Close Menu
Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest YouTube
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc
    Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    • PHẬT HỌC
      • Đức Phật
        • Thánh đản
        • Thành đạo
      • Phật học phổ thông
      • Nghiên cứu
      • Giảng luận
      • Pháp thoại
      • Ứng dụng
      • Trích dẫn Phật pháp
    • KINH – LUẬT – LUẬN
      • Kinh
        • Giới thiệu kinh
        • Giảng giải
      • Luật
        • Luật học
      • Luận
      • Kim Cang thừa
    • PHẬT GIÁO VIỆT NAM
      • Lịch sử
      • Nhân vật
        • Chư Tôn đức
        • Cư sĩ hữu công
        • Tiểu sử
      • Sự kiện
      • Tưởng niệm
    • CHUYÊN ĐỀ
      • Dân tộc
      • Giáo dục
      • Khoa học
      • Xã hội
      • Triết học
      • Biên khảo
      • Phật giáo thế giới
      • Nhìn ra thế giới
      • Chuyên mục khác
    • TUỔI TRẺ
      • Đời sống
      • Hành trang
      • Gia đình Phật tử
    • VĂN HÓA
      • Xuân Vạn Hạnh
      • Quán Thế Âm
      • Kiết hạ
      • Vu Lan
      • Nghi lễ – Phong tục
      • Mỹ thuật – Kiến trúc
      • Âm nhạc
    • VĂN HỌC
      • Văn
      • Thơ
      • Truyện
      • Tùy bút
      • Phê bình
      • Giới thiệu – Điểm sách
    • PHẬT SỰ
      • Tin tức
    • THƯ VIỆN
      • Báo chí
        • Kỷ yếu
        • Tạp chí
        • Tập san
      • Sách
      • Tham luận
      • Luận văn
      • Tư liệu
      • Media
        • Audio – MP3
        • Video Clips
      • Hình ảnh
    • NGOẠI VĂN
      • General Buddhist Studies
      • Buddhism with Youth
      • Buddhist Education
      • Buddhist History
      • Buddhist Culture
      • Buddhist Literature
      • Buddhist Sociology
    Thư viện Phật ViệtThư viện Phật Việt
    Trang chủ » Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 7: Tu Định

    Phật điển phổ thông | Dẫn vào Tuệ Giác Phật: Chương 7: Tu Định

    03/09/2021139 Mins Read
    Dan vao tue giac
    Share
    Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

