RAJAHEWAVITARNE hết sức săn sóc đến sự ăn uống của tôi để giữ sức khỏe.

Hội nghị đã vượt qua những nổi khó khăn và sau lại đạt được những kết quả là vì:

a) Bên ngoài có báo chí Tích Lan đem các lời phản đối Hội nghị của Phái đoàn Việt Nam và Hawai gây dư luận.

b) Bên trong ban tổ chức cũng như các Phái đoàn đọc báo biết dư lụân không hay, liền thay đổi thái độ. Lại có thêm lực lượng của Phái đoàn Ấn Độ, Tích Lan, Anh, Mỹ, Pháp đề nghị, Phái đoàn Việt Nam lại lên tiếng yêu cầu đổi chương trình hội họp.

c) Trưởng Phái đoàn Diến Điện với tôi, tuy không bàn định gì với nhau trước, nhưng vì đều quan tâm về vấn đề giải cứu Đại Hội nghị ra khỏi con đường úng tắc sẽ lại tiến đến kết quả, nên hai chúng tôi đều đã thảo sẵn các điều đại cương về Hiến chương và Điều lệ, cho nên đến khi hai chúng tôi với Đại biểu Ấn Độ được cử vào Tiểu ban dự thảo Hiến chương và Điều lệ chỉ phải họp nhau để trao đổi ý kiến có một vài buổi là đã có Hiến chương với đại cương của Điều lệ mang ra cho Đại Hội nghị bàn cãi. Mặc dầu đã có tới ba buổi bàn cãi sửa đổi, nhưng cũng chỉ sửa đổi về chi tiết là được duyệt y; cả đến bốn Tiểu ban khác cũng cố gắng làm việc cả những ngày đi chiêm bái, nên các vấn đề then chốt đều được giải quyết xong cả.

Hội nghị Phật giáo thế giới họp tại Colombo đã thu được những kết quả tốt đẹp:

1./ Các Trưởng Phái đoàn của 26 nước đã cùng nhau làm lễ tuyên thệ với bản quyết nghị đọc trước Tam bảo để cầu Đức Từ bi chứng minh và biểu dương tinh thần thống nhất với lực lượng đoàn kết.

2./ Đại Hội nghị đã duyệt y bản Hiến chương và các đại cương cho Điều lệ, tức là đã đặt nền móng chắc chắn cho Hội Phật giáo thành lập.

3./ Hội Phật giáo thế giới đã có một ban Tổng Trị Sự với 26 Đại biểu của các nước Phật giáo trên khắp hòan cầu, đều phải phụng sự chung một tôn chỉ, thực hiện tinh thần Phật giáo trên khắp thế giới, giải quyết vấn đề quan trọng của nhân sinh.

KÍNH TẶNG THƯỢNG TỌA TỐ LIÊN
TRƯỞNG PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Quốc tế Cao Tăng hội họp bàn,
Hiến chương Phật giáo để tuyên dương.
Tiếng chuông Đại Việt còn ngân mãi,
Hồi khách SâyLăng vẫn chuyển vang.
Ví đạo Từ bi mà tiến phát,
Thì rầy tục lụy phải tiêu tan.
Người đời nếu giác chân như tính,
Cực lạc tưng bừng cõi thế gian.
VŨ PHƯỢNG MINH

Muốn cứu đời qua bước hiểm sâu,
Thuyền tu, xe pháp, phải đương đầu;
Nhẹ thân tỉnh giác hồi chuông nguyện,
Thẫm vẻ từ bi chiếc áo nâu.
Du lịch bước bay trời bốn cõi,
Tao phùng vai gánh hội năm châu.
Mong sao Quán Sứ đi về tiện.
Mà được thừa nhan hỏi đạo mầu.
Quần Phương Thượng, Hải Hậu, Nam Định.
Ngày 1-1-1951
Nhàn Vân Đình: TRẦN DUY VÔN
đốn phụng

____________

Xem thêm:
Ký sự phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Ấn Độ

References
1 Thạch hồn tỷ với chân thân bất diệt

Xem thêm

HT Tri Thu 2

Thích Thiện Hạnh: Nhân một bài thơ về HT Thích Trí Thủ

NĂM 1937 Hòa thượng Thích Trí Thủ, vâng lệnh Bổn sư là Ngài Viên Thành, …

HT Thich Tri Tinh

Khải Thiên: Tia sáng từ bảo tháp Phù Thi

Bảo tháp Phù Thi | Ảnh: Đăng Huy   Ngài ra đi để lại một công …