    Nội dung

    Toggle
    • CHƯƠNG 8
    • TU ĐỊNH
    • THƯỢNG TỌA BỘ
      • Mục đích của thiền định
        • Th.121 Bản tánh của tâm
        • Th.122 Cần thiết tu tâm
      • Các tùy miên cũng như các tiềm năng sáng chói của tâm
        • Th.123 Tâm ngây thơ chẳng phải là hoàn toàn thanh tịnh
        • Th.124 Tâm sáng chói
      • Năm triền cái và các phiền não khác
        • Th.125 Năm triền cái là phiền não khách trần chính
        • Th.126 Các triền cái tổn hại trí tuệ
        • Th.127 Chế ngự năm triền cái
        • Th.128 Duyên khởi của lậu và vô minh
      • Quan trọng của tác ý
        • Th.129 Tác ý sai biệt
        • Th.130 Như lý tác ý trừ tham, sân, si
        • Th.131 Từ diệt bất thiện tầm
      • Chỉ (samatha) và quán (vipassanā)
        • Th.132 Đối trị tham và vô minh
        • Th.133 Định tuệ tương y
      • Niệm công đức Phật, Pháp, Tăng và sự chết
        • Th.134 Niệm Phật, Pháp, Tăng
        • Th.135 Niệm tử
      • Bốn vô lượng tâm: từ, bi, hỷ và xả
        • Th.136 Tu tập từ, bi, hỷ, xả
        • Th.137 Tâm sáng chói và tâm từ
      • Bốn niệm trụ (satipaṭṭhāna): tu quán (vipassanā) và chỉ (samatha)
        • Th.138 Bốn niệm trụ: trực chỉ giải thoát
      • Niệm hơi thở (ānāpāna-sati)
        • Th.139 Niệm hơi thở
      • Thiền, thắng trí và vô sắc định
        • Th.140 Bốn thiền
        • Th.141 Tri, kiến và các thắng trí
        • Th.142 Các định vô sắc và tưởng thọ diệt
    • ĐẠI THỪA
      • Sơ nghiệp tu định
        • M.91     Bước đầu tu định, phù hợp với các cá tính khác nhau
      • Không tham chấp thiền định
        • M.92     Cảnh báo ý tưởng tham chấp định được chứng
      • Tâm quang minh
        • M.93     Tâm sáng rỡ
        • M.94     Phật tánh thanh tịnh
      • Tu tập từ và bi
        • M.95     Tâm từ đối với tất cả chúng sanh
      • Niệm Phật
        • M.96     Thấy Phật A-di-đà và chư Phật trong thiền định
      • Chánh Niệm
        • M.97     Tám quán tưởng
        • M.98     Niệm Thân
      • Chỉ và bốn thiền
        • M.99     Lợi ích của Thiền
        • M.100  Tu tập viễn ly không ly cách mọi người
        • M.101  Tu tập Năm pháp
        • M.102  Tu tập Thiền Chỉ
      • Tu Quán
        • M.103  Tu tập quán sát rõ ràng
        • M.104  Ba Giải thoát môn
        • M.105  Tọa thiền chánh quán thực tướng
      • Thiền (Chan/Zen)
        • M.106  Phương pháp tọa thiền[1]
        • M.107  Tọa Thiền
        • M.108  Nhất hành tam-muội
        • M.109  Định và Tuệ
        • M.110  Tín Tâm Minh
    • KIM CANG THỪA
      • Xả bỏ tán loạn
        • V.55  Ẩn cư lợi lạc
        • V.56  Xả ly thế sự và giá trị độc cư
      • Thiền định
        • V.57   Ba bậc tu thiền
      • Tu đối trị phiền não
        • V.58  Liệt kê các đối trị
        • V.59  Đối trị tham dục: bất tịnh quán
        • V.60  Đối trị sân khuể: từ tâm quán
        • V.61  Đối trị si mê: duyên khởi quán
        • V.62  Đối trị tật đố: tự tha bình đẳng quán
        • V.63  Đối trị ngã mạn: tự tha giao hoán quán
        • V.64  Đối trị nhiều vọng niệm: sổ tức quán
      • Tu bốn vô lượng
        • V.65  Tu xả
        • V.66  Tu từ
        • V.67  Tu bi
        • V.68  Tu hỷ
      • Bốn niệm
        • V.69  Bài ca Bốn niệm
      • Tu tự tánh tâm
        • V.70  Dẫn nhập về Bản giác

    Năm triền cái và các phiền não khác

    Th.125 Năm triền cái là phiền não khách trần chính

    Đoạn này chỉ ra rằng ‘khách trần’ chủ yếu của tâm là năm triền cái.

    Này các tỳ-kheo, có năm thứ tạp nhiễm của vàng, do bị tạp nhiễm mà vàng không mềm dẻo, không dễ uốn, không chói sáng, mà giòn dễ gãy, và không thích hợp để chế biến… sắt… đồng… thiếc… chì… và bạc…

    Cũng vậy, này các tỳ-kheo, có năm tạp nhiễm này của tâm, do bị tạp nhiễm, tâm không mềm dẻo, không dễ uốn, không chói sáng, mà giòn dễ gãy, không chân chánh định tĩnh để  đoạn tận các lậu hoặc. Những gì là năm? Dục tham… sân… hôn trầm và thụy miên… trạo hối… nghi.

    Kilesa Sutta: Saṃyutta-nikāya V.92, dịch Anh P.H.

    Th.126 Các triền cái tổn hại trí tuệ

    Những đoạn này nhấn mạnh rằng những triền cái làm suy yếu trí tuệ, làm cho tâm trí muội lược không thể hiểu biết pháp gì dẫn đến an lạc, pháp gì dẫn đến tuệ giải thoát. Bảy ‘giác chi’ là đối trị phần của chúng (xem kết thúc đoạn *Th.139).

    Này các tỳ-kheo, năm triền cái này khiến cho tối tăm, không có mắt, không có trí, diệt trí tuệ, trợ bạn gây tổn hại, và không dẫn đến Niết-bàn.

    Bảy giác chi này, này các tỳ-kheo, tác thành mắt, tác thành trí, tăng trưởng trí tuệ, không trợ bạn cho tổn hại, và dẫn đến Niết-bàn.

    Nīvaraṇa Sutta: Saṃyutta-nikāya V.97, dịch Anh P.H.

    Khi một tỳ-kheo không đoạn trừ năm chướng ngại triền cái này, vốn trùm kín tâm và làm suy yếu tuệ, với tuệ bất lực và suy yếu thì không thể biết lợi mình là gì, lợi người là gì, lợi cả hai là gì, cũng không thể chứng đắc pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh.

    Āvaraṇā Sutta: Aṅguttara-nikāya III.63–64, dịch Anh P.H.

    Này các tỳ-kheo, ví như một hồ nước trong suốt, tĩnh lặng, không bị khuấy đục, và một người có mắt, đứng trên bờ, người ấy có thể thấy các con sò và ốc, các hòn sỏi và hòn sạn đang nằm dưới đáy, các đàn cá lội qua lại hay đứng yên. Vì sao? Vì nước trong suốt. Cũng vậy, tỳ-kheo với tâm trong sáng có thể biết được lợi mình, lợi người, lợi cả hai, chứng ngộ các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

    Paṇihitācchanna-vagga, sutta 6: Aṅguttara-nikāya I.9, dịch Anh P.H.

    Th.127 Chế ngự năm triền cái

    Đoạn này so sánh những triền cái với năm điều hạn chế tự  do của một người: tham, như món nợ – người ta vay mượn năng lượng từ các đối tượng dục để thỏa mãn những ham muốn thông thường của mình; sân, như bị bệnh, khiến người ta mất thực vị – vì khi giận, không thể hài lòng với cái gì; hôn trầm và thụy miên, như tù ngục – một người bị dính mắc trong thụy miên không thể tự mình chuyên chú và tận hưởng bất cứ điều gì; trạo cử và hối tiếc, như nô lệ – một người bị nô lệ cho các cảm xúc cao thấp chế ngự; và nghi, như du hành qua một vùng hoang mạc – đó là giai đoạn tâm cằn cỗi bởi hoài nghi và do dự. Đình chỉ năm triền cái có thể bằng cách nghe pháp theo thuận thứ (xem đoạn *Th.28) hoặc, như ở đây, bằng tu tập thiền định, cho đến khi tâm chứng nhập các thiền. (xem *Th.140).

    Đoạn trừ tham lam ở đời, an trú với tâm xả ly tham lam, tịnh trừ tâm tham lam. Đoạn trừ sân hận, an trụ với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, tịnh trừ tâm sân hận. Đoạn trừ hôn trầm, thụy miên, an trú xả ly hôn trầm và thụy miên; chánh niệm chánh tri với quang minh tưởng, tịnh trừ tâm hôn trầm, thụy miên. Đoạn trừ trạo cử, hối tiếc, an trụ không trạo cử, nội tâm tịch tĩnh, tịnh trừ tâm trạo cử, hối tiếc. Đoạn trừ nghi, an trụ không nghi, không do dự, tịnh trừ tâm nghi đối với thiện pháp.

    Như một người mắc nợ, nên làm các nghề nghiệp. Khi những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi vợ con, có thể nghĩ: ‘Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp, nhưng nay nghề nghiệp phát đạt…’ Người ấy nhờ vậy được khoái lạc, hoan hỷ.

    Như một người bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng, ăn không thấy ngon, thể lực suy yếu; sau một thời gian, khỏi bệnh, ăn uống thấy ngon, thể lực khôi phục, có thể nghĩ: ‘Ta trước kia bị bệnh…’Người ấy nhờ vậy hoan hỷ, khoái lạc.

    Như một người bị tù ngục, sau một thời gian, khỏi tù ngục, an toàn an lạc, tài sản không bị tổn thất, có thể nghĩ: ‘Ta trước kia bị tù ngục…’ Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

    Như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại, sau một thời gian, thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, được giải thoát, được tự do đi lại, có thể nghĩ: ‘Ta trước kia bị nô lệ…’ nhờ vậy hoan hỷ, khoái lạc.

    Như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua hoang mạc, thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm, sau một thời gian đã qua khỏi sa mạc, đến đầu làng, vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm, có thể nghĩ: ‘Ta trước kia… thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm, nay ta… đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm’. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.

    Như vậy, này Đại vương, tỳ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa được xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như nô lệ, như đường qua hoang mạc. Nhưng khi tỳ-kheo ấy nhận thức được sự diệt tận của năm triền cái nơi mình, cũng như người không mắc nợ, như không bệnh tật, khỏi tù tội, được tự do, đến đất lành yên ổn.

    Sāmañña-phala Sutta: Dīgha-nikāya I.71–73, dịch Anh P.H.

    Th.128 Duyên khởi của lậu và vô minh

    Ô nhiễm sâu nhất của tâm được gọi là lậu (Pāli. āsava, Skt. āśrava): ‘rỉ chảy’, và lên men, tương tợ như một vết loét mưng mủ, hút hết năng lượng của tâm, và đó là một thứ độc hại. Đôi khi được dịch Anh là ‘cankers’ (ung nhọt) hoặc ‘taints’ (vết bẩn) hoặc ‘outflows’ (rò rỉ), nhưng tốt nhất được dịch là ‘intoxicating inclinations’ (xu hướng gây độc hại) – giống như khuynh hướng uống rượu dẫn đến say sưa gây độc hại, khi được tác động. A-la-hán đã giác ngộ thường được định nghĩa là người hoàn toàn không còn các lậu (lậu tận A- la-hán). Chúng là những dòng nước bẩn tuôn bị thấm đẫm bởi ba thứ: dục lậu (cuốn vào tái sanh Dục giới), hữu lậu (cuốn vào tái samh Sắc và Vô sắc giới), và vô minh lậu (dòng nước bẩn vô minh). Đôi khi thêm vào yếu tố thứ tư: tà kiến. Đoạn sau đây xem các lậu hoặc được kết dệt với vô minh, chính lậu duy trì vô minh, và vô minh cũng là một yếu tố lậu trong số các lậu, và vô minh chính nó cũng duy trì các lậu. Các lậu có thể được xem là những tập quán xấu được cắm rễ sâu và cố kết, phải do tuệ thâm sâu mới soi sáng và xua tan bóng tối mà các lậu trưởng dưỡng. Khi ánh sáng của tâm được phơi mở bằng thiền định, người ta phải sử dụng ánh sáng đó để thẩm sát mọi thứ một cách cẩn thận.

    Tập khởi của lậu là tập khởi của vô minh. Diệt tận của lậu hoặc là diệt tận của vô minh.

    Có ba lậu này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Tập khởi của  vô minh là tập khởi của lậu. Diệt tận của vô minh là diệt tận của lậu.

    Sammā-diṭṭhi Sutta: Majjhima-nikāya I.54–55, dịch Anh P.H.

    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23
    Dẫn vào tuệ giác Phật Phật điển phổ thông
    Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
    Previous ArticleTâm Nhiên: Thanh Lương trên đường về cố quận
    Next Article Quảng Dũng: Tổ chức Tuổi trẻ truyền cảm hứng: “SOS Outreach”

    Xem thêm

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Thích Nhuận Châu: Đức Phật đản sanh qua Phật Sở Hành Tán của Mã Minh

    26/05/2026

    Thích Chúc Xuân: Đức Phật ra đời: Thắp sáng An lạc, Bình đẳng và Hòa bình

    21/05/2026
    Add A Comment
    Leave A Reply Cancel Reply

    Bài mới

    Lãng Thanh: Nguyện cầu Phật lực từ bi

    21/06/2026

    Thích Chúc Xuân: Tỉnh thức trước vô thường

    18/06/2026

    GHPGVNTNHK Cáo bạch: Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Thuận viên tịch

    18/06/2026

    Uyên Nguyên: Người đã đi rồi. Núi còn đây…

    15/06/2026

    Đạo Sinh: (LUẬN CÂU-XÁ) Chương 8: Phân biệt định [Phần 27]

    02/06/2026

    Nguyệt san Chánh Pháp số 175 | tháng 6.2026

    02/06/2026

    Huỳnh Kim Quang: Đức Phật ra đời đã mở toang cánh cửa tự do cho con người

    01/06/2026

    Paul Dahlke | Đỗ Kim Thêm dịch: Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta 

    29/05/2026

    Lãng Thanh: Tháng năm hoa tràn đồng

    28/05/2026

    Vĩnh Hảo: Chọn bạn

    28/05/2026
    Mạng xã hội
    • Facebook
    • Twitter
    • Pinterest
    • Instagram
    • YouTube
    • Soundcloud
    Website Phật giáo

    Hội Đồng Hoằng Pháp | GHPGVNTN

    Phật Giáo Úc Châu

    Viên Giác Pagoda

    Quảng Ðức Homepage

    Thư Viện Hoa Sen

    Làng Mai

    Hoa Vô Ưu

    Hương Tích Phật Việt

    Đạo Hy

    Chung Huong Institute

    GÐPTVN Trên Thế Giới

    GÐPT Việt Nam (Quốc nội)

    Sen Trắng | BHD GĐPTVN tại Hoa Kỳ

    Copyright © 2026 | Phật Việt tùng thư
    • Mục đích & Chủ trương
    • Tác giả
    • Liên lạc

    Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